TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 469/2025/DS-PT Ngày: 27 - 11 – 2025 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế
Ông Trần Minh Tân
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Nhỏ - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 348/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 243/2025/DS-ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 414/2025/QĐXX-PT ngày 23 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Bùi Phấn K, sinh năm 1968; địa chỉ cư trú: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, nay là ấp K, xã K, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1971; địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn:
- Bà Đoàn Thị D, sinh năm 1953; địa chỉ cư trú: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, nay là ấp K, xã K, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Ông Bùi Văn D1, sinh năm 1950 (đã chết)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Bùi Văn D1:
- Ông Bùi Tấn L, sinh năm 1974; địa chỉ cư trú: Khóm N, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, nay là Khóm N, phường H, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Ông Bùi Văn L1, sinh năm 1976 (có mặt);
- Bà Bùi Xuân L2, sinh năm 1980 (có đơn xin vắng mặt ngày 22/11/2025);
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, nay là Ấp K, xã K, tỉnh Cà Mau.
2.4. Bà Bùi Ái N, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, nay là Ấp A xã A, Thành phố Cần Thơ (có đơn xin vắng mặt ngày 18/11/2025).
Người kháng cáo: Ông Bùi Phấn K – nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo trình bày của nguyên đơn:
Phần đất tranh chấp có nguồn gốc do cha mẹ là ông Bùi Công K1 và bà Lý Kim H cho ôngBùi Phấn Khởi khoảng năm 1988, diện tích 42.700m², tọa lạc tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Năm 1995, ông K được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 031589 gồm các thửa 127, 128, 369, tờ bản đồ số 12, tổng diện tích 42.700m², sử dụng ổn định, không thế chấp. Phần đất liền kề thuộc ông Bùi Văn D1 và bà Đoàn Thị D. Ông K cho rằng ông D1, bà D lấn chiếm 4.660m² đất qua ba đoạn liên tiếp (đất vườn và đất ruộng), theo đo đạc thực tế là 3.617,8m². Ông K nhiều lần yêu cầu trả lại đất, UBND xã K hòa giải ngày 10/5/2023 không thành. Do ông D1 đã chết, ông K yêu cầu buộc bà Đoàn Thị D và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông D1 trả lại phần đất diện tích 3.617,8m² đất tranh chấp nêu trên.
Theo trình bày của bị đơn bà Đoàn Thị D:
Nguồn gốc đất do ông Nguyễn Phước K2 (cha nuôi của ông D1) cho vợ chồng ông D1, bà D từ trước năm 1980, đã được cấp 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Bùi Văn D1, bà Đoàn Thị D gồm: Giấy chứng nhận số AN 254116, diện tích 3.941,4m² (đất ở và đất trồng cây lâu năm, thửa 61, tờ bản đồ số 9); Giấy chứng nhận số AN 254117, diện tích 19.267,6m² (đất trồng lúa, thửa 68, tờ bản đồ số 9). Gia đình bà sử dụng ổn định hơn 43 năm, có bờ bao, hàng dừa trồng từ trước, ranh giới được xác lập rõ ràng, không tranh chấp. Bà D khẳng định không lấn chiếm đất ông K, ngược lại ông K mới có hành vi lấn sang phần bờ của bà, nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Tấn L trình bày:
Phần đất tranh chấp thuộc quyền quản lý của cha mẹ ông, nguồn gốc từ ông Nguyễn Phước K2 để lại, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2009. Gia đình sử dụng ổn định hơn 40 năm, có cho em là bà Bùi Thị L3 cất nhà kiên cố trên phần đất này từ năm 2001, đến nay còn nền và cột bê tông. Gia đình ông không có hành vi lấn chiếm đất nên không chấp nhận yêu cầu của ông K. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có thế chấp vay Ngân hàng hay tổ chức tín dụng nào.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị L3 trình bày:
Bà L3 được cha mẹ cho phần đất cất nhà cấp 4 năm 2001, kết cấu bê tông cốt thép, nền gạch men, sinh sống ổn định nhiều năm. Năm 2023 do đi làm xa nên tháo dỡ mái nhà, phần nền vẫn còn. Bà không yêu cầu thẩm định giá, trường hợp Tòa án giải quyết đất của ai thì tự xử lý, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông K.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn L1: Thống nhất với bà D, ông L và bà L3, đề nghị giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất. Bà Bùi Ái N vắng mặt không có ý kiến trình bày.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 243/2025/DS-ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau) áp dụng các điều 26, 31, 37, 135, 236 Luật Đất đai quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Phấn K về việc buộc bà Đoàn Thị D và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Bùi Văn D1 giao trả phần đất tranh chấp diện tích 3.617,8m², toạ lạc tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (có bản vẽ trích đo hiện trạng kèm theo).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 11/7/2025, ông Bùi Phấn K kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, buộc bà Đoàn Thị D và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Bùi Văn D1 giao trả cho ông phần đất tranh chấp có diện tích 3.617,8m².
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Người đại diện của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Đề nghị buộc bị đơn trả lại diện tích đất lấn chiếm.
Bị đơn và những người liên quan xác định không lấn chiếm đất của nguyên đơn, yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng quy định của pháp luật tố tụng; các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Phấn K; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 243/2025/DS-ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Phần đất tranh chấp theo kết quả đo đạc thực tế được các bên đương sự thống nhất thể hiện tại Bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 25/10/2023 và Bản vẽ trích đo hiện trạng bổ sung ngày 29/5/2025 của Công ty TNHH MTV T2 có diện tích 3.617,8m², tọa lạc tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp K, xã K, tỉnh Cà Mau) nằm liền kề giữa hai phần đất của nguyên đơn và bị đơn.
[2] Theo nguyên đơn nguồn gốc đất là của cha mẹ là ông Bùi Công K1 và bà Lý Kim H cho ông Bùi Phấn K sử dụng từ năm 1988, quá trình sử dụng ổn định, không chuyển nhượng, không thế chấp. Ông K cho rằng bị đơn lấn chiếm tổng cộng khoảng 4.660m² qua ba đoạn đất liền kề, theo đo đạc thực tế là 3.617,8m², nên yêu cầu trả lại diện tích lấn chiếm theo đo đạc thực tế. Bị đơn xác định đất tranh chấp do cha nuôi của chồng là ông Nguyễn Phước K2 để lại từ trước năm 1980; gia đình bị đơn quản lý, sử dụng liên tục hơn 43 năm, có bờ bao, hàng dừa và công trình xây dựng là nhà ở của Bùi Thị L3 nên không có lấn chiếm đất của nguyên đơn.
[3] Xét thấy, tại phiên tòa sơ thẩm, ông K thừa nhận bờ ranh hiện hữu do ông Bùi Văn D1 đào từ năm 1978, hai bên sử dụng đất ổn định theo ranh đó. Phần đất tranh chấp từ trước đến nay do bên bị đơn quản lý, sử dụng, trên phần đất tranh chấp có nhà ở kiên cố của bà Bùi Thị L3 (con ông D1, bà D) xây dựng từ lâu, ông không có ý kiến phản đối trong quá trình sử dụng, vì không biết phần đất tranh chấp là của ông. Ngoài ra, theo bản vẽ hiện trạng của Công ty TNHH MTV T2 thể hiện phần đất tranh chấp nằm trong ranh theo bản đồ vị trí cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Bùi Văn D1 và bà Đoàn Thị D. Những tài liệu, chứng cứ nêu trên thể hiện phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế thuộc phạm vi ranh giới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn, đã được gia đình bị đơn quản lý, sử dụng thực tế, công khai, liên tục trong thời gian dài, không phát sinh tranh chấp. Ranh giới đất sử dụng giữa hai bên nguyên đơn, bị đơn đã được xác lập và duy trì ổn định theo hiện trạng thực tế. Khi ông Khởi phát H1 diện tích đất của mình bị thiếu so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp mới phát sinh tranh chấp cho rằng phía bị đơn lấn chiếm đất của ông. Từ các chứng cứ nguồn gốc, giấy tờ, quá trình quản lý sử dụng đất như nêu trên, có cơ sở xác định bị đơn không có hành vi lấn chiếm đất của nguyên đơn. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[4] Giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn cung cấp 02 Tờ tường trình của ông Chung Thanh T1 ngày 14/7/2025 và ông Bùi Xuân L4 ngày 03/11/2025 thể hiện vị trí ranh đất giữa ông K với bà D có trồng cây xà cừ làm ranh, nên đất tranh chấp thuộc diện tích đất của ông K quản lý, sử dụng. Xét trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp từ hòa giải tại địa phương đến xét xử sơ thẩm và tại nội dung đơn kháng cáo ông K đều không trình bày được vị trí địa điểm mốc ranh giới thửa đất có trồng cây xà cừ như tường trình của ông T1, ông L4. Do đó, tường trình của ông T1, ông L4 chưa đủ cơ sở để xác định đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông K. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông K cho rằng Bản vẽ trích đo hiện trạng đất tranh chấp không đúng vị trí, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D1 không đúng thực tế. Xét tại cấp sơ thẩm các đương sự là người trực tiếp xác định vị trí, mốc giới để đo vẽ và thống nhất diện tích đất tranh chấp 3.617,8m² theo bản vẽ trích đo hiện trạng. Giấy chứng nhạ quyền sử dụng đất của ông D1, bà D là do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đúng trình tự, thủ tục quy định. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn nêu tại phiên tòa. Ngoài ra, nguyên đơn kháng cáo không bổ sung được tài liệu, chứng cứ nào mới so với hồ sơ do cấp sơ thẩm thu thập, nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Phấn K, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử đối với các đương sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa.
[5] Về án phí: Do không chấp nhận kháng cáo nên ông Bùi Phấn K phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi Phấn K; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 243/2025/DS-ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau).
- Căn cứ các điều 26, 31, 37, 135 và 236 của Luật đất đai;
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Phấn K về việc buộc bà Đoàn Thị D và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Bùi Văn D1 giao trả phần đất tranh chấp có diện tích 3.617,8m², toạ lạc tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (theo Bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 25/10/2023 của Công ty TNHH MTV T2).
- Căn cứ các điều 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Bùi Phấn K phải chịu 300.000 đồng. Ngày 14/7/2025 ông K đã dự nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng tại biên lai thu số 0011316 của Thi hành án dân tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Trọng Nhân |
Bản án số 469/2025/DS-PT ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 469/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm; tranh chấp ranh giới đất
