|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------------- |
Bản án số: 469/2024/HS- ST
Ngày 20- 8- 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Năng Thành
Thẩm phán: ông Hoàng Nhật Tân
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đỗ Đức Dục, bà Nguyễn Thị Hải Yến và bà Phạm Thị Hồng Nhung
- Thư ký phiên toà: ông Đỗ Duy Trung- Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thúy Hằng- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 234/2024/TLST- HS ngày 23 tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 383/2024/ QĐXXST- HS ngày 22 tháng 07 năm 2024, đối với:
* Bị cáo Lê Minh N; sinh năm 1987, tại Hà Nội; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: tổ D, phường Đ, H, Hà Nội; nơi ở: Trại giam P1- Bộ C2; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Văn N1 và bà Lê Cẩm T; gia đình có 02 chị em (bị cáo là con thứ nhất); có chồng là Nguyễn Doãn H (sinh năm 1988) và có 01 con (sinh năm 2007); tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: ngày 19/6/2002, Công an thị trấn V (T, Hà Nội) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tội Trộm cắp tài sản theo hình thức Cảnh cáo; ngày 28/8/2002, Ủy ban nhân dân Thành phố H đưa vào T1 giáo dưỡng 12 tháng về hành vi đánh nhau; ngày 28/11/2006, Toà án nhân dân quận Thanh Xuân (Hà Nội) xử phạt 04 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý (đã xoá án tích); ngày 26/8/2022 (Bản án hình sự sơ thẩm số 318/2022/HS- ST), Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 16 năm tù về các tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/10/2021 và đang thi hành án tại Phân trại 2- Trại giam Phú Sơn 4- Bộ Công an cho bị cáo (theo ch) có ông Lương Huy H1 và ông Nguyễn Văn P; các luật sư của Công ty L, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; 0983 893 677; 0973 920 601; ông H1 có mặt.
* Người bị hại: Công ty Trách nhiệm hữu hạn L; đại diện theo pháp luật là ông Bạch Thái T2; sinh năm 1975; địa chỉ: tổ A- Khu tái định cư M, phường M, H, Hà Nội; 088.928.3xxx; vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Nguyễn Văn C; sinh năm 1958; địa chỉ: M, Ngô Thì N2, phường H, H, Hà Nội; 0913 553 625; vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền của ông C là ông Mậu Xuân C1 và bà Nguyễn Thị Khánh H2; theo Giấy ủy quyền lập ngày 10/7/2024 tại Văn phòng C3; đều vắng mặt.
* Người làm chứng:
- - Anh Nguyễn Đức N3; sinh năm 1990; địa chỉ: số B L, phường T, Đ, Hà Nội; 0327 690 940; vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Thị Thu H3; sinh năm 1967; địa chỉ: số A phố L, phường Q, H, Hà Nội; 090.444.0xxx; vắng mặt.
- - Ông Nguyễn Tiến D; sinh năm 1960; địa chỉ: số E, ngõ A, phường Q, H, Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Minh N nảy sinh ý định tìm thuê xe ô tô tự lái rồi bán xe để lấy tiền chi tiêu cá nhan; N lên mạng xã hội Facebook, thuê các đối tượng khác làm giả 01 giấy chứng minh nhân dân số [...] (đứng tên Lê Minh N) và 01 sổ hộ khẩu số [...] (do Lê Minh N làm chủ hộ), với giá là 2.000.000 đồng. Ngày 30/9/2016, N đến Công ty trách nhiệm hữu hạn L (địa chỉ: phường M, H, Hà Nội; gọi tắt là công ty L), gặp anh Nguyễn Văn N4 (nhân viên Công tL), thỏa thuận ký Hợp đồng thuê 01 xe ô tô tự lái (xe Toyota Fortuner, màu sơn trắng, BKS: 30A-721.45), thời hạn thuê là 10 ngày (từ ngày 30/9/2016 đến ngày 09/10/2016) với giá thuê xe là 1.100.000 đồng/ngày; anh N4 yêu cầu để lại giấy tờ tùy thân và đặt cọc 20.000.000 đồng nên N đưa ra 01 Sổ hộ khẩu (giả) số [...], 01 chứng minh thư nhân dân (giả) số [...], 01 bản phô tô công chứng giấy phép lái xe số AT864683 và 20.000.000 đồng; anh N4 đã giao xe cho N và giấy tờ liên quan là Giấy chứng nhận đăng ký xe số 115462 (bản phô tô) có xác nhận của Ngân hàng A về việc xe đang thế chấp tại Ngân hàng và 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 0561824.
N tiếp tục thuê đối tượng khác qua mạng xã hội Facebook, làm giả 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 30A-721.45 mang tên Lê Minh N với giá là 1.000.000 đồng. Nguyệt liên hệ với bạn là Nguyễn Đức N3 để nhờ tìm người mua xe ô tô cũ; do biết bà Nguyễn Thị Thu H3 có người thân làm nghề buôn bán xe ô tô đã qua sử dụng nên N3 đã giới thiệu; N gọi điện thoại cho bà H3 đặt vấn đề bán xe ô tô thì bà H3 hẹn N tối ngày 03/10/2016 đến nhà bà H3..
Khoảng 19 giờ ngày 03/10/2016, N điều khiển xe ô tô (đã thuê của Công ty L) đến thì bà H3 gọi điện cho anh chồng là ông Nguyễn Văn C (kinh doanh xe ô tô) đến xem và thoả thuận mua bán; N cho bà H3 và ông C xem các giấy tờ liên quan gồm: Giấy đăng ký xe ô tô (giả) mang tên Lê Minh N, Chứng minh t và sổ hộ khẩu (phô tô bản làm giả) và Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô. Ông Nguyễn Văn C trả giá là 600.000.000 đồng, trả trước 400.000.000 đồng và còn lại 200.000.000 đồng sẽ trả nốt khi hai bên làm xong thủ tục sang tên. N đồng ý, viết tay 01 Giấy bán xe đề ngày 03/10/2016, nội dung: Lê Minh N bán chiếc xe ô tô Toyota Fortuner, màu sơn trắng, BKS: 30A-721.45 cho ông Nguyễn Văn C với giá là 600.000.000 đồng. Nguyệt ký tên dưới mục “Người bán”. Sau đó, do N nói muốn nhận đủ tiền ngay nên ông C đã đưa cho N 01 Hợp đồng mua bán xe ô tô gồm 02 trang; trang đầu tiên để trắng và không ghi nội dung, N có ký tên vào phần cuối góc trái của trang này; trang thứ hai có cam đoan và xác nhận của hai bên về việc mua bán xe và N ký tên vào dưới mục “Bên bán”. Ông C lập Hợp đồng như vậy để khi ông C bán lại chiếc xe này thì chỉ cần soạn tên người mua, mà bên bán vẫn là Lê Minh N, ông C và N không cần phải làm thủ tục sang tên đối với chiếc xe trên. Sau đó, ông C giao đủ cho N 600.000.000 đồng, N giao lại toàn bộ các giấy tờ giả đứng tên N và giấy kiểm định của xe cho ông C; sau đó, ông C cho ông Nguyễn Tiến D (quan hệ họ hàng) mượn xe để sử dụng hàng ngày.
Ngày 09/10/2016, anh Nguyễn Văn N4 không thấy N trả xe theo theo hợp đồng nên đã gọi điện, N nói là vẫn đang sử dụng xe và xin khất đến ngày 10/10/2016 sẽ trả xe. Sau đó, N không trả xe và cắt liên lạc; ngày 11/10/2016 (bút lục 124- 125), đại diện Công ty L đến Công an quận H tố cáo đối với Lê Minh N. Ngày 11/10/2016 (bút lục 121), Cơ quan điều tra đã ra Thông báo truy tìm vật chứng là chiếc xe ô tô Toyota Fortuner màu sơn trắng (BKS: 30A-721.45); cùng ngày, ông Nguyễn Văn C nhờ bà Nguyễn Thị Thu H3 giao nộp chiếc xe ô tô trên cho Cơ quan điều tra kèm theo các tài liệu (bút lục 158- 164): Giấy bán xe có chữ ký người bán là Lê Minh N, Hợp đồng mua bán xe ô tô có chữ ký tại mục “Bên Bán” là Lê Minh N, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 115462 đứng tên Lê Minh N và Giấy chứng nhận kiểm định.
Tại Kết luận định giá tài sản số 176 ngày 02/11/2016 (bút lục 106) kết luận: 01 xe ô tô Fortune màu trắng, BKS: 30A-721.45 do Việt Nam sản xuất có giá là 950.000.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 5258 ngày 27/02/2017, V- Bộ C2 (bút lục 113) kết luận: Chữ ký và các chữ “Lê Minh N” dưới các mục “Người bán” trên Giấy bán xe đề ngày 03/10/2016, “Bên Bán” trên Hợp đồng mua bán xe ô tô, “Đại diện bên B” trên Hợp đồng thuê tài sản do cùng một người ký, viết ra. Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 115462 ngày 06/7/2015 đứng tên Lê Minh N là chứng nhận đăng ký xe ô tô giả.
Tại Kết luận giám định số 7264 ngày 03/11/2023, Phòng K- Công an Thành phố H (bút lục 119) kết luận: Giấy chứng minh nhân dân số [...] cấp ngày 10/5/2011 đứng tên Lê Minh N là giấy chứng minh nhân dân giả. Con dấu đóng ra hình dấu tròn “CÔNG AN QUẬN CẦU GIẤY- CÔNG AN THÀNH PHỐ HÀ NỘI” trên các mẫu so sánh không đóng ra hình dấu tròn “CÔNG AN QUẬN CẦU GIẤY- C” trên Sổ hộ khẩu số [...], họ và tên chủ hộ Lê Minh N, nơi trường trú: số 4/24/ ngõ A H, phường N, quận C, thành phố Hà Nội. Hình dấu tròn “CÔNG AN QUẬN CẦU GIẤY- C” trên sổ hộ khẩu số [...] không được tạo ra bằng phương pháp đóng dấu trực tiếp. Chữ ký đứng tên Thượng tá Vũ Quý Đ trên sổ hộ khẩu số [...] với chữ ký đứng tên Vũ Quý Đ trên các mẫu so sánh không phải là chữ do cùng một người ký ra.
Tại Kết luận giám định số 7183 ngày 28/12/2016, Phòng K- Công an Thành phố H (bút lục 108) kết luận: Xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortuner, đeo biển kiểm soát 30A- 721.45 gửi giám định, có số khung: RL4YX59G7B9014201 và số máy: 721093 2TR là số nguyên thuỷ.
Quá trình điều tra: Lê Minh N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, khai nhận đã thực hiện một mình mà không bàn bạc hoặc giúp sức từ đối tượng khác, đã sử dụng 600.000.000 đồng nhận từ ông Nguyễn Văn C để chi tiêu cá nhân hết, không nhớ cụ thể đã chi tiêu vào việc gì nhưng chủ yếu sử dụng cho sinh hoạt hàng ngày của N.
Đối với Nguyễn Đức N3: Tại Cơ quan điều tra, N3 khai nhận có quen bà Nguyễn Thị Thu H3 và biết bà H3 có người thân làm nghề kinh doanh xe ô tô đã qua sử dụng; khi N nhờ giới thiệu người mua xe thì N3 đã giới thiệu bà H3 và cung cấp số điện thoại để các bên chủ động liên lạc. N3 không biết N đã thuê xe rồi làm giả giấy đăng ký xe ô tô, không biết việc thoả thuận mua bán xe như thế nào và không được hưởng lợi từ việc này. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý đối với Nguyễn Đức N3.
Đối với các đối tượng làm tài liệu giả: Do Lê Minh N khai nhận không biết đối tượng làm giả tài liệu vì chỉ liên lạc qua mạng xã hội Facebook rồi nhận tài liệu giả qua hình thức giao hàng thu tiền; do thời gian đã lâu, N thay đổi nhiều chỗ ở, nhiều tài khoản Facebook nên không xác định được tài khoản Facebook mà N đã sử dụng và tài khoản Facebook của đối tượng làm tài liệu giả. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đủ cơ sở xác định thông tin đối tượng làm tài liệu giả để xử lý theo quy định.
Đối với chiếc xe ô tô Toyota Fortuner (BKS: 30A-721.45): kết quả xác minh xác định xe thuộc sở hữu của anh Bạch Thái T2 (Giám đốc Công ty TNHH L) nên ngày 07/11/2023 (bút lục 143- 147), Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng và trả lại xe ô tô, Giấy tờ kèm theo cho chủ sở hữu là anh Bạch Thái T2; Công ty L và anh Bạch Thái T2 không có yêu cầu gì khác về dân sự.
Ông Nguyễn Văn C yêu cầu Lê Minh N phải hoàn trả số tienf ông C đã giao cho N là 600.000.000 đồng và khoản lãi suất kèm theo của số tiền này trong thời hạn 07 năm là 150.000.000 đồng.
* Tại Cáo trạng số 207/CT-VKS-P3 ngày 15/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố Lê Minh N về các tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
- - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội luận tội đối với bị cáo Lê Minh N tại phiên tòa sơ thẩm, giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b khoản 3 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 55 và 56 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Minh N từ 12 năm đến 13 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, từ 03 năm đến 04 năm tù về tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội từ 15 năm đến 17 năm tù;
- + Tổng hợp với hình phạt 16 năm tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 318/2022/HS- ST của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, buộc bị cáo Lê Minh N phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 Bản án là 30 năm tù;
- + Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Minh N.
- + Người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì khác nên không xem xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
- + Buộc bị cáo phải trả lại ông Nguyễn Văn C 600.000.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- - Những người bào chữa cho bị cáo Lê Minh N (không tranh luận về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo) đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về việc bị cáo N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt đã thu hồi và trả lại cho người bị hại, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế và gia đình khó khăn để giảm nhẹ, xử phạt bị cáo Lê Minh N mức hình phạt thấp hơn quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan điều tra- Công an Thành phố H và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác nhận: các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đại diện hợp pháp của người bị hại, đương sự, đại diện theo ủy quyền của đương sự và những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm mặc dù đã được triệu tập hợp lệ; xét thấy những người này đều đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc họ vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử và kết án đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội, quyết định tiến hành phiên tòa xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 292 và 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Lời khai nhận của bị cáo Lê Minh N tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của đại diện hợp pháp của người bị hại, đương sự và những người làm chứng, phù hợp các vật chứng đã thu giữ, các kết luận giám định, định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án- Đủ cơ sở kết luận: Tháng 09 năm 2016 (trên địa bàn Thành phố Hà Nội), Lê Minh N đã thuê người khác (thông qua mạng xã hội Facebook) làm giả Giấy chứng minh nhân dân và Sổ hộ khẩu đứng tên Lê Minh N rồi sử dụng các tài liệu giả này để thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota F (Biển kiểm soát: 30A-721.45) có trị giá là 950.000.000 đồng của Công ty trách nhiệm hữu hạn L; sau đó, N tiếp tục thuê đối tượng khác (qua Facebook) làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đứng tên mình rồi N bán chiếc xe này cho ông Nguyễn Văn C với giá là 600.000.000 đồng; hành vi của Lê Minh N đã phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo Lê Minh N về tội danh Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Cáo trạng đã truy tố bị cáo Lê Minh N về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” là chưa phù hợp các tình tiết khách quan của vụ án, bởi lẽ: bị cáo N đã thuê đối tượng khác làm tài liệu giả rồi bị cáo sử dụng tài liệu giả này để thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Vì vậy, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Minh N phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 3 điều 341 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Minh N thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân, ăn năn hối cải, xin lỗi người bị hại và đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
[3.1] Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên.”
[3.2] Điều 341 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
b) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;”
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Minh N là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm trật tự quản lý hành chính, xâm phạm sự hoạt động bình thường và uy tín của cơ quan Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây tâm lý hoang mang, bất bình trong dư luận nhân dân nên cần xử phạt nghiêm minh để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[4.1] Bị cáo Lê Minh N phạm tội độc lập và không có đồng phạm, không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo N “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đánh giá về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Lê Minh N, Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội trình bày tại phiên tòa về điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo N về mỗi tội danh, quyết định tổng hợp hình phạt đối với bị cáo về nhiều tội và nhiều Bản án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 55 và khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự.
[4.2] Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung; xét bị cáo có hoàn cảnh kinh tế và gia đình khó khăn, gặp nhiều trở ngại trong công tác thi hành án dân sự nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lê Minh N.
[5] Đối với đối tượng Nguyễn Đức N3: kết quả điều tra xác định N3 có quen bà Nguyễn Thị Thu H3 và biết bà H3 có người thân làm nghề kinh doanh xe ô tô đã qua sử dụng; khi bị cáo N nhờ giới thiệu người mua xe thì N3 đã giới thiệu bà H3 và cung cấp số điện thoại để các bên chủ động liên lạc với nhau; N3 không biết gì về hành vi phạm tội của bị cáo N và không hưởng lợi gì; vì vậy, Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý đối với Nguyễn Đức Nghĩa 1 có căn cứ, đúng pháp luật; Cáo trạng không truy tố nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Kết quả xác minh của Cơ quan điều tra không làm rõ được các đối tượng làm tài liệu giả do bị cáo Lê Minh N và các đối tượng này chỉ liên lạc qua mạng xã hội Facebook và không làm rõ được các tài khoản Facebook có liên quan; vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với các đối tượng làm tài liệu giả là có căn cứ; Cáo trạng không truy tố nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Bị cáo Lê Minh N đã chiếm đoạt tài sản là chiếc xe ô tô trị giá 950.000.000 đồng của người bị hại, tài sản đã được thu hồi và trả lại chủ sở hữu; đại diện hợp pháp của Công ty Trách nhiệm hữu hạn L đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường bổ sung nên Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm bồi thường trong vụ án.
[7.1] Bị cáo Lê Minh N bán tài sản chiếm đoạt là chiếc xe ô tô cho đương sự Nguyễn Văn C để nhận 600.000.000 đồng nên bị cáo phải hoàn trả cho ông C 600.000.000 đồng nêu trên theo khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và các Điều 579, 580 Bộ luật Dân sự. Ngoài ra, ông C còn có yêu cầu bị cáo phải bồi thường 150.000.000 đồng là khoản lãi suất trong thời hạn 07 năm; xét thấy yêu cầu này của ông C chưa đủ căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét; ông C có quyền khởi kiện vụ án dân sự khác đối với bị cáo N theo quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự trên cơ sở nộp đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ chứng minh.
[7.2] Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án dân sự, Hội đồng xét xử xác định: Người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại các Điều 2, 6, 7, 9 và 30 Luật thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự về nghĩa vụ trả tiền phải trả lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo các Điều 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[8] Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng là chiếc xe ô tô do bị cáo đã chiếm đoạt và bàn giao trả lại tài sản cho người bị hại; Cơ quan điều tra còn thu giữ các vật chứng khác là tài liệu giả và các giấy tờ có liên quan, được sử dụng để chứng minh tội phạm và giải quyết vụ án, đã được lưu giữ, đánh số bút lục và trở thành bộ phận cấu thành trong hồ sơ vụ án; vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét xử lý vật chứng trong vụ án.
[9] Bị cáo Lê Minh N phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại các điểm a và c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết về án phí; bị cáo, người bị hại và đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Minh N phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b khoản 3 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 1 Điều 56 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Minh N 12 (mười hai) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, 03 (ba) năm tù về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Minh N phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 15 (mười lăm) năm tù.
Tổng hợp với hình phạt 16 (mười sáu) năm tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 318/2022/HS- ST ngày 26/8/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, buộc bị cáo Lê Minh N phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 Bản án là 30 (ba mươi) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/10/2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Minh N.
2. Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các Điều 579 và 580 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Lê Minh N phải hoàn trả cho ông Nguyễn Văn C là 600.000.000 đồng.
Trong trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Kể từ ngày Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các điểm a và c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lê Minh N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 28.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
4. Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Bị cáo Lê Minh N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- - Đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- - Đương sự Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo phần Bản án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM NĂNG THÀNH |
Bản án số 469/2024/HS- ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 469/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Minh N
