|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN Bản án số: 469/2024/DS-ST Ngày: 18-11-2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Như
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hoàng
Bà Trương Thị Kim Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Khang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 291/2024/TLST-DS, ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp QSDĐ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1952; địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Bị đơn:
- Bà Đỗ Thu T, sinh năm 1982; địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Bà Đỗ Thanh T1, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Phòng C1 tỉnh Long An (nay là Văn phòng C2); địa chỉ: Ấp G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Ông Trần Duy T2, sinh năm 1982; địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc M – Trưởng Văn phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 29/12/2023 ngày 22/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đỗ Văn H do người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Minh C trình bày:
Vào năm 2005, ông H có mua của vợ chồng ông Nguyễn Thăng L và bà Ngô Thị Thúy N phần đất có chiều ngang 20m, dài 40m, tổng diện tích là 800m², đất tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An với giá chuyển nhượng là 80.000.000 đồng. Hai bên có lập hợp đồng mua bán, được UBND xã M xác nhận vào ngày 19/01/2005, phần đất nói trên bà N đã được UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2003. Sau khi ký hợp đồng mua bán thì ông H đã giao đủ tiền cho phía bà N, ông H trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất nêu trên nhưng chưa làm thủ tục sang tên.
Đến năm 2010, ông H có họp gia đình gồm có ông H và các con là Đỗ Thanh T3, Đỗ Thanh T1, Đỗ Thu T nhờ các con đứng tên dùm một phần trong tổng diện tích 800m² đất trên, cụ thể: Ông H đứng tên phần diện tích 259m²; con gái Đỗ Thanh T3, đứng tên 229m² con gái Đỗ Thanh T1 và Đỗ Thu T đứng tên phần diện tích 275m². Nội dung họp gia đình được ghi lại tại biên bản ngày 09/8/2010, tất cả đều có mặt và ký tên đầy đủ. Sau khi thống nhất trong gia đình, ông H có đến nhờ ông L và bà N, ký tên chuyển nhượng phần đất cho ông H và các con theo biên bản họp gia đình đã thỏa thuận. Ngày 14/12/2010, ông L và bà N có ký tên hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ có diện tích 275m² thuộc một phần trong tổng số 800m² mà ông H đã mua của ông L, bà N vào năm 2005. Hợp đồng được Phòng C1 tỉnh Long An công chứng vào ngày 14/12/2010. Sau khi ký hợp đồng, bà T1 và bà T làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ, cùng với việc xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì bà T1 và bà T còn làm thủ tục xin chuyển mục đích sử dụng đất 100m² từ đất HNK sang đất ONT. Đến ngày 31/12/2010, bà T1 và bà T được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất đối với 02 thửa đất 889 và 890, tờ bản đồ số 35, đất tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Năm 2017, ông H có xây căn nhà cấp 4 và dãy nhà trọ trên đất, do bà T1 lập gia đình và không có chỗ ở nên ông H có cho bà T1 ở trên căn nhà. Nay do tuổi cao, ông H muốn lấy lại nhà và đất trên để bán một phần tiền để dưỡng già, một phần chia cho các con. Do đó, ông H khởi kiện yêu cầu:
Buộc bà Đỗ Thanh T1 và những người đang sinh sống trên đất có nghĩa vụ giao trả lại cho ông H phần diện tích 275m² thuộc thửa 889 và 890, tờ bản đồ số 35 tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An và toàn bộ tài sản gắn liền với đất cho ông.
Buộc bà Đỗ Thanh T1 và bà Đỗ Thu T phải có nghĩa vụ lập hợp đồng chuyển nhượng lại cho ông toàn bộ hai thửa đất trên.
Nguyên đơn thống nhất đề nghị Tòa án căn cứ vào trích lục bản đồ địa chính ngày 22/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ, tỉnh Long An và chứng thư định giá của Công ty Cổ phần T5 để giải quyết vụ án.
- Bị đơn bà Đỗ Thanh T1 trình bày:
Bà thống nhất lời trình bày của ông H về nguồn gốc, quá trình chuyển nhượng và cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho bà, bà được ông H cho đứng tên phần đất có diện tích diện tích 275m² thuộc thửa 889 và 890, tờ bản đồ số 35 tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, do ông H mua của ông L và bà N vào năm 2005. Đến ngày 14/12/2010, bà N và ông L có ký chuyển nhượng cho bà và bà T, ông H là người thanh toán tiền cho bà N. Tuy nhiên, đối với yêu cầu khởi kiện của ông H thì bà không đồng ý, vì phần đất trên ông H đã cho bà ở và bà không có nơi ở khác, còn bà T đã có gia đình có nhà riêng. Bà là người trực tiếp quản lý, sử dụng căn nhà trên, trên đất có dãy nhà trọ do ông H xây dựng năm 2017, bà là người quản lý, cho thuê và thu tiền trọ hàng tháng. Nay do mâu thuẩn gia đình nên ông H đòi lại nhà, đất, bà không đồng ý vì nhà đất ông H đã cho bà ở, hiện nay bà không còn chỗ ở nào khác.
Trường hợp ông H muốn lấy lại tiền thì bà chỉ có khả năng trả cho ông H số tiền 1,5 tỷ đồng để được toàn quyền quản lý, sử dụng phần đất nêu trên.
Bà thống nhất đề nghị Tòa án căn cứ vào trích lục bản đồ địa chính ngày 22/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ, tỉnh Long An và chứng thư định giá của Công ty Cổ phần T5 để giải quyết vụ án.
Tại đơn yêu cầu phản tố đề ngày 22/10/2024, bà T1 yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa 889 và 890 tờ bản đồ số 35, nay là các thửa 78 và 97, cùng tờ bản đồ số 49 (theo hệ thống bản đồ mới) đất tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An do bà và bà Đỗ Thu T cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 411600 và BĐ 411599 do UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 31/12/2010.
Bị đơn bà Đỗ Thu T trình bày:
Vào năm 2005, ông H là ba của bà có mua đất của ông L và bà N, tổng diện tích là 800m², đất tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Đến năm 2010, ông H có nhờ ba chị em bà đứng tên dùm trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo đó, bà và bà T1 được đứng tên phần đất 275m² thuộc thửa 889 và 890, tờ bản đồ số 35 tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Ngày 14/12/2010, bà và bà T1 đến Phòng C1, tỉnh Long An để nhận chuyển nhượng từ bà N và ông L. Đến ngày 31/12/2010, bà T1 và bà được UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Năm 2017, ông H có xây dựng căn nhà và dãy nhà trọ trên đất, ông H có nói miệng là cho T1 ở vì bà đã có nhà riêng. Từ đó T1 là người ở, quản lý, sử dụng phần đất từ lúc đó đến nay.
Nay ông H yêu cầu bà và bà T1 trả lại phần đất trên thì bà đồng ý, vì trước đây bà chỉ đứng tên dùm ông H, ông H đòi lại là phù hợp. Bà đồng ý trả đất lại cho ông H. Trường hợp ông H và bà T1 đã thỏa thuận xong, không còn tranh chấp thì bà đồng ý chuyển tên đất lại cho bà T1.
Về việc ông H yêu cầu bà T1 phải trả lại số tiền 2 tỷ đồng để được tiếp tục quản lý sử dụng phần đất trên thì bà đồng ý theo ý kiến của bà T1, bà T1 trả lại số tiền 1,5 tỷ vì hiện tại bà T1 có hoàn cảnh khó khăn.
Tại phiên tòa.
Ông H trình bày, sau khi Tòa án hòa giải thì phía bà T1 có gặp ông để thỏa thuận, hiện tại hoàn cảnh khó khăn, vừa mới sinh con, đây là chỗ ở duy nhất của bà T1 nên ông đồng ý, nhận lại tiền và cho bà T1 tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất thuộc các thửa đất trên, ông đồng ý nhận lại số tiền 2.000.000.000 đồng. Bà T1 đã trả cho ông được 1,5 tỷ đồng vào ngày 19/10/2024, số tiền còn lại là 500.000.000 đồng, bà T1 sẽ trả vào ngày (19/01/2025), ông đồng ý, sau khi nhận đủ tiền ông sẽ giao cho bà T1 được toàn quyền quản lý, sử dụng 02 thửa đất cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất theo chứng thư định giá ngày 06/8/2024 của Công ty Cổ phần T5 đã định giá. Đề nghị Tòa án Điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 411600 và BD 411599 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 31/12/2010 đối với thửa đất số 889, 890 cùng tờ bản đồ 35, đất tọa lạc tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An cho người sử dụng đất bà Đỗ Thanh T1 và bà Đỗ Thu T sang cấp cho bà Đỗ Thanh T1.
Đối với số tiền chi phí tố tụng ông H đã nộp là 30.000.000 đồng ông đồng ý chịu toàn bộ.
Bà Đỗ Thanh T1 có ý kiến, bà đồng ý thanh toán cho ông H số tiền 2.000.000.000 đồng là giá trị quyền sử dụng và tài sản gắn liền với đất thuộc các thửa đất nêu trên. Bà T1 đã trả cho ông H 1,5 tỷ đồng vào ngày 19/10/2024, số tiền còn lại là 500.000.000 đồng, bà T1 sẽ trả cho ông H vào ngày (19/01/2025). Sau khi trả đủ tiền cho ông H, bà T, bà yêu cầu được toàn quyền quản lý, sử dụng 02 thửa đất nêu trên. Bà yêu cầu Tòa án tuyên điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 411600 và BD 411599 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 31/12/2010 đối với thửa đất số 889, 890 cùng tờ bản đồ 35, đất tọa lạc tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An cho người sử dụng đất bà Đỗ Thanh T1 và bà Đỗ Thu T vào ngày 31/12/2010 sang cấp cho bà Đỗ Thanh T1 vì bà là người đã bỏ tiền ra để trả cho ông H và thực tế bà đang quản lý, sử dụng phần đất nêu trên.
Đỗ Thanh T4 trình bày, bà không có tranh chấp hay yêu cầu gì trong vụ án trên, bà đồng ý theo ý kiến của ông H, bà T1 đề nghị Tòa án điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 411600 và BD 411599 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 31/12/2010 đối với thửa đất số 889, 890 cùng tờ bản đồ 35, đất tọa lạc tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An cho người sử dụng đất bà Đỗ Thanh T1 và bà Đỗ Thu T sang cấp cho bà Đỗ Thanh T1, vì bà T1 đã trả lại giá trị quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cho ông H và bà T1 cũng đang quản lý, sử dụng phần đất trên.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Tại phiên tòa các đương sự thống nhất thỏa thuận việc giải quyết vụ án, xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật nên đề nghị HĐXX ghi nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ tranh chấp: Ông Đỗ Văn H khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu bị đơn phải chuyển nhượng lại phần đất thuộc các thửa 889, 890 tờ bản đồ số 35, nay là các thửa đất số 78 và 97 cùng tờ bản đồ số 49 (theo hệ thống bản đồ mới) đất tọa lạc tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An nên căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS); vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa và quan hệ pháp luật tố tụng là “tranh chấp quyền sử dụng đất”
[1.2] Các đương sự vắng mặt đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên Tòa án giải quyết vắng mặt nên căn cứ các Điều 227; 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về xác định người tham gia tố tụng trong vụ án: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho người sử dụng đất bà Đỗ Thanh T1 và bà Đỗ Thu T vào ngày 31/12/2010 là dựa trên giao dịch dân sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên Tòa án không đưa Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An vào tham gia tố tụng trong vụ án là phù hợp với quy định tại điểm 2. Mục II của Công văn số 64/TANDTC-PCngày 03 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân tối cao.
[2] Về nội dung: Ông H khởi kiện yêu cầu bà Đỗ Thu T và bà Đỗ Thanh T1 phải trả lại phần đất thuộc các thửa 889, 890 tờ bản đồ số 35, nay là các thửa đất số 78 và 97 cùng tờ bản đồ số 49 (theo hệ thống bản đồ mới) đất tọa lạc tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; yêu cầu bà T và bà H phải chuyển nhượng lại 02 thửa đất trên cho ông H; Bà T1 có yêu cầu phản tố đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà và bà T đối với 02 thửa đất trên để bà được đăng ký kê khai cấp giấy.
[2.1] Xét về nguồn gốc đất và quá trình kê khai đăng ký: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các bên đều thừa nhận nguồn gốc hai thửa đất 889, 890 tờ bản đồ số 35, nay là các thửa đất số 78 và 97 cùng tờ bản đồ số 49 (theo hệ thống bản đồ mới) đất tọa lạc tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, là của ông Đỗ Văn H nhận chuyển nhượng từ bà Ngô Thị Thúy N và ông Nguyễn Thăng L vào năm 2005. Đến năm 2010, ông H nhờ các con là Đỗ Thu T, Đỗ Thanh T1 đứng tên giùm phần đất thuộc một phần thửa 451, tờ bản đồ số 35, diện tích 275m². Sau khi nhận chuyển nhượng phần đất trên, bà T và bà T1 đã chuyển mục đích sử dụng đất và tách thành 02 thửa là thửa đất 889, diện tích 175m² loại đất HNK và thửa đất 890, loại đất ONT, diện tích 100m². Hai thửa đất này do bà T1 là người trực tiếp quản lý sử dụng.
[2.1.1] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn bà Đỗ Thu T, Đỗ Thanh T1 thống nhất thỏa thuận:
- Ông H đồng ý giao cho bà Đỗ Thanh T1 được toàn quyền quản lý, sử dụng phần đất và các tài sản gắn liền với đất theo chứng thư định giá ngày 06/8/2024 của Công ty Cổ phần T5 đối với các thửa đất 889 và 890, tờ bản đồ số 35, đất tọa lạc tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Bà T1 có nghĩa vụ trả cho ông Đỗ Văn H số tiền 2 tỷ đồng, là giá trị quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất. Trong đó, đã đưa trước 1,5 tỷ đồng vào ngày 19/10/2024, số tiền còn lại là 500.000.000đồng, bà T1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông H vào ngày 19/01/2025.
- Thống nhất đề nghị điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BD 411600 và BD 411599 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 31/12/2010 cho người sử dụng đất là bà Đỗ Thu T và bà Đỗ Thanh T1 đối với thửa đất số 889, 890 tờ bản đồ số 35, nay là các thửa đất số 78 và 97 cùng tờ bản đồ số 49 (theo hệ thống bản đồ mới) đất tọa lạc tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An sang cấp riêng cho người sử dụng đất bà Đỗ Thanh T1.
- Bà Đỗ Thanh T1 được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký, điều chỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất thuộc thửa đất số thửa 889, 890 tờ bản đồ số 35, nay là các thửa đất số 78 và 97 cùng tờ bản đồ số 49 (theo hệ thống bản đồ mới) đất tọa lạc tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Diện tích đất, vị trí tứ cận, được thể hiện theo Mảnh trích lục bản đồ địa chính ngày 22/5/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ, tỉnh Long An cung cấp (phần đất này hiện do bà Đỗ Thanh T1 đang quản lý và sử dụng);
- Bà Đỗ Thu T có trách nhiệm trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 411600 và BD 411599 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 31/12/2010 đối với thửa đất số 889, 890 cùng tờ bản đồ 35 cho bà Đỗ Thanh T1 để bà T1 được kê khai, đăng ký, điều chỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
- Về chi phí thẩm định xem xét thẩm định tại chỗ, định giá phần đất tranh chấp: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ số tiền chi phí tố tụng là 30.000.000đồng (ba mươi đồng) đã nộp và chi phí xong.
[2.2] Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên tòa các đương sự thống nhất đề nghị Tòa án tuyên điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất số 889 và 890 tờ bản đồ số 35, nay là các thửa 78 và 97, cùng tờ bản đồ số 49 (theo hệ thống bản đồ mới) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 411600 và BĐ 411599 do UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 31/12/2010 cho bà Đỗ Thanh T1 và bà Đỗ Thu T sang cấp cho riêng cho bà Đỗ Thanh T1; bà T1 có nghĩa vụ trả lại giá trị quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cho ông H, các đương sự có mặt thống nhất không còn tranh chấp và đề nghị Tòa án ghi nhận. Xét việc các thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là tự nguyện, nội dung thỏa thuận của các đương sự không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T1 phải chịu án phí theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 165, 227, 228, 235, 246, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 100, Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013.
Căn cứ Điều 12, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Văn H:
- Buộc bà Đỗ Thanh T1 có nghĩa vụ trả cho ông Đỗ Văn H số tiền còn lại là 500.000.000đồng là giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với phần đất và tài sản trên đất thuộc các thửa 889, 890 tờ bản đồ số 35, nay là các thửa đất số 78 và 97 cùng tờ bản đồ số 49 (theo hệ thống bản đồ mới) đất tọa lạc tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 411600 và BD 411599 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 31/12/2010 cho người sử dụng đất bà Đỗ Thanh T1 và bà Đỗ Thu T đối với thửa đất số 889, 890 cùng tờ bản đồ 35, đất tọa lạc tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An sang cấp riêng cho người sử dụng đất bà Đỗ Thanh T1.
- Bà Đỗ Thanh T1 được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký, điều chỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần đất thuộc thửa đất số thửa 889, 890 tờ bản đồ số 35, nay là các thửa đất số 78 và 97 cùng tờ bản đồ số 49 (theo hệ thống bản đồ mới) đất tọa lạc tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Diện tích đất, vị trí tứ cận, được thể hiện theo Mảnh trích lục bản đồ địa chính ngày 22/5/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ, tỉnh Long An cung cấp (hiện phần đất này do bà Đỗ Thanh T1 quản lý và sử dụng);
- Bà Đỗ Thu T có trách nhiệm trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 411600 và BD 411599 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 31/12/2010 đối với thửa đất số 889, 890 cùng tờ bản đồ 35 cho bà Đỗ Thanh T1 để bà T1 được kê khai, đăng ký sử dụng theo quy định. Trường hợp bà T không trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thì bà T1 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất nêu trên, đề nghị cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho bà T1 theo quy định của Luật đất đai và kết quả giải quyết của Tòa án.
- Về án phí: Bà Đỗ Thanh T1 phải chịu 12.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà T1 đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006093 ngày 22/10/2024. Bà T1 còn phải nộp thêm 11.700.000 đồng án phí còn thiếu.
- Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn chịu toàn bộ 30.000.000đồng (đã nộp và chi phí xong).
- Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Ngọc Như |
Bản án số 469/2024/DS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 469/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn Hạnh "tranh chấp quyền sử dụng đất" Đõ Thanh Tú
