|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 469/2024/HC-PT Ngày: 29/5/2024 V/v: Khiếu kiện HVHC và QĐHC về QLNN trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, GPMB, tái định cư |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn
Các Thẩm phán: 1/ Ông Ngô Đức Thọ
2/ Bà Trần Thị Thúy Hồng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Cao Minh Trí, Kiểm sát viên cao
cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hành chính phúc thẩm, thụ lý số 126/2024/TLPT-HC ngày 26 tháng 02 năm 2024, về việc: “Khiếu kiện hành vi hành chính và quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, GPMB, tái định cư”, giữa các bên đương sự:
Người khởi kiện: Bà Phan Thị H, sinh năm 1960; Địa chỉ: Khu phố I, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Chí N, sinh năm 1986; Địa chỉ: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Địa chỉ: D đường C, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Quang H1, Chủ tịch UBND thành phố P. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Lê Quốc T, Phó Chủ tịch UBND thành phố P (Có đơn xin vắng mặt). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: Ông Trần Quang L, Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Lê Quốc T, Phó Chủ tịch UBND thành phố P (Có đơn xin vắng mặt). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trần Quang L, Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P (Có mặt).
2/ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh N1, Phó Chủ tịch UBND tỉnh K; Địa chỉ: F N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Chủ tịch UBND tỉnh K: Ông Quách Văn T1, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K.
Người kháng cáo: Ủy ban nhân dân thành phố P, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn và lời khai của phía người khởi kiện trình bày:
N2 vào năm 1997 bà có khai khẩn một thửa đất có diện tích 28.707,5m² tại ấp Đ, xã D, huyện P, tỉnh Kiên Giang mục đích sử dụng trồng hoa màu, tràm và cây lâu năm.
Đến ngày 14/3/2016, UBND huyện P ban hành Quyết định số 924/QĐ-UBND thu hồi diện tích 28.707,5m² của bà H, do phần đất này nằm trong dự án Khu du lịch Nam Bãi Trường do Công ty TNHH B đầu tư tại xã D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.
Nhưng sau đó UBND thành phố P không bồi thường cho bà, bà có khiếu nại và được mời giải quyết lần đầu vào ngày 03/8/2017, tại buổi làm việc này chỉ ghi nhận ý kiến của bà tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện P, sau đó thì bà về chờ ngày đối thoại trực tiếp với UBND huyện P.
Đợi mãi không thấy UBND huyện P mời làm việc đối thoại, bà làm đơn gửi tiếp đến Thanh tra Chính phủ vào năm 2020, năm 2022 bà tiếp tục gửi đơn đến Ủy ban Phú Quốc nhưng vẫn chưa giải quyết.
Việc làm này của UBND thành phố P gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích họp pháp của bà, vì quyền sử dụng đất của bà là hợp pháp, được khai hoang từ năm 1997, sử dụng liên tục đến thời điểm bị thu hồi, không ai tranh chấp, việc UBND thành phố P thu hồi đất quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho bà là không phù hợp pháp luật.
Từ nội dung trên, bà làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xem xét giải quyết những vấn đề sau: Buộc UBND thành phố Phú Quốc ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ quyền sử dụng đất đối với Quyết định thu hồi đất số 924/QĐ-UBND do UBND huyện P ban hành ngày 14/03/2016 (nay là thành phố P), về việc thu hồi đất đối với Ông (bà) Phan Thị H để thực hiện dự án khu du lịch N do Công ty TNHH B đầu tư tại xã D, huyện P, tỉnh Kiên Giang, phần đất có diện tích 28.707,5m² tọa lạc tại ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Đồng thời bà H khởi kiện bổ sung yêu cầu hủy Quyết định số 4733/QĐ-UBND ngày 03/10/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P về việc giải quyết khiếu nại của bà H và Quyết định số 592/QĐ-UBND ngày 26/3/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K về việc giải quyết khiếu nại của bà H. Do 02 Quyết định giải quyết này không đúng quy định về trình tự thủ tục và nội dung giải quyết không phù hợp pháp luật.
Theo văn bản và lời khai của phía người bị kiện trình bày:
Căn cứ vào Điều 116 Luật tố tụng hành chính, xác định nội dung khởi kiện buộc Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ cho bà Phan Thị H quyền sử dụng đất đối với Quyết định số 924/QĐ-UBND ngày 14/3/2016 của UBND huyện P (nay là thành phố P) về việc thu hồi đất diện tích 28.707,5m² đối với bà Phan Thị H là đã hết thời hiệu khởi kiện, với lý do sau:
Ngày 14/3/2016, UBND huyện P (nay là thành phố P) ban hành Quyết định số 924/QĐ-UBND về việc thu hồi đất đối với bà Phan Thị H diện tích 28.707,5m² để thực hiện dự án Khu D do Công ty TNHH B đầu tư.
Đến ngày 21/3/2016, cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện (nay là thành phố) Phú Quốc phối hợp cùng UBND xã D tiến hành triển khai Quyết định 924/QĐ-UBND ngày 14/3/2016 của UBND huyện P (nay là thành phố P) cho bà Phan Thị H.
Tại buổi triển khai Quyết định trên, bà H đã ký nhận Quyết định, đồng thời bà H cũng trình bày nội dung không đồng ý với Quyết định và nội dung liên quan đến việc UBND huyện (nay là thành phố) Phú Quốc không thống nhất bồi thường về quyền sử dụng đất diện tích 28.707,5m² nêu trên (có cung cấp biên bản kèm theo).
Đến ngày 20/11/2022, bà Phan Thị H ký đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang với nội dung: Buộc Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ quyền sử dụng đất đối với Quyết định số 924/QĐ-UBND ngày 14/3/2016 của UBND huyện P (nay là thành phố P) về việc thu hồi đất diện tích 28.707,5m² cho bà Hoàng liên q đến việc UBND thành phố không thống nhất lập phương án bồi thường quyền sử dụng đất diện tích 28.707,5m² của bà Phan Thị H, như sau:
Ngày 08/6/2010, UBND huyện P ban hành Quyết định số 1409/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Khu D đối với bà Phan Thị H, theo Quyết định trên UBND huyện P chỉ xem xét hỗ trợ quyền sử dụng đất cho bà H với số tiền 188.214.000đồng; hỗ trợ vật kiến trúc với số tiền 9.643.200đồng và hỗ trợ hoa màu với số tiền 12.660.000đồng (hiện nay bà H vẫn chưa nhận số tiền hỗ trợ nêu trên). Lý do UBND huyện P không thống nhất bồi thường quyền sử dụng đất cho bà H, vì nguồn gốc đất trên do bà H chiếm đất của Ban Q (nay thuộc Vườn Quốc gia P) vào năm 2002, đến năm 2004 thì bà H bị cơ quan chức năng lập biên bản vi phạm hành chính đối với hành vi cất nhà trong rừng trái phép với diện tích 28m². Sau khi bị lập biên bản vi phạm hành chính, đến khoảng năm 2005-2006 bà H bắt đầu phát dọn cây rừng tự nhiên và trồng cây lâu năm cho đến khi nhà nước quy hoạch dự án.
Sau khi UBND huyện P ban hành Quyết định số 1409/QĐ-UBND ngày 08/6/2010, bà H không thống nhất việc hỗ trợ nên bà H đã làm đơn khiếu nại yêu cầu bồi thường quyền sử dụng đất nêu trên gửi đến UBND huyện (nay là thành phố) P. Ngày 03/10/2013, Chủ tịch UBND huyện (nay là thành phố) Phú Quốc ban hành Quyết định số 4733/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị H, với nội dung giải quyết: Khẳng định việc UBND huyện P ban hành Quyết định số 1409/QĐ-UBND ngày 08/6/2010 là đúng, không thừa nhận nội dung khiếu nại của bà Phan Thị H (cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện đã tiến hành triển khai Quyết định số 4733/QĐ-UBND ngày 03/10/2013 của Chủ tịch UBND huyện P cho bà Phan Thị H ngày 09/10/2013 và bà H đã ký nhận Quyết định).
Khi nhận Quyết định số 4733/QĐ-UBND ngày 03/10/2013 của Chủ tịch UBND huyện P, bà H tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh K, ngày 26/3/2015 Chủ tịch UBND tỉnh K ban hành Quyết định số 592/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị H, với nội dung giải quyết; việc yêu cầu bồi thường quyền sử dụng đất diện tích 28.707,5m² của bà Phan Thị H là không có cơ sở. Đồng thời, yêu cầu UBND huyện P sửa đổi Quyết định số 1409/QĐ-UBND ngày 08/6/2010 của UBND huyện P, giải quyết hỗ trợ bổ sung diện tích 1.115,5m² cho bà Phan Thị H (cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện đã tiến hành triển khai Quyết định số 592/QĐ-UBND của Chủ tịch tỉnh Kiên Giang cho bà Phan Thị H vào ngày 14/4/2015 và bà H đã ký nhận Quyết định).
Mặt khác, ngày 14/3/2016 UBND huyện P (nay là thành phố P) ban hành Quyết định số 924/QĐ-UBND về việc thu hồi đất diện tích 28.707,5m², bà H không chấp hành thực hiện Quyết định trên, nên ngày 12/4/2016 UBND huyện P ban hành Quyết định số 1377/QĐ-CC về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với bà Phan Thị H, sau khi vận động nhưng bà H vẫn không chấp hành, do đó vào 27/4/2016 UBND tiến hành cưỡng chế thu hồi đất theo quy định đối với bà Phan Thị H.
Nay UBND thành phố P đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính, với lý do thời hiệu khởi kiện đã hết.
Theo văn bản và lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chủ tịch UBND tỉnh K trình bày:
Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất diện tích 28.707,5m² bà Phan Thị H đang khiếu nại tại ấp Đ, xã D, huyện P (nay là thành phố P) được nêu cụ thể tại Quyết định số 592/QĐ-UBND ngày 26/3/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh K.
Về thẩm quyền giải quyết: Chủ tịch UBND tỉnh K ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị H là đúng quy định tại khoản 2 Điều 21 Luật Khiếu nại năm 2011.
Về trình tự, thủ tục giải quyết: Đảm bảo thực hiện đúng theo quy định tại Chương II Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Tổng Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính.
Về nội dung giải quyết không thừa nhận nội dung khiếu nại yêu cầu bồi thường quyền sử dụng đất diện tích 28.707,5m² của bà H là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 43 Luật Đất đai năm 2003; điểm đ khoản 4 Điều 14 và điểm d khoản 1 Điều 45 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai, nên đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của bà H.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 103/2023/HC-ST ngày 07/7/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang, đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H.
Buộc Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo đúng quy định pháp luật khi thu hồi diện tích đất 28.707,5m² tại ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang do bà Phan Thị H sử dụng. Cụ thể: Lập, thẩm định phương án, ban hành quyết định bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích 28.707,5m² tại ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cho bà Phan Thị H theo quyết định thu hồi đất số 924/QĐ-UBND ngày 14/3/2016 của Ủy ban nhân dân huyện P.
Hủy Quyết định số 1409/QĐ-UBND ngày 08/6/2010 của Ủy ban nhân dân huyện P về việc bồi thường, hỗi trợ và tái định cư; Quyết định số 4733/QĐ-UBND ngày 03/10/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị H; Quyết định số 592/QĐ-UBND ngày 26/3/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị H.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí, lệ phí Toà án, thời hạn và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18 và 23/8/2023 Ủy ban nhân dân thành phố P, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bản án sơ thẩm không thỏa đáng, gây thiệt hại quyền lợi của phía Ủy ban, đề nghị phúc xử lại, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Phía người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị không chấp nhận kháng cáo của UBND thành phố P, Chủ tịch UBND thành phố P và Chủ tịch UBND tỉnh K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Phía người bị kiện kháng cáo đề nghị chấp nhận kháng cáo của UBND thành phố P, Chủ tịch UBND thành phố P, hủy án sơ thẩm, đình chỉ vụ án vì hết thời hiệu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng, quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định. Về nội dung giải quyết kháng cáo: Các biên bản kiểm tra, xác minh, kiểm kê không phù hợp, không chứng minh được về tính hợp pháp của các biên bản này. Những người làm chứng về thời điểm sử dụng cũng như nguồn gốc sử dụng đất là không khách quan, nên việc chấp nhận khởi kiện của phía bà H là không có cơ sở, đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố P, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K làm trong hạn luật định nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.
[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:
[2.1] Tòa án cấp phúc thẩm đã triệu tập hợp lệ đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K vẫn vắng mặt không rõ lý do và không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K.
[2.2] Xét kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố P thì thấy, theo hồ sơ thể hiện, bà H trình bày bà có đến ấp Đ, xã D khai khẩn diện tích đất 28.707,5m² đất từ năm 1997 thời điểm này là trước cơn bão số 5 năm 1997 để trồng hoa màu, trồng cây lâu năm và cất nhà sinh sống, bà đã khai khẩn cùng với chị ruột bà là bà Phan Thị D.
Ngày 10/4/2007, bà có làm đơn xin xác nhận nguồn gốc đất và được sự xác nhận của ông Đặng Văn N3 là tổ trưởng tổ nhân dân tự quản và ông Lê Văn L1, Phó ban lãnh đạo ấp Đ nội dung: “Xác nhận bà H có khai khẩn thửa đất ở tổ F, ấp đường B, xã D năm 1997 là đúng sự thật, nay chuyển đến Ủy ban nhân dân xã D xem xét cho đương sự”.
Ngoài ra, bà H còn cung cấp biên bản kiểm kê, xác minh diện tích đất đai và kiến trúc cây trồng của bà Phan Thị H. Biên bản này thể hiện ngày 20/5/2004 của Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng P, xác định diện tích của bà có các loại cây trồng gồm: Cây đào loại D là 350 cây, cây dừa là 5 cây cây, cây tràm là 800 cây.
Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh lời khai đối với ông Đặng Văn N3 là người có đất giáp ranh với bà H. Ông cho biết đất bà H khai khẩn vào năm 1996, 1997 vì vào năm 1997, cơn bão số 5 làm ngư dân ở đảo P, tỉnh Kiên Giang chết rất nhiều đây là sự kiện có mốc thời gian ai cũng biết. Bà H sử dụng đất để trồng hoa màu, trồng cây cất nhà trước khi xảy ra cơn bão.
Ngoài ra, Tòa án cũng xác minh lời khai của ông Nguyễn Văn T2, ông cho rằng ông về ấp Đ, xã D sinh sống. Khi ông về đây thì đã thấy bà H có nhà ở và sử dụng đất trồng cây hoa màu.
Theo lời khai của bà Bạch Thị M cũng xác định bà về đây sống từ năm 1987, bà có thửa đất nằm giáp với thửa đất bà H, bà H sử dụng đất cất nhà trồng cây trước cơn bão số 5 năm 1997 và sử dụng cho đến khi Nhà nước thu hồi làm dự án.
Theo lời khai của ông Nguyễn Văn T3 xác định ông về đây từ năm 1976 và đất của ông bị thu hồi với diện tích hơn 10.000m² để làm dự án ông đã được bồi thường, hỗ trợ theo quy định.
Những lời khai này do Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện việc xác minh theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng của Luật tố tụng Hành chính, nên có cơ sở xác định đất bà H cũng bị Nhà nước thu hồi để làm dự án, thửa đất này bà khai khẩn từ những năm 1997 để trồng hoa màu cây lâu năm.
Quá trình giải quyết khiếu nại từ ngày 09/02/2015 giữa Thanh tra tỉnh Kiên Giang với bà H cũng xác định diện tích của bà H có nguồn gốc sử dụng sau ngày 18/6/1998 trước ngày 01/7/2004.
Tại Quyết định số 592/QĐ-UBND ngày 26/3/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K về việc giải quyết khiếu nại của bà D là chị của bà H cũng khẳng định đất bà H có quá trình sử dụng từ 2001 trước năm 2004 theo Luật Đất đai năm 2003, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đất bà H bị thu hồi có quá trình sử dụng trước 01/7/2004 là có căn cứ hợp pháp.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 77, khoản 4 Điều 82 Luật Đất đai năm 2013, thì đất của bà H sử dụng trước thời điểm phát sinh Luật Đất đai năm 2003 nên là đủ điều kiện bồi thường, nhưng Ủy ban thành phố P thu hồi đất của bà chưa ban hành các quyết định bồi thường cũng như chưa thực hiện các thủ tục thẩm định, phê duyệt phương án để bồi thường cho bà đối với diện tích đất thu hồi nêu trên là không phù hợp theo quy định của pháp luật.
[2.3] Đối với Quyết định số 1409/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân huyện P, Quyết định 4733/QĐ-UBND ngày 03/10/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P và Quyết định số 592/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban tỉnh K về việc giải quyết khiếu nại của bà H tại thời điểm ban hành Quyết định số 1404/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc Chủ tịch Ủy ban huyện P giải quyết khiếu nại cho bà H về việc bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất nêu trên nằm trong dự án. Thời điểm này, Ủy ban huyện P chưa thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục thu hồi đất của bà H và chưa ban hành quyết định thu hồi đất nhưng đã ban hành quyết định hỗ trợ về đất và hoa màu cho bà và giải quyết khiếu nại và ban hành quyết định giải quyết khiếu nại nêu trên với nội dung: “Không bồi thường quyền sử dụng đất và công trình trên đất cho bà là chưa đúng với quy định của Luật Đất đai cũng như các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai”. Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K đã giải quyết khiếu nại của bà, giữ nguyên Quyết định số 4733/QĐ-UBND ngày 03/10/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P là chưa phù hợp như đã nêu trên.
Đất của bà H trong quá trình sử dụng trước ngày 01/7/2004. Ngày 14/3/2016, Ủy ban đã thu hồi đất của bà để làm dự án, như vậy đủ điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định.
[2.4] Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định các quyết định liên quan trước đó như Quyết định số 1409/QĐ-UBND, Quyết định số 4733/QĐ-UBND, Quyết định số 592/QĐ-UBND là những quyết định có liên quan trực tiếp đến hành vi hành chính về bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng nên những quyết định này trở thành đối tượng giải quyết trong vụ án hành chính mà không tính đến thời hiệu là phù hợp.
[2.5] Tại cấp phúc thẩm, phía người bị kiện kháng cáo nhưng cũng không đưa ra được những tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó không có cơ sở để chấp nhận.
[3] Về án phí hành chính phúc thẩm: Người bị kiện kháng cáo không được chấp nhận, nên phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo luật định.
[4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
Bởi các lẽ trên;
Căn cứ Điều 241 Luật tố tụng Hành chính.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ủy ban nhân dân huyện P, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của Chủ tịch Ủy ban tỉnh K.
Áp dụng Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 158, Điều 193, Điều 194 của Luật tố tụng Hành chính; Khoản 2 Điều 77, Điều 82 Luật Đất đai năm 2013; Khoản 4 Điều 34 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H.
Buộc Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo đúng quy định pháp luật khi thu hồi diện tích đất 28.707,5m² tại ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang do bà Phan Thị H sử dụng. Cụ thể: Lập, thẩm định phương án, ban hành quyết định bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích 28.707,5m² tại ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cho bà Phan Thị H theo Quyết định thu hồi đất số 924/QĐ-UBND ngày 14/3/2016 của Ủy ban nhân dân huyện P.
Hủy Quyết định số 1409/QĐ-UBND ngày 08/6/2010 của Ủy ban nhân dân huyện P về việc bồi thường, hỗi trợ và tái định cư; Quyết định số 4733/QĐ-UBND ngày 03/10/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị H; Quyết định số 592/QĐ-UBND ngày 26/3/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị H.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Ủy ban nhân dân thành phố P, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, Chủ tịch Ủy ban tỉnh K, mỗi người chịu số tiền 300.000đồng, được khấu trừ số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp theo Biên lai thu số 0001437 ngày 29/8/2023, số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp theo Biên lai thu số 0001438 ngày 29/8/2023, số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp theo Biên lai thu số 0001443 ngày 31/8/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang. Như vậy, Ủy ban nhân dân thành phố P, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K đã nộp xong án phí phúc thẩm.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ HOÀNG TẤN |
Bản án số 469/2024/HC-PT ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện hành vi hành chính và quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, gpmb, tái định cư
- Số bản án: 469/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện hành vi hành chính và quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, GPMB, tái định cư
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
