Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 468/2024/DS-PT

Ngày 29-8-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng

đất, yêu cầu chấm dứt hành vi trái

pháp luật

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền.
Các Thẩm phán:Ông Lê Sỹ Trứ.
Bà Ngô Thị Bích Diệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phước – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22 và 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 275/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2024/DS-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 332/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm 1966; địa chỉ: tổ E, khu phố R, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim E, sinh năm 1969; địa chỉ: tổ E, khu phố R, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn; có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1952; địa chỉ: tổ G, khu phố R, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim E, sinh năm 1969; địa chỉ: tổ E, khu phố R, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1979;
  3. Bà Phạm Thị Hồng D, sinh năm 1982;
  4. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967;
  5. Anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm 2003.

Cùng địa chỉ: khu phố R, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn M, bà Phạm Thị Hồng D, bà Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Minh Đ: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1979; địa chỉ: khu phố R, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền; có mặt.

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1955; địa chỉ: tổ G, khu phố R, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Võ Văn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo Đơn khởi kiện đề ngày 25/10/2021, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 19/7/2022, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 17/5/2023, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 08/8/2023, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Kim E trình bày:
  2. Thửa đất số 604, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã A, thị xã B (nay là phường A, thành phố B) có nguồn gốc ông Võ Văn T nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn B vào ngày 02/02/1991, phần đất này có diện tích 50 cao (tương đương 5.000m²) bao gồm 01 miếng đất đập giáp con rạch cụt và 03 miếng đất ruộng. Việc nhận chuyển nhượng chuyển nhượng có lập giấy tay có chữ ký của hai bên nhận chuyển nhượng chuyển nhượng, đồng thời có ông S và bị đơn ông Nguyễn Văn V là người làm chứng việc nhận chuyển nhượng chuyển nhượng đất.

    Năm 1999, Nhà nước đo đất để cấp sổ đại trà và đổi từ sổ trắng sang sổ đỏ nhưng ông T không nhận được thông báo của ấp và ông Vũ 1 này là trưởng ấp C (hiện nay là khu phố R) đã không thông báo cho ông T đi đo đạc để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông T không biết để đi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông V tự ý dẫn cán bộ đo đạc luôn cả 03 thửa đất ruộng của gia đình ông T gồm các thửa 180, 202, 203 với diện tích 3.415m² để đi đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H1 và được cơ quan Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/12/1999 cho bà H1, ghi nguồn gốc đất là thừa kế.

    Năm 2006, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho bà Nguyễn Thị H1 chuyển sang đứng tên hộ ông Nguyễn Văn V và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 05/12/2006 cho hộ ông V, việc này ông T hoàn toàn không biết.

    Đến năm 2008, ông T mới phát hiện ông V đứng tên trên thửa đất của T. Do đó, ông T có đòi lại quyền sử dụng đất thì ông V có trả lại đất cho ông T theo Đơn trả lại đất ngày 02/6/2008. Ông V đã trả lại 03 thửa đất gồm: thửa 180 diện tích 1.456m²; thửa 202 diện tích 1.030m² và thửa 203 diện tích là 929m². Tổng diện tích 03 thửa 180, 202, 203 là 3.415m². Theo đo đạc thì chênh lệch 33m². Phần diện tích đất 33m² này không phải là ông Vũ c mà là đo đạc chênh lệch. Tại thời điểm đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T thì khu công nghiệp R đang thi công làm cống thoát nước thải nên làm mất hết bờ ranh, vì vậy ông V thừa cơ hội không cho ông T đo đạc hết phần diện tích đất của ông T nên kết quả đo đạc ông T bị mất hết 33m² nên thửa 604, tờ bản đồ số 14 (đất của ông T) chỉ còn lại diện tích 3.382m², còn thiếu diện tích đất của 03 bờ ruộng và thiếu 01 mét ngang, chiều dài hết 03 thửa đất của ông T nằm giáp ranh với đám đập mà trước đó ông T chuyển nhượng cho bà H1.

    Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01544 ngày 05/12/2006 cấp cho hộ ông V là thửa 422, tờ bản đồ số 14 có diện tích là 5.395m² gồm 04 thửa 180, 202, 203, 220 và một phần thửa 201. Tuy nhiên, theo đơn trả lại đất của ông V ngày 02/6/2008 thì ông V chỉ trả hết các thửa 180, 202, 203 với tổng diện tích là 3.415m². Theo ông T được biết, một phần thửa 201 không nằm trong thửa 422, tờ bản đồ số 14 và cũng không giáp các thửa 180, 202, 203 của ông T mà giáp thửa 423. Như vậy, thay vì vào năm 1999 ông V thông báo cho ông T biết để đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông T đã kê khai luôn phần diện tích 3.382m² (diện tích thửa 604) và cả phần diện tích đang tranh chấp hiện nay 528m². Tuy nhiên, ông V không thông báo cho ông T đi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên phần đất này được kê khai cho bà H1. Phần diện tích 528m² nằm trong tổng diện tích 50 cao mà trước đây ông T nhận chuyển nhượng của ông B vào ngày 02/02/1991. Tuy nhiên, hiện nay qua đo đạc thực tế, đất ông T tăng thêm 53,6m² nên nay nguyên đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện từ yêu cầu Toà án công nhận cho nguyên đơn phần đất có diện tích 528m², trừ đi diện tích thửa đất 604 của ông T tăng thêm sau đo đạc thực tế là 53,6m² nên nay chỉ yêu cầu công nhận cho nguyên đơn ông Võ Văn T phần đất có diện tích 474,4m².

    Tại phiên tòa, ông T xác định yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:

    • Yêu cầu ông Nguyễn Văn V chấm dứt hành vi trái pháp luật, cụ thể hành vi trái pháp luật của ông V là vào năm 1999 ông V không thông báo cho ông T đi đo đất để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và năm 2006 ông V có hành vi trái pháp luật là chuyển hết 03 thửa đất gồm thửa 180, 202, 203 (hợp thành thửa 422), tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã (nay là phường) A của ông T thành đất của ông V.
    • Yêu cầu Toà án thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG542915, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01544, do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Bến Cát cấp ngày 05/12/2006 cho hộ ông Nguyễn Văn V đối với thửa 422, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã (nay là phường) An Tây;
    • Yêu cầu Toà án thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG542915, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01544, do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố B) cấp ngày 05/12/2006 cho hộ ông Nguyễn Văn V về việc tách thửa 604 và 605 (cập nhật trang tư ngày 28/02/2009);
    • Yêu cầu Tòa án công nhận cho nguyên đơn ông T phần đất có diện tích 474,4m² tại vị trí đất tranh chấp cho ông T được quyền sử dụng.
    • Yêu cầu Toà án tuyên ông T được đủ điều kiện liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với phần diện tích tăng thêm là 474,4m² tại vị trí đất đang tranh chấp.
  3. Tại biên bản lấy lời khai đề ngày 17/4/2023, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn V trình bày:
  4. Năm 1991, ông Nguyễn Văn B có chuyển nhượng cho ông Võ Văn T 03 miếng đất ruộng (thửa 180, 202, 203), một miếng đất đập (thửa 201) và chuyển nhượng cho ông H2 03 miếng ruộng là các thửa 220, 221, 240. Sau này, ông T chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị H1 (là con ông B) miếng đập là thửa 201. Lúc này, sổ đỏ vẫn đứng tên ông B. Sau khi ông B mất, bà H1 có làm thủ tục thừa kế sang tên cho bà H1 đứng tên tất cả các thửa đất trên để tiện sang tên cho người nhận chuyển nhượng, kể cả thửa 201 mà bà H1 nhận chuyển nhượng lại của ông T.

    Năm 2001, ông V có nhận chuyển nhượng của ông H2 03 thửa đất gồm các thửa 220, 221, 240 và nhận chuyển nhượng luôn miếng đập của bà H1 là thửa 201. Trên thực tế, ông V quản lý, sử dụng các thửa gồm 201, 220, 221, 240 được nhận chuyển nhượng từ bà H1 và ông H2 nhưng chưa làm thủ tục sang tên nên các thửa đất này trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đứng tên bà H1.

    Năm 2006, khu công nghiệp R có mở đường thoát nước qua đất của ông V, nên ông V có chuyển nhượng 10m chiều ngang (01 phần thửa 201), chiều dài thẳng từ các thửa đất số 201, 220, 221, 240. Do đó, ông V có nhờ bà H1 tách luôn phần đất chuyển nhượng cho khu công nghiệp R trước đó là thửa 411 (được hợp từ 01 phần các thửa 201, 220, 221, 240). Do đường thoát nước lấy thẳng ra sông S nên thửa 201 bị chia ra làm 03 phần: 01 phần nhập vào thửa 422 (là thửa 605 sau này), còn 01 phần nhập thửa 411 chuyển nhượng cho khu công nghiệp và 01 phần nhập vào thửa 423.

    Trong quá trình làm hồ sơ tách thửa sang tên người nhận chuyển nhượng, bà H1 nói để không mất thời gian đi lại, bà H1 chỉ làm một lần cho xong nên ông V có đến gặp ông T lấy giấy tờ để đi tách sổ cùng ông nhưng vợ chồng ông T không làm. Vì vậy, bà H1 sang tên hết cho ông V, sau này nếu ông T cần thì ông V sẽ đưa giấy tờ cho ông T đi tách thửa sau. Sau đó, bà H1 sang tên cho ông V và tách thành các thửa sau: thửa 422: Được hợp từ thửa 180, 202, 203, 220, và 01 phần thửa 201 (trong đó có thửa 180, 202, 203 là của ông T); thửa 423 được hợp từ một phần thửa 201, 221, 240.

    Năm 2008, vợ chồng ông T có đến nhà mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông V để đi tách thửa cho ông T, vì vậy ông V đã đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông T tự đi làm sổ. Từ đó, thửa 422 được tách thành thửa 604 (hợp thửa 180, 202, 203) của ông T và thửa 605 (hợp một phần thửa 201, 220) của ông V.

    Quá trình ông T làm sổ sang tên từ ông Vũ qua tên ông T đối với các thửa 180, 202, 203 mà ông T đã nhận chuyển nhượng của ông B, còn thửa 201 là đám đất đập ông T chuyển nhượng cho bà H1, sau đó bà H1 đã chuyển nhượng lại cho ông V, vợ chồng ông T đều tự ý cắm cọc xi măng, tự ý đo đạc, ông V chỉ ký tên hồ sơ cho ông T, để ông T tự đi làm giấy tờ, đo đạc và được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2008 và sử dụng ổn định từ năm 2008 cho đến nay. Nay ông T cho rằng ông lấn đất của ông T và yêu cầu công nhận diện tích 528m² đất của ông V trở thành đất của ông T là vô lý. Trong khi, ông cũng nhận chuyển nhượng đất của ông B, ông H2, bà H1 và sau khi đo đạc lại cũng mất đất nhưng ông không nghĩ là ai lấn đất mình, mà do quá trình đo đạc thực tế có biến động diện tích bị giảm là lẽ đương nhiên. Nay trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T và yêu cầu Toà án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì các lý do sau: gia đình ông và bản thân ông không lấn chiếm đất của ông T; qua kết quả đo đạc thực tế thì đất ông T tăng thêm, đất ông V bị thiếu diện tích; ông T yêu cầu thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01544, do Ủy ban nhân dân huyện B (nay là thành phố B) cấp ngày 05/12/2006 cho hộ ông Nguyễn Văn V là không có căn cứ; ông T cho rằng ông có hành vi trái pháp luật như lời trình bày của nguyên đơn là hoàn toàn vô lý, không có căn cứ.

  5. Tại Bản tự khai đề ngày 21/12/2023, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị Hồng D, bà Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Minh Đ là ông Nguyễn Văn M trình bày:
  6. Về nguồn gốc đất: Năm 1991, ông Nguyễn Văn B có chuyển nhượng cho ông Võ Văn T 03 miếng ruộng (thửa 180, 202, 203), một miếng đập (thửa 201) và chuyển nhượng cho ông H2 03 miếng ruộng là thửa 220, 221, 240. Sau này, ông T chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị H1 (là con ông B) hết miếng đập là thửa 201. Lúc này, sổ đỏ vẫn đứng tên ông B. Sau khi ông B mất, bà H1 có làm thủ tục thừa kế sang tên bà H1 tất cả các thửa đất trên để tiện sang tên cho người nhận chuyển nhượng, kể cả thửa 201 mà bà H1 nhận chuyển nhượng lại của ông T.

    Năm 2001, ông Nguyễn Văn V có nhận chuyển nhượng của ông H2 gồm 03 thửa đất 220, 221, 240 và nhận chuyển nhượng luôn hết miếng đập của bà H1 là thửa 201. Như vậy, ông Vũ sở h các thửa 201, 220, 221, 240 nhưng sổ đất vẫn đứng tên bà H1.

    Năm 2006, khu công nghiệp R có mở đường thoát nước qua đất của ông V, nên ông V có chuyển nhượng 10m chiều ngang (một phần thửa 201), chiều dài thẳng từ các thửa 201, 220, 221, 240. Vì vậy, ông V có nhờ bà H1 tách luôn phần đất chuyển nhượng cho khu công nghiệp R trước đó là thửa 411 (được hợp từ 01 phần các thửa 201, 220, 221, 240). Do đường thoát nước lấy thẳng ra sông S nên thửa 201 bị chia ra làm 03 phần: một phần nhập vào thửa 422 (là thửa 605 sau này), một phần nhập vào thửa 411 chuyển nhượng cho Khu công nghiệp và một phần nhập vào thửa 423.

    Trong quá trình làm hồ sơ tách thửa sang tên người nhận chuyển nhượng, bà H1 nói để không mất thời gian đi lại, bà H1 chỉ làm 01 lần cho xong. Vì vậy, ông V có tới nhà kêu ông T lấy giấy tờ đi tách sổ với ông V luôn, nhưng vợ chồng ông T không làm. Vì vậy, bà H1 nói sang hết cho ông V, sau này nếu ông T cần thì cha ông (ông V) sẽ đưa giấy tờ cho ông T đi tách thửa sau. Sau đó, bà H1 sang tên cho ông V và tách thành các thửa sau: Thửa 422: được hợp từ thửa 180, 202, 203, 220, một phần thửa 201 (trong đó có thửa 180, 202, 203 là của ông T); thửa 423 được hợp từ một phần thửa 201, 221, 240.

    Năm 2008, vợ chồng ông T có đến nhà mượn sổ ông V để đi tách thửa cho mình, ông V đã đưa sổ cho ông T tự đi cắm cọc đo đạc, tự đi làm sổ, ông V chỉ ký tên hồ sơ cho ông T. Từ đó, thửa 422 được tách thành thửa 604 (hợp thửa 180, 202, 203) của ông T và thửa 605 (hợp 01 phần thửa 201, 220) của ông V.

    Tháng 12/2009, khu công nghiệp có nhận chuyển nhượng thêm 10 mét để mở rộng đường thoát nước (song song thửa 411), nên ông V có tách 10 mét cho ông Nguyễn Văn M đứng tên và ông chuyển nhượng lại cho khu công nghiệp, cụ thể thửa 423 tách thành 02 thửa: thửa 620 chuyển nhượng cho khu công nghiệp và phần còn lại thành thửa 621.

    Năm 2021, ông có thuê đơn vị cắm mốc để cắm 04 trụ làm mốc nhưng sau đó ông đã tự nhổ 03 cột mốc, còn 01 cộc mốc ông để lại vì đây là mốc trụ cũ gãy còn lại. Vì việc ông cắm trụ mốc này mà vợ chồng ông T đã khởi kiện ông đến Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Ngày 19/9/2022, Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương đã xét xử bằng Bản án số 60/2022/DS–ST ngày 19/9/2022. Bà E không đồng ý bản án nên tiếp tục kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. Ngày 14/3/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã xét xử bằng Bản án dân sự phúc thẩm số 77/2023/DS-PT xác định ông M không có hành vi tranh chấp đất của vợ chồng ông T.

    Nay trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông M không đồng ý và yêu cầu Toà án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì lý do: Ông M và các thành viên trong hộ gia đình ông V không lấn đất của ông T. Mặt khác, qua đo đạc thực tế thì đất của ông T tăng diện tích, còn đất ông V bị giảm diện tích. Việc ông T yêu cầu công nhận đất của ông Vũ t đất của ông T và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01544, do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố B) cấp ngày 05/12/2006 cho hộ ông Nguyễn Văn V là vô lý và không có căn cứ.

  7. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 14/4/2023, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, người làm chứng là bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
  8. Bà Nguyễn Thị H1 và gia đình ông V có mối quan hệ họ hàng. Bà H1 và gia đình ông T là chỗ quen biết, lối xóm với nhau. Trước đây cha bà là ông Nguyễn Văn B và mẹ là bà Lê Thị Đ1 khai phá được phần đất có diện tích 11.976m² ở ấp R, xã A (nay là khu phố R, phường A) bao gồm 01 dây đập và 04 miếng đất gò.

    Trước đó vào ngày 02/02/1991, cha của bà H1 là ông Nguyễn Văn B có chuyển nhượng cho ông Võ Văn T nửa cao đất (diện tích theo hiện nay là 5.000m²) bao gồm 01 dây đập và 03 miếng ruộng gò. Sau đó, hai bên giao tiền và giao đất với nhau. Quá trình nhận chuyển nhượng chuyển nhượng giữa cha bà H1 và ông T cũng chưa tách sổ mà chỉ nhận chuyển nhượng bằng miệng. Phần đất chuyển nhượng cho ông T vẫn còn nằm trong sổ trắng do cha bà H1 đứng tên. Thời điểm này, bà H1 có nói ông T đi tách sổ nhưng ông T không đi tách.

    Đến năm 1993, bà H1 nhận chuyển nhượng của ông T 01 dây đập mà trước đó vào năm 1991 cha bà H1 chuyển nhượng cho ông T là các thửa 220, 240, 221, 201, còn lại 03 miếng ruộng gò ông T không chuyển nhượng cho bà. Việc nhận chuyển nhượng giữa bà và ông T không biết có giấy tờ gì không thì bà không nhớ. Phần đất bà nhận chuyển nhượng của ông T vẫn còn nằm trong sổ trắng do cha bà H1 đứng tên.

    Năm 1986 mẹ bà H1 chết, năm 1996 thì cha bà H1 chết. Sau này khi cha mẹ bà H1 chết thì bà H1 là người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00677/QSDĐ/1408/QĐ-UBND ngày 10/12/1999 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương cấp cho hộ ông bà Nguyễn Thị H1, quyền sử dụng đất này do bà H1 được thừa kế. Sau khi được cấp sổ, bà H1 đem thế chấp hết toàn bộ sổ cho ngân hàng để vay tiền. Đến năm 2001, thì bà H1 trả nợ ngân hàng và lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra để tách sổ cho ông V.

    Do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà H1 nhưng toàn bộ quyền sử dụng đất trên sổ trước đó đã được cha bà H1 chuyển nhượng cho ông T nên bà H1 làm thủ tục chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn V hết toàn bộ dây đập này. Sau khi lấy sổ ra từ ngân hàng, bà H1 có đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông V đi tách sổ sang tên. Sau khi đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông V đi tách sổ sang tên là hết trách nhiệm và không biết việc sang tên, chuyển sổ như thế nào.

    Năm 2001, bà H1 đứng ra chuyển nhượng hết cho ông Nguyễn Văn V 01 dây đập mà trước đây bà nhận chuyển nhượng của ông T. Phần đất bà chuyển nhượng cho ông V vẫn còn nằm trong sổ đất do bà đứng tên. Về thửa đất bà chuyển nhượng cho ông V thì trước đây đất không có đường mà chỉ đi trên đường bờ ruộng. Sau này khi Nhà nước làm đường thoát nước của khu công nghiệp R đi ngang qua thửa đất thì mới hình thành con đường bờ rạch như hiện nay. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà H1 có ý kiến sau: Trước đây bà nhận chuyển nhượng của ông T một dây đập diện tích bao nhiêu thì sau đó bà chuyển nhượng lại cho ông Vũ p diện tích dây đập này bấy nhiêu, việc nhận chuyển nhượng giữa bà với ông T, ông V đã thanh toán xong và ông V đã sử dụng ổn định phần đất này từ khi bà H1 chuyển nhượng cho đến nay. Bà H1 không xác định được số thửa, tờ bản đồ bao nhiêu nhưng bà xác định phần đất bà nhận chuyển nhượng của ông T vào năm 1993 và sau đó chuyển nhượng lại cho ông V vào năm 2001 là phần đất hiện nay đang tranh chấp giữa ông T và ông V.

  9. Tại Công văn số 1741/TNMT-TTĐĐ ngày 23/9/2022 và Công văn số 675 ngày 26/02/2024, đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bình Dương cung cấp có nội dung:
  10. Qua quá trình rà soát hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã B cung cấp thì Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố B) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H01544 cấp ngày 05/12/2006 cho hộ ông Nguyễn Văn V có trình tự, thủ tục thực hiện phù hợp với quy định tại Điều 127 của Luật Đất đai năm 2003 và Điều 148 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.

    Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03932 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Bến Cát cấp cho ông Võ Văn T ngày 25/02/2009 có trình tự, thủ tục thực hiện phù hợp với quy định của Luật Đất đai tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo đó, ngày 25/02/2009 ông Võ Văn T được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03932 đối với thửa 604, tờ bản đồ số 14. Ngày 28/02/2009, hộ ông Nguyễn Văn V đã được chỉnh lý trang 04 vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ H01544 với nội dung: “Thửa 422 tách thành 02 thửa: 604, 605. Ông Võ Văn T, thường trú: A, B, Bình Dương. Nhận quyền sử dụng đất, DT: 3.382m² (CLN), thửa 604 tờ BĐ 14. Do ông Nguyễn Văn V trả lại đất theo tờ trình số: 47/TTr-UBND ngày 22/7/2008. DT còn lại: 2.013m² CLN; 202m² HLBVĐT), thửa 605, tờ BĐ 14”.

    Tuy nhiên hiện nay đang phát sinh tranh chấp, do đó trong quá trình thụ lý xét xử, nếu nhận thấy việc Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Bến Cát cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn V và cho ông Võ Văn T nêu trên là chưa phù hợp với hiện trạng sử dụng đất hoặc không đúng với quy định của pháp luật thì có quyền xác minh và nhận định trong quá trình xét xử để giải quyết vụ việc theo quy định.

    * Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2024/DS-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

    1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn T đối với bị đơn ông Nguyễn Văn V về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật”.
    2. Về án phí: Buộc nguyên đơn ông Võ Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.075.000 đồng theo Biên lai thu số AA/2021/0004371 ngày 11/11/2021; tiền tạm ứng án phí nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số AA/2021/0012159 ngày 22/8/2023; tiền tạm ứng án phí nộp là 11.144.000 đồng theo Biên lai thu số AA/2021/0001642 ngày 11/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương.

    Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

    Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 27/05/2024 nguyên đơn ông Võ Văn T có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2024/DS-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

    Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Võ Văn T do bà Nguyễn Thị Kim E đại diện trình bày: Nguyên đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2024/DS-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương với những lý do sau: Căn cứ theo kết quả đo đạc thực tế ngày 28/12/2021 thể hiện trên Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 17-2022 tờ bản đồ số 14 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã B (nay là thành phố B) phát hành ngày 11/5/2022 diện tích đang tranh chấp là 528m². Căn cứ theo giấy mua bán đất ruộng viết tay ngày 02/02/1991 của ông Võ Văn T và ông Nguyễn Văn B bút lục số 02 và số 330, thì nguồn gốc đất diện tích 528m² đang tranh chấp từ ngày 02/02/1991 là của ông Võ Văn T mua của ông Nguyễn Văn B trong diện tích khoảng 5.000m² và phần đất này ông Võ Văn T đã sử dụng canh tác trồng lúa từ năm 1991 đến năm 2003 có đưa tiền cho ông B đóng thuế hàng năm cho Nhà nước, sau năm 2003 đến nay, ông T chuyển sang trồng cỏ nuôi bò và cho người khác thuê trồng cỏ. Phần đất ông T mua của ông B gồm 04 miếng ruộng và một miếng đập. Đến năm 1994, bà Nguyễn Thị H1 là con ông B hỏi ông T mua lại miếng đập nên ông T bán lại miếng đập cho bà H1 bằng miệng không làm giấy tờ gì chỉ giao với bà H1 là bán cách bờ 01m để bà H1 không được trồng cây trên bờ làm ảnh hưởng bên ông T và những người đi làm ruộng bên ngoài. Năm 1999, ông Nguyễn Văn V tự ý hướng dẫn cán bộ địa chính đo đạc tất cả phần đất của ông T để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị họ con bác ruột của ông V là hộ ông bà Nguyễn Thị H1 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà hộ ông bà Nguyễn Thị H1 được cấp ngày 10/12/1999 bút lục số 328 gồm có đất vườn diện tích 2875m², đất ở 300m², đất lúa 8.801m² trong các thửa 180, 202, 203, 220, 240, 221, 201. Ngay thời điểm đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông bà Nguyễn Thị H1 nêu trên, ông V cùng cơ quan chức năng tự ý biến động cắt một phần các thửa 220, 240, 221, 201 hợp thành thửa 411 diện tích 1441,7m² đất lúa. Đến ngày 24/4/2006, diện tích thửa 411 này được bồi thường giải tỏa mở tuyến đường và khu công nghiệp R. Căn cứ theo Quyết định số 7915/QĐ-UBND quyết định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/12/2006 bút lục số 311. “Điều 1: Chuyển giao diện tích: 7.363m² đất lúa. Hành lang bảo vệ đường thủy trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00677QSDĐ/1408/QĐ-UB cấp ngày 10/12/1999, của hộ ông (bà) Nguyễn Thị H1, thường trú tại: A, B, Bình Dương cho hộ ông Nguyễn Văn V. Lý do: chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn V. Điều 2: Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1952, thường trú tại: A, B, Bình Dương. Mục đích sử dụng Đất trồng lúa: 7.161m², thời hạn sử dụng: 10/2013, hành lang bảo vệ đường thủy: 202m². Người sử dụng đất phải tuân thủ các quy định về bảo vệ an toàn công trình. Vị trí, ranh giới khu đất được xác định theo tờ bản đồ địa chính số: 14, số thửa: 422, 423, tỷ lệ: 1/2000”. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H01544, thửa đất số 422 tổng diện tích 5.395m², trong đó 202m² hành lang bảo vệ đường thủy. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H01545, thửa đất số 423 tổng diện tích là 1.968m². Ngày 12/12/2009, thửa 423 tách thành 02 thửa 620, 621. Tóm lại, ông Nguyễn Văn V tách thửa 620 diện tích 1.400m² tặng cho ông Nguyễn Văn M để ông M bán cho Khu công nghiệp R, diện tích còn lại 568m², thửa 621 giáp hướng Nam và Tây Nam thửa 620. Như vậy, ông V và bà Hữu b tất cả là 02 lần với diện tích tổng là 2.841,7m² đất cho khu công nghiệp R. Tất cả những việc làm trên của ông V, bà H1 và cơ quan chức năng, ông Võ Văn T hoàn toàn không biết và cũng không đồng ý việc này. Đến năm 2008, ông T phát hiện và đòi ông V phải trả lại đất, thì ngày 02/6/2008 ông Nguyễn Văn V làm đơn trả đất lại cho ông Võ Văn T là trả 03 thửa 180, 202, 203 với tổng diện tích là 3.415m² trong diện tích 5.395m² của thửa 422 mà hộ ông Nguyễn Văn V được cấp, nhưng sau đó ông V và cơ quan chức năng tự ý chỉnh lý biến động 03 thửa 180, 202, 203 thành thửa 604 diện tích 3.382m² để ông V trả cho ông T và diện tích còn lại của thửa 422 là 2.013m² trong đó 202m² hành lang bảo vệ đường thủy. Tại sao ông Nguyễn Văn V được cấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 422, tờ bản đồ số 14 có cùng số phát hành, cùng số vào sổ, cùng số hiệu tờ bản đồ, cùng diện tích, cùng ngày, cùng tháng, cùng năm là ngày 05/12/2006 nhưng khác nhau trang 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có trang 03 thửa 422 tách thành 02 thửa 604, 605 này có trang 02, trang 03, trang 04 và trang bổ sung không liên quan với nhau, việc này là hành vi vi phạm pháp luật đất đai của cơ quan chức năng quản lý Nhà nước trong công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đây là hành vi thực hiện công việc không có ủy quyền cố ý xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Võ Văn T là vi phạm quy định Luật Đất đai của Quốc hội nước C số 13/2003/QH11 về đất đai và các quy định sau đây: Căn cứ theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 10, tại Điều 15. Căn cứ theo quy định của Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 tại Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 13. Căn cứ theo Quyết định của Bộ T1 số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21 tháng 7 năm 2006 ban hành quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 422 nêu trên có ghi thời hạn sử dụng đất: 10/2013 nhưng đến nay không được Nhà nước gia hạn sử dụng. Và trong 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này có ghi hình thức sử dụng; sử dụng riêng: 5.395m². Trong khi ông V là người tự ý lấy đất của ông T, ngoài ra giữa ông Võ Văn T và ông Nguyễn Văn V không có bất cứ một văn bản hợp đồng hoặc thỏa thuận nào cho việc hộ ông Nguyễn Văn V được quyền đứng tên phần đất của ông Võ Văn T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc làm này của cơ quan chức năng là không đúng quy định của pháp luật. Hơn nữa, hiện tại thực tế ông Nguyễn Văn V không còn được quyền sử dụng thửa đất số 220 thuộc thửa đất số 422 tờ bản đồ số 14 do đã bán cho người khác. Tại sao trong nội dung bản án, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía bị đơn kể cả người làm chứng cố ý che giấu không trình bày cụ thể tổng diện tích đất lúa mà hộ bà Nguyễn Thị H1 được cấp theo các thửa là 8.801m² và bán lại cho khu công nghiệp lần thứ nhất là 1.441,7m² và sau khi bán thì phần diện tích còn lại là 7.363m² chuyển nhượng cho hộ ông Nguyễn Văn V thành 02 thửa, 422 diện tích 5.395m², trong đó 202m² hành lang bảo vệ đường thủy, thửa 423 diện tích 1.968m² và ngày 12/12/2009 diện tích thửa 423 tách thành thửa 620, 621 tặng cho ông Nguyễn Văn M thửa 620 diện tích 1.400m² để ông M bán cho khu công nghiệp Rạch B1 và ông V còn lại thửa 621 diện tích 568m² giáp hướng Nam và Tây của thửa 620. Và thửa 422 diện tích 5.395m² là của ông Võ Văn T là vi phạm quy định Luật Đất đai của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 13/2003/QH11 và các quy định sau đây: Căn cứ theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 10, tại Điều 15; căn cứ theo quy định của Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 tại Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 13; căn cứ theo Quyết định của Bộ T1 số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21 tháng 7 năm 2006 ban hành quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 422 nêu trên có ghi thời hạn sử dụng đất: tháng 10/2013 nhưng đến nay không được Nhà nước gia hạn sử dụng. Và trong 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này có ghi hình thức sử dụng; sử dụng riêng: 5.395m². Như vậy, chính xác diện tích 528m² đang tranh chấp ông Nguyễn Văn V không được cấp trong diện tích 5.395m² của thửa 422 và đúng như Công văn số 3798/CNBC-KTĐD&BĐ ngày 20/11/2023 là diện tích 528m² đang tranh chấp không thuộc thửa nào trong tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại xã A (nay là phường A). Tại sao Tòa án không xác minh thẩm tra làm rõ việc trên để đưa vào nội dung của bản án để phân tích, đánh giá và đưa ra nhận định, trong khi tại phiên tòa đại diện nguyên đơn đã trình bày về việc trên nhưng Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết mà lại đưa vào lời trình bày không có căn cứ của phía bị đơn và người làm chứng cũng là người nhà của bị đơn, do đó đưa ra nhận định không có căn cứ không phù hợp với quy định của pháp luật, không khách quan, không công bằng, không minh bạch, đã vậy còn bịa đặt thay đổi, đánh tráo lời trình bày của đại diện nguyên đơn tại phiên tòa làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Vì vậy, hôm nay đại diện nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ theo các quy định sau đây: căn cứ Điều 166 Luật Đất đai năm 2013, căn cứ khoản 9, Điều 12, Luật Đất đai năm 2013, căn cứ Điều 207 Luật Đất đai năm 2013, căn cứ khoản 2, Điều 105 Luật Đất đai năm 2013, căn cứ khoản 2, khoản 3, Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, căn cứ theo Công văn số: 3789/CNBC-KTĐĐ&BĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023, căn cứ theo Công văn số: 468/CNBC-TTHC ngày 02 tháng 02 năm 2024, căn cứ Điều 100, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013, căn cứ Điều 138 Luật Đất đai năm 2024. Từ những căn cứ quy định trên nên hôm nay đại diện nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng tuyên: Công nhận diện tích 474,4m² tại vị trí đang tranh chấp ông Võ Văn T được quyền sử dụng; ông Võ Văn T đủ điều kiện được liên hệ cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp lại sổ đỏ với phần diện tích tăng thêm là 474,4m² tại vị trí đang tranh chấp. Theo Điều 24a Nghị định số 43/2014/NĐ-CP được bổ sung bởi khoản 20, Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP và thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất gốc là thửa đất số 604 tờ bản đồ số 14 (thửa đất chưa có diện tích đất tăng thêm) theo quy định tại Điều 76 của Nghị định này, hoặc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu theo Điều 100, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013, Điều 138 Luật Đất đai năm 2024 với diện tích cạnh chiều ngang hướng Đông giáp thửa đất số 149, 150 là 36,01 mét, cạnh chiều ngang hướng Tây giáp thừa đất số 220 là 36,5m, cạnh chiều dài hướng Bắc giáp các thửa 151, 179, 204 là 107,84m, cạnh chiều dài hướng Nam giáp bờ cống khu công nghiệp R là 105,01m, tổng diện tích yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho ông Võ Văn T là 3.856,4m²; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG542915, số vào sổ H01544, diện tích 5.395m², trong đó có 202m² hành lang bảo vệ đường thủy, thửa đất 422 tờ bản đồ số 14, hợp từ các thửa 180, 202, 203, 220 và một phần của thửa 201, cấp ngày 05/12/2006 cho hộ ông Nguyễn Văn V; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG542915, số vào sổ H01544, thửa 422 diện tích 5.395m² tách thành 02 thửa đất số 604, 605 cấp ngày 05/12/2006 cho hộ ông Nguyễn Văn V.

Bị đơn ông Nguyễn Văn V trình bày: Không đồng ý toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M trình bày: Không đồng ý toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:

  • Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về thời hạn kháng cáo: Ngày 27/5/2024, nguyên đơn ông T kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm là phù hợp thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Về nội dung kháng cáo: Về nguồn gốc thửa đất 604, tờ bản đồ số 14, tại phường A theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0086893 ngày 25/02/2009 cấp cho ông Võ Văn T: ông T cho rằng phần đất này có nguồn gốc ông T mua của ông Nguyễn Văn B có diện tích 50 cao bao gồm 01 miếng đập và 04 miếng ruộng (tương đương 5.000m²), tại xã A vào ngày 02/02/1991. Việc mua bán này có lập giấy tay, có ông S và ông Nguyễn Văn V là người làm chứng việc mua bán đất giữa ông T với ông Nguyễn Văn B. Sau đó, năm 1993 ông T có bán lại cho bà Nguyễn Thị H1 01 phần đất nhưng phần đất ông T bán lại cho bà H1 là phần đất khác, không nằm trong tổng diện tích 50 cao đất (5.000m²) mà trước đó ông T mua của ông B, do thời điểm ông B bán đất cho ông T là còn sổ trắng nên phần đất này không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông B bán cho ông T. Việc nguyên đơn thừa nhận có bán lại cho bà H1 một phần đất mà trước đây mua của ông B nhưng lại cho rằng nguyên đơn bán cho bà H1 thửa đất khác là mâu thuẫn với chính lời trình bày của nguyên đơn, nguyên đơn cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh về số thửa, số tờ bản đồ đối với phần đất đã bán cho bà H1, cũng không đưa ra được chứng cứ để chứng minh việc nguyên đơn bán lại thửa đất này cho bà H1 là phần đất nào, cũng như vị trí thửa đất và nguồn gốc thửa đất ông T bán cho bà H1 là nguồn gốc từ đâu và ở vị trí nào mà chỉ xác định có bán cho bà H1 01 phần đất ruộng. Đối chiếu với lời trình bày của bà H1 cho thấy, bà H1 thừa nhận tại phiên tòa cũng như quá trình tham gia tố tụng là trước đó khoảng năm 1993, 1994 bà H1 có mua của ông T 01 dây đập với diện tích khoảng 03 sào, sau đó bà H1 không canh tác nữa nên có bán lại cho ông V toàn bộ dây đập này vào năm 2001, bà không biết rõ dây đập này là thuộc thửa nào nhưng xác định được vị trí thửa đất này hiện nay là phần đất đang tranh chấp.
  • Ông V trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa xác định: Vị trí đất tranh chấp hiện nay trước đây là thuộc thửa 201 và có nguồn gốc do bà H1 bán cho ông vào năm 2001, việc mua bán giữa ông và bà H1 có giấy mua bán bằng giấy tay. Như vậy, qua đó cho thấy lời trình bày của bà H1 là hoàn toàn phù hợp với Giấy sang đất ruộng được lập giữa bà H1 và ông V (bút lục 260) và hoàn toàn phù hợp với lời trình bày của ông V và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án.

    Hơn nữa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn cho rằng phần diện tích đất tranh chấp 528m² (tại phiên tòa xác định là 474,4m²) có nguồn gốc ông T mua của ông B vào ngày 02/02/1991 theo giấy mua bán ruộng đất nhưng căn cứ theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0086893 ngày 25/02/2009 cấp cho ông Võ Văn T thể hiện ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa 180, 202, 203 với tổng diện tích 3.382m² mà không thể hiện ông T được cấp đối với thửa 201. Theo tờ bản đồ qua các giai đoạn phần đất tranh chấp trước đây thuộc thửa 201, tờ bản đồ số 14, tại A. Năm 2008, ông V trả lại đất cho ông T bao gồm các thửa 180, 202, 203 với tổng diện tích 3.382m² và sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông T không khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này. Từ điều này cho thấy nguyên đơn ông T không có thửa đất nào ở vị trí tranh chấp, vì vậy việc ông T cho rằng thửa đất 201 của ông V được cấp đã cấp trùng lên thửa đất của ông là không có cơ sở.

    Ngoài ra, theo kết quả trả lời của Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương tại Công văn số 3708/CNBC-KTĐĐ&BĐ ngày 15/11/2023 cho thấy: hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0086893, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03932, do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 25/02/2009 cho ông Võ Văn T được đo đạc bằng phương pháp thủ công, không thể hiện tọa độ các điểm gốc ranh. Do đó, không đủ cơ sở để áp thửa xác định phần đất tranh chấp thuộc thửa nào, tờ bản đồ số 14, toạ lạc tại xã A (bút lục 429);

    Căn cứ theo Công văn số 675/TNMT-TTĐĐ ngày 26/02/2024 và Công văn số 1741/TNMT-TTĐĐ ngày 23/9/2022 xác định: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG542915 ngày 05/12/2006 cấp cho hộ ông Nguyễn Văn V có trình tự, thủ tục thực hiện phù hợp với quy định tại Điều 127 Luật Đất đai năm 2003 và Điều 148 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai. Do đó, việc yêu cầu kiến nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 422, tờ bản đồ số 14, tại xã A được cấp cho ông Nguyễn Văn V là không phù hợp. Ngoài ra, căn cứ theo biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất theo hiện trạng sử dụng đối với thửa đất 604, tờ bản đồ số 14, toạ lạc tại A được lập ngày 18/6/2008, chủ sử dụng đất ông Võ Văn T có tham gia và đồng ý ký tên vào biên bản xác định ranh, mốc thửa đất theo hiện trạng sử dụng (bút lục 110), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 086893 tại thời điểm năm 2008 có tiến hành đo đạc (bút lục 108). Điều này thể hiện tại thời điểm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng số A0 086893, số vào sổ H03932, do Ủy ban nhân dân huyện B (nay là Thành phố B) cấp ngày 25/02/2009 cho ông Võ Văn T về quy trình, đối tượng là hoàn toàn phù hợp.

    Như vậy, không có cơ sở công nhận phần đất tranh chấp có diện tích 528m² (tại phiên tòa đại diện nguyên đơn xác định diện tích là 474,4m²) là quyền sử dụng đất của nguyên đơn. Nguyên đơn khởi kiện nhưng không chứng minh được nguồn gốc phần đất tranh chấp mà cho rằng phần đất này nằm ngoài diện tích đất được mua của ông B vào ngày 02/02/1991 nhưng cũng không đưa ra được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn ông T khởi kiện cho rằng phần đất tranh chấp 528m² (tại phiên tòa xác định diện tích 474,4m²) là quyền sử dụng đất của ông T và yêu cầu Toà án giải quyết công nhận cho ông T phần đất này, đồng thời yêu cầu ông V chấm dứt hành vi trái pháp luật do ông V không thông báo cho ông T đo đất để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và năm 2006 ông V có hành vi trái pháp luật là chuyển hết 03 thửa đất gồm 180, 202, 203 (hợp thành thửa 422), tờ bản đồ số 14 tại xã A của ông T thành đất của ông V là hoàn toàn không phù hợp và không có căn cứ để chấp nhận.

    Từ những phân tích trên, nhận thấy: Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2024/DS-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

    Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về nội dung tranh chấp: Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ xác định: Phần đất tranh chấp có diện tích đo đạc thực tế là 528m², thuộc thửa 605, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã A, thành phố B (nay là phường A, thành phố B), tỉnh Bình Dương. Nguyên đơn cho rằng phần diện tích đất tranh chấp 528m² (tại phiên tòa, xác định diện tích là 474,4m²) nằm trong tổng diện tích 50 cao (5.000m²) mà trước đây ông T mua của ông B vào ngày 02/02/1991. Hiện nay, diện tích đất tranh chấp đã được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố B) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01544 ngày 05/12/2006 cho hộ ông Nguyễn Văn V nên ông T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết: Yêu cầu ông Nguyễn Văn V chấm dứt hành vi trái pháp luật, cụ thể hành vi trái pháp luật của ông V là vào năm 1999 ông V không thông báo cho ông T đi đo đất để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và năm 2006 ông V có hành vi trái pháp luật là chuyển hết 03 thửa đất gồm thửa 180, 202, 203 (hợp thành thửa 422), tờ bản đồ số 14, toạ lạc tại xã A của ông T thành đất của ông V; yêu cầu thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG542915, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01544, do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 05/12/2006 cho hộ ông Nguyễn Văn V (thửa 422, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã A); yêu cầu thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG542915, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01544, do Ủy ban nhân dân huyện B (nay là thành phố B) cấp ngày 05/12/2006 cho hộ ông Nguyễn Văn V về việc tách thửa 604 và 605 (cập nhật trang tư ngày 28/02/2009); yêu cầu Tòa án công nhận cho nguyên đơn ông T phần đất có diện tích 474,4m² tại vị trí đất tranh chấp cho ông T được quyền sử dụng. Yêu cầu Toà án tuyên ông T được đủ điều kiện liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với phần diện tích tăng thêm là 474,4m2 tại vị trí tranh chấp. Bị đơn ông V không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  2. Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:
    1. Căn cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa 604 và thửa 605 thể hiện: Thửa 604 và thửa 605 trước đây được tách từ thửa 422, tờ bản đồ số 14, tại Đơn xin tách thửa đề ngày 18/6/2008 và Đơn trả đất đề ngày 02/6/2008 của ông V cho thấy: Lý do tách thửa 422 là ông V trả lại một phần đất có diện tích 3.382m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG542915, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01544, do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Bến Cát cấp ngày 05/12/2006 cho hộ ông Nguyễn Văn V cho ông T, nguyên nhân do trước đó ông V đăng ký nhầm. Vì vậy, ông V đã trả lại các thửa đất gồm thửa 180 có diện tích 1.456m², thửa 202 có diện tích 1.030m² và thửa 203 có diện tích 929m². Tổng diện tích ông V trả lại cho ông T là 3.415m². Ngày 22/7/2008, Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) An Tây có tờ trình về việc điều chỉnh tên người sử dụng đất do đăng ký nhầm. Căn cứ vào đơn tờ trình và đơn trả đất của ông V, Hội đồng tư vấn thuộc Ủy ban nhân dân xã A đã tiến hành xét duyệt trường hợp tách thửa và chấp thuận cho ông V được tách thửa dưới hạng mức để trả lại đất cho ông T. Do đó, ngày 28/02/2009, cập nhật biến động trang tư trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG542915, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01544, do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 05/12/2006 cho hộ ông Nguyễn Văn V có nội dung: thửa 422 tách thành 02 thửa cho ông Võ Văn T nhận quyền sử dụng đất có diện tích 3.382m² thuộc thửa 604 và diện tích còn lại là 2.013m² thuộc thửa 605 của ông V (bút lục 97 và bút lục 422).
    2. Về nguồn gốc thửa đất 604, tờ bản đồ số 14, toạ lạc tại xã A theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0086893, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03932, do Ủy ban nhân dân huyện B (nay là thành phố B) cấp ngày 25/02/2009 cho ông Võ Văn T: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông T cho rằng phần đất này có nguồn gốc ông T nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn B phần đất có diện tích 50 cao bao gồm 01 miếng đập và 04 miếng ruộng (tương đương 5.000m²), tại xã A vào ngày 02/02/1991. Việc nhận chuyển nhượng này có lập giấy tay, có ông S và ông Nguyễn Văn V là người làm chứng việc nhận chuyển nhượng đất giữa ông T với ông Nguyễn Văn B. Sau đó, năm 1993 ông T có chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị H1 01 phần đất nhưng phần đất ông T chuyển nhượng lại cho bà H1 là phần đất khác, không nằm trong tổng diện tích 50 cao đất (5.000m²) mà trước đó ông T nhận chuyển nhượng của ông B, do thời điểm ông B chuyển nhượng đất do ông T là còn sổ trắng nên phần đất này không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông B chuyển nhượng cho ông T. Việc nguyên đơn thừa nhận có chuyển nhượng lại cho bà H1 một phần đất mà trước đây nhận chuyển nhượng của ông B nhưng lại cho rằng nguyên đơn chuyển nhượng cho bà H1 thửa đất khác là mâu thuân với chính lời trình bày của nguyên đơn, nguyên đơn cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh về số thửa, số tờ bản đồ đối với phần đất nguyên đơn cho rằng đã chuyển nhượng cho bà H1 thửa đất khác là thửa đất nào, cũng như vị trí thửa đất và nguồn gốc thửa đất ông T chuyển nhượng cho bà H1 là nguồn gốc từ đâu và ở vị trí nào mà chỉ xác định có chuyển nhượng cho bà H1 01 phần đất ruộng là không có căn cứ chấp nhận lời trình bày này của nguyên đơn.
    3. Đối chiếu với lời trình bày của bà H1 cho thấy, bà H1 thừa nhận trước đó khoảng năm 1993, 1994 bà H1 có nhận chuyển nhượng của ông T 01 dây đập với diện tích khoảng 03 sào. Sau đó, bà H1 không canh tác nữa nên có chuyển nhượng lại cho ông V toàn bộ dây đập này vào năm 2001, việc nhận chuyển nhượng này có lập giấy tờ hay không thì bà không nhớ vì thời gian đã lâu và bà cũng chuyển nhượng lại cho ông V từ năm 2001 nên bà không còn quan tâm đến. Tuy nhiên, bà H1 xác định bà nhận chuyển nhượng đất từ ông T và sau đó bà chuyển nhượng chính phần đất này cho ông V, bà không biết rõ dây đập này là thuộc thửa nào nhưng xác định được vị trí thửa đất này hiện nay là phần đất đang tranh chấp. Căn cứ lời trình bày của ông V trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa xác định: Vị trí đất tranh chấp hiện nay trước đây là thuộc thửa 201 và có nguồn gốc do bà H1 chuyển nhượng cho ông V vào năm 2001, việc nhận chuyển nhượng chuyển nhượng giữa ông V và bà H1 có giấy nhận chuyển nhượng bằng giấy tay. Như vậy, qua đó cho thấy lời trình bày của bà H1 là hoàn toàn phù hợp với Giấy sang đất ruộng được lập giữa bà H1 và ông V (bút lục 260) và hoàn toàn phù hợp với lời trình bày của ông V và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án. Hơn nữa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn cho rằng phần diện tích đất tranh chấp 528m² (tại phiên tòa xác định là 474,4m²) có nguồn gốc ông T nhận chuyển nhượng của ông B vào ngày 02/02/1991 theo giấy nhận chuyển nhượng ruộng đất nhưng căn cứ theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0086893, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03932 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 25/02/2009 cho ông Võ Văn T thể hiện ông T được cấp quyền sử dụng đất các thửa 180, 202, 203 với tổng diện tích 3.382m² mà không thể hiện ông T được cấp đối với thửa 201. Theo tờ bản đồ qua các giai đoạn phần đất tranh chấp trước đây thuộc thửa 201, tờ bản đồ số 14, toạ lạc tại A. Năm 2008, ông V trả lại đất cho ông T bao gồm các thửa 180, 202, 203 với tổng diện tích 3.382m² và sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T không khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thiếu diện tích so với diện tích 5.000m² mà ông đã nhận chuyển nhượng từ ông B vào năm 1991. Vì vậy, việc ông T cho rằng thửa đất 201 của ông V được cấp đã cấp trùng lên thửa đất của ông là không có cơ sở.
    4. Ngoài ra, theo kết quả trả lời của Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương tại Công văn số 3708/CNBC-KTĐĐ&BĐ ngày 15/11/2023 cho thấy: Hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0086893, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03932, do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Bến Cát cấp ngày 25/02/2009 cho ông Võ Văn T được đo đạc bằng phương pháp thủ công, không thể hiện toạ độ các điểm gốc ranh. Do đó, không đủ cơ sở để áp thửa xác định phần đất tranh chấp thuộc thửa nào, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã A (bút lục 429);
    5. Căn cứ theo Công văn số 675/TNMT-TTĐĐ ngày 26/02/2024 và Công văn số 1741/TNMT-TTĐĐ ngày 23/9/2022 xác định: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG542915, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01544, do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Bến Cát cấp ngày 05/12/2006 cho hộ ông Nguyễn Văn V có trình tự, thủ tục thực hiện phù hợp với quy định tại Điều 127 của Luật Đất đai năm 2003 và Điều 148 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bị đơn thuộc thửa 422, tờ bản đồ số 14, toạ lạc tại xã A không được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.
    6. Mặt khác, căn cứ theo biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất theo hiện trạng sử dụng đối với thửa đất 604, tờ bản đồ số 14, toạ lạc tại xã A được lập ngày 18/6/2008, chủ sử dụng đất ông Võ Văn T có tham gia và đồng ý ký tên vào biên bản xác định ranh, mốc thửa đất theo hiện trạng sử dụng (bút lục 110), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 086893, số vào sổ H03932 tại thời điểm năm 2008 có tiến hành đo đạc (bút lục 108). Điều này thể hiện tại thời điểm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng số A0 086893, số vào sổ H03932, do Ủy ban nhân dân huyện B (nay là thành phố B) cấp ngày 25/02/2009 cho ông Võ Văn T về quy trình, đối tượng là hoàn toàn phù hợp.

    Như vậy, từ những nhận định trên, không có cơ sở để công nhận phần đất tranh chấp có diện tích 528m² (tại phiên tòa xác định 474,4m²) là quyền sử dụng đất của nguyên đơn. Nguyên đơn khởi kiện nhưng không chứng minh được nguồn gốc phần đất tranh chấp mà cho rằng phần đất này nằm ngoài diện tích đất được mua của ông B vào ngày 02/02/1991 nhưng cũng không đưa ra được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn ông T khởi kiện cho rằng phần đất tranh chấp 528m² (tại phiên tòa xác định 474,4m²) là quyền sử dụng đất của ông T và yêu cầu Toà án giải quyết công nhận cho ông T phần đất này, đồng thời yêu cầu ông V chấm dứt hành vi trái pháp luật do ông V không thông báo cho ông T đi đo đất để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và năm 2006 ông V có hành vi trái pháp luật là chuyển hết 03 thửa đất gồm 180, 202, 203 (hợp thành thửa 422), tờ bản đồ số 14, toạ lạc tại xã A của ông T thành đất của ông V không được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ.

    Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Võ Văn T.

  3. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là có cơ sở nên chấp nhận.
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo quy định của pháp luật

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Võ Văn T.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2024/DS-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Võ Văn T phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003292 ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - TAND thành phố Bến Cát;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Thanh Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 468/2024/DS-PT ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật

  • Số bản án: 468/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger