Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 469/2024/DS-PT

Ngày: 24/5/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Quy

Các Thẩm phán:

  • 1/ Bà Lê Thị Ngọc Hương
  • 2/ Bà Bùi Thị Kim Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Tào Minh Quân – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 277/2024/DSPT ngày 18 tháng 3 năm 2024 về vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 670/2023/DS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1758/2024/QĐ -PT ngày 04 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1942
  2. Địa chỉ: 9 đường P, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

    1. Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1998 (theo Hợp đồng ủy quyền số: 00025605, Quyển số 113/2022TPCC-SCC/HĐGD ngày 11/11/2022 của Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh).
    2. Bà Đào Thị Thu T1, sinh năm 1995 (có mặt)

    Địa chỉ: 5 đường Â, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: E đường C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Người kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
  6. Người kháng cáo: Bà Đỗ Thị T

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 10/11/2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đỗ Thị T có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Tấn P trình bày:

Chồng bà Đỗ Thị T là ông Ngô Tiến H1, sinh năm 1939, chết năm 2006. Căn cứ khởi kiện của bà T là Giấy nhận nợ do bà Nguyễn Thị H viết ngày 21/5/2020, nội dung bà H xác nhận có nợ bà T (tên gọi khác là Bích T2) 215 triệu và hứa từ ngày 15/6/2020 mỗi tháng sẽ trả cho bà T 10 triệu nợ gốc và 2 triệu tiền lãi.

Bà Đỗ Thị T (có tên gọi khác là Bích T2), chồng bà T là ông Ngô Tiến H1, chết năm 2006.

Ngày 19/3/2020, bà Nguyễn Thị H có vay của bà T 215.000.000đ và viết giấy cam kết mỗi tháng sẽ trả lại cho bà T 14.000.000đ, từ tháng 6/2020 trở đi mỗi tháng trả 20.000.000đ. Do tháng 4-5/2020 bà H không trả tiền như cam kết nên bà T yêu cầu bà H viết lại giấy vay tiền và cam kết rõ ngày trả tiền cũng như thỏa thuận lãi. Đến ngày 21/5/2020, bà H viết lại Giấy nhận nợ có nội dung là bà H xác nhận có nợ của bà T là 215.000.000đ, cam kết bắt đầu từ tháng 6/2020, vào ngày 15 hàng tháng bà H sẽ thanh toán cho bà T 12.000.000đ, số tiền này bao gồm 10.000.000đ tiền nợ gốc và 2.000.000đ tiền lãi. Tuy nhiên, từ khi viết giấy nhận nợ đến nay bà H chưa thanh toán cho bà T bất kỳ khoản tiền nào.

Do đó, bà Đỗ Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Buộc bà H trả cho bà T 215.000.000đ đã vay;
  2. Buộc bà H trả cho bà T tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tính đến ngày 15/03/2022 là 43.000.000đ;
  3. Buộc bà H trả cho bà T tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả tạm tính đến ngày 04/12/2023 là 61.924.241đ;
  4. Buộc bà H trả cho bà T tiền lãi trên nợ lãi do chậm trả tiền lãi tính trên nợ gốc là 11.253.068đ;
  5. Buộc bà H trả cho bà T tiền lãi chậm trả do chậm trả tiền nợ gốc theo định kỳ hàng tháng là 19.126.027đ.

Tổng số tiền bà Đỗ Thị T yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả cho bà T tạm tính đến ngày 04/12/2023 là 350.285.336đ, yêu cầu bà H trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không cung cấp bản tự khai và bản trình bày ý kiến cho Tòa án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 670/2023/DS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn – bà Đỗ Thị T.
    1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả 215.000.000đ (Hai trăm mười lăm triệu đồng) theo Giấy nhận nợ ngày 21/5/2020.
    2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận đến ngày 15/3/2022 là 43.000.000đ (Bốn mươi ba triệu đồng).
    3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả tạm tính đến ngày 04/12/2023 là 61.924.241đ (Sáu mươi mốt triệu chín trăm hai mươi bốn ngàn hai trăm bốn mươi mốt đồng).
    4. Không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả tiền lãi trên nợ lãi do chậm trả tiền lãi tính trên nợ gốc là 11.253.068đ (Mười một triệu hai trăm năm mươi ba ngàn không trăm sáu mươi tám đồng).
    5. Không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả tiền lãi chậm trả do chậm trả tiền nợ gốc theo định kỳ hàng tháng là 19.126.027đ (Mười chín triệu một trăm hai mươi sáu ngàn không trăm hai mươi bảy đồng).
  2. Về án phí: Bà Đỗ Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật quy định.

Ngày 18/12/2023, bà Đỗ Thị T có đơn kháng cáo đối với Bản án số 670/2023/DS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 04/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 60/QĐ-VKS-DS đối với Bản án số 670/2023/DS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, không cung cấp bản tự khai hoặc bản trình bày ý kiến cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Sửa bản án sơ thẩm; chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thời hạn kháng cáo và kháng nghị: Ngày 04 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân quận Tân Bình tuyên án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có mặt tại thời điểm tuyên án. Ngày 18 tháng 12 năm 2024, nguyên đơn có đơn kháng cáo; ngày 04 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyết định kháng nghị. Căn cứ khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đơn kháng cáo của đương sự và quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh còn trong thời hạn kháng cáo và kháng nghị theo quy định nên được chấp nhận xem xét.

[1.2] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Bị đơn bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Xét yêu cầu của bà Đỗ Thị T buộc bà Nguyễn Thị H trả cho bà T số tiền gốc là 215.000.000đ đã cho vay, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bà Đỗ Thị T khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà T số tiền bà T cho bà H vay và số tiền lãi phát sinh. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của bà T là Giấy nhận nợ đề ngày 21/5/2020 do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án:

“Hôm nay ngày 21/5/20

Nguyễn Thị H.

Đ/C 51/38/9M Cống Lở P15 TB

Thiếu lại Bác Thủy 215TR

Mỗi tháng gửi Bác 10.TR

Bắt đầu tháng 6 ngày 15

Hàng tháng với 2TR lời

12 Tr

21/5/2020

Hai Trăm mười Năm Triệu ký tên”.

Tại bản sao căn cước công dân số [...] do Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 29/11/2021 thể hiện người được cấp căn cước công dân là bà Đỗ Thị T, sinh ngày 06/4/1942; tại Sổ hộ khẩu số 31100019538 do Công an quận T cấp ngày 05/3/2012 thể hiện bà Đỗ Thị T, tên gọi khác Bích T2, sinh ngày 06/4/1942 là chủ hộ và bản sao Giấy kết hôn ngày 16/4/1965 của Ủy ban hành chính khu Đống Đa thể hiện bà Đỗ Thị T có bí danh Bích Thủy, sinh ngày 06/4/1942. Do đó, có cơ sở xác định bà Đỗ Thị T có tên khác là Bích T2.

Căn cứ quy định tại Khoản 4 Điều 26 Bộ luật Dân sự năm 2015:“4.Cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình”.

Trong giấy nhận nợ có tên Nguyễn Thị H và chữ ký nhưng phía nguyên đơn không chứng minh được chữ ký và thông tin trên giấy nhận nợ có phải của bà H hay không. Tại phiên toà phúc thẩm, phía nguyên đơn cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ khác chứng minh chữ ký trên giấy nhận nợ là của bà Nguyễn Thị H, nguyên đơn thừa nhận, giấy nhận nợ ngày 21/5/2020 là tổng hợp của nhiều khoản vay trước đó bà T cho bà H vay, nhưng nguyên đơn không cung cấp được các chứng cứ thể hiện trước đó có việc bà H vay nợ và bà H đã trả nợ cho bà T (T2), cũng không có người làm chứng cho việc bà T cho bà H vay tiền, không có chứng cứ chứng minh việc bà H có nhận tiền của bà T (T2). Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ bà H nhiều lần nhưng bà H vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến. Do đó, không có cơ sở để xác định giữa bà T và bà H đã xác lập hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015

Từ các căn cứ, phân tích nêu trên không có đủ căn cứ chứng minh cho việc bà Nguyễn Thị H, địa chỉ E C, Phường A, quận T có nợ bà Đỗ Thị T 215.000.000đ, nên yêu cầu của bà T không có căn cứ chấp nhận. Do đó, Toà án nhân dân quận Tân Bình không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T buộc bà H thanh toán cho bà T số tiền 215.000.000đ là có cơ sở.

[2.2] Xét yêu cầu của bà Đỗ Thị T về việc buộc bà H trả tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận đến ngày 15/3/2022 là 43.000.000đ; Yêu cầu trả tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả tạm tính đến ngày 04/12/2023 là 61.924.241đ; Yêu cầu trả tiền lãi trên nợ lãi do chậm trả tiền lãi tính trên nợ gốc là 11.253.068đ và yêu cầu trả tiền lãi chậm trả do chậm trả tiền nợ gốc theo định kỳ hàng tháng là 19.126.027đ. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Như trên đã phân tích tại phần [2.1], bà Đỗ Thị T không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà Nguyễn Thị H có nợ bà T 215.000.000đ, từ đó không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu buộc bà H phải thanh toán cho bà T đối với các khoản lãi phát sinh trên số tiền 215.000.000đ theo yêu cầu của bà T. Toà án nhân dân quận Tân Bình không chấp nhận yêu cầu của bà T về việc buộc bà H phải trả các khoản tiền lãi nêu trên là có cơ sở.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà H thanh toán cho bà T số tiền nợ gốc là 215.000.000 đồng cùng với tiền lãi theo thỏa thuận, Hội đồng xét xử nhận thấy: Như đã nhận định ở trên, không có căn cứ cho rằng bà H có vay tiền của bà T nên không có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ CHí Minh.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu do bà Đỗ Thị T thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Đỗ Thị T.

[1] Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 670/2023/DS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu do bà Đỗ Thị T thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - TAND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP (T/20).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Quy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 469/2024/DS-PT ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 469/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà Đỗ Thị Tỵ và bà Nguyễn Thị Hà
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger