|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 468/2024/DSPT Ngày: 08/11/2024 Về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Dung
- - Các thẩm phán: Bà Trần Thị Thanh Giang
- Bà Hà Thị Phương Thanh
- - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Ban – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- - Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Hồng Phil - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử công khai vụ án thụ lý số: 339/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024.
Do Bản án sơ thẩm số 69/2024/DSST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn có kháng cáo, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phong V, sinh năm 1955 (có mặt)
- Địa chỉ: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ
- Địa chỉ liên hệ: Số G, KV H, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích của Nguyên đơn: Luậ sư Nguyễn Xuân M – V2 – Đoàn Luật sư thành phố C.
- - Bị đơn: Ông Lâm Tòng T, sinh năm 1968 (có mặt)
- Địa chỉ: 7, Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952
- Địa chỉ: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phong V1 (có mặt)
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Phong V
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn trình bày:
Ngày 07/02/2006, ông được ông Đào Hữu T1 (ngụ ấp T, Thị trấn C, huyện C, TP Cần Thơ) chuyển nhượng cho phần đất thổ cư thuộc thửa 1801, tờ bản đồ số 01, diện tích 88m² đất tọa lạc tại KV H, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ và ông đã trực tiếp sử dụng ổn định từ đó đến nay. Đầu năm 2013, ông Lâm Tòng T có làm đơn kiện đến chính quyền địa phương cho rằng đất này là của ông. Ngày 14/5/2013 UBND Phường T có mời đôi bên đến giải quyết và lập biên bản số 01/BB.HG "kết quả thành", ông T thừa nhận đất này của ông Đào Hữu T1 đã chuyển nhượng cho ông, nhưng ông T có yêu cầu hỗ trợ tiền bơm cát là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) và đã nhận đủ tại UBND phường T cùng ngày 14/5/2013. Sau đó đôi bên tự về cắm ranh do trước đó ông T tự xóa ranh đất không còn hiện trạng để bơm cát nên ông tự cắm mốc ranh và giao cho ông. Việc ông T tự cắm ranh đã lấn qua bên đất ông nên diện tích đất ông chỉ còn 68m², thiếu mất 20 m². Ông có nói phải đo cụ thể cho đủ diện tích, vì sợ không đủ diện tích nhưng ông T khi đó nói ông cứ nhận đất và nhờ địa chính xuống đo, nếu thiếu ông sẽ bù thêm đất cho ông. Ngày 17/8/2013, ông nhờ cán bộ địa chính quận Ô đến đo thực tế và lập bản vẽ tứ cận, phát hiện còn thiếu diện tích như đã nêu trên, ông có yêu cầu ông T chỉnh lại ranh thì ông nói đã lỡ hai bên xây hàng rào kiên cố, phá ra tốn kém, cứ để nguyên, khi nào ông T bán đất thì ông T sẽ tính tiền chênh lệch cho ông và ông đã đồng ý nhưng không lập thành văn bản.
Ngày 20/01/2022 ông T bán đất cho ông Hai D (nhà ở phía sau) và mời tôi ra xác định ranh, ông có nói đất này chưa giải quyết xong, chưa thống nhất về diện tích chênh lệch, cụ thể ông T đã lấn qua đất ông khoảng 20 m² thuộc thửa số 1801, tờ bản đồ số 01, đất tọa lạc tại KV H, phường T, quận Ô, TP Cần Thơ.
Nay có yêu cầu khởi kiện buộc ông T phải trả lại diện tích đất ở vị trí B, C theo bản trích đo địa chính. Ông sẽ tháo dỡ phần nhà xây dựng tại vị trí A và trả lại diện tích ở vị trí A cho ông T.
* Bị đơn T trình bày: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
Sau khi ông với ông V hòa giải thành tại Ủy ban nhân dân phường T năm 2013, ông có nhận của ông V số tiền 5.000.000đồng do ông đã bơm cát vào thửa đất 1801. Sau đó, ông và ông V đã cắm ranh, ông xây hàng rào quanh khu mộ năm 2013, ông V cũng xây hàng rào và nhà trước ông và các bên sử dụng ổn định đến nay như hiện trạng hiện tại. Ông hiện là chủ sử dụng đất thửa 1329, tờ bản đồ số 01, diện tích 763m², loại đất NT, đất tọa lạc tại KV H, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ, đã được cấp Giấy chứng nhận QSD đất số vào số 000119 do UBND huyện Ô cấp ngày 23/10/1995 (gọi tắt là thửa đất1329).
Tại phiên tòa sơ thẩm;
- Nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc thửa đất 1801 là nhận chuyển nhượng từ năm 2004, đến năm 2006 thì thực hiện việc ký hợp đồng chuyển nhượng với ông Đào Hữu T1 với diện tích 88 m². Thời điểm đó, ông T1 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi mua thì đất của ông T1 không còn ranh đất do ông T đã bơm cát, nhổ mất ranh. Khi mua của ông T1 thì ông T1 có chỉ ranh theo hình thể tam giác nhưng không thể chỉ chính xác cho ông T đã nhổ ranh nên khi nhận bàn giao đất từ ông T1, ông không biết rõ diện tích ông T1 bàn giao cho ông là bao nhiêu. Đến năm 2013 thì phát sinh tranh chấp thửa đất 1801 với ông T, được UBND phường T hòa giải thành theo hướng, ông sẽ hỗ trợ lại ông T 5.000.000 đồng tiền bơm cát, các bên sẽ tự về xác định ranh đất giữa các bên. Sau đó, ông và ông T xuống thửa đất 1801, 1329 để xác định ranh mốc như trạng hiện tại và ông đã cất nhất ở từ năm 2013 đến nay, việc các bên cắm ranh năm 2013 là có sự thống nhất của ông T.
Nguyên nhân hiện tại phát sinh tranh chấp là khi năm 2013, các bên có thỏa thuận phần ghi chú C theo Bản trích đo địa chính sẽ được làm lối đi chung giữa ông với ông T, chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không có văn bản do lúc đó ông với Bị đơn là bạn bè quen biết nhau. Nhưng khi đo đạc lại vào năm 2013, thì ông mới biết diện tích đất hiện ông đang cất nhà, sử dụng còn thiếu so với diện tích 88m² nhận chuyển nhượng từ ông Đào Hữu T1.
Nay ông yêu cầu ông T phải trả lại diện tích đất ở vị trí B, C theo bản trích đo địa chính. Ông sẽ tháo dỡ phần nhà xây dựng tại vị trí A và trả lại diện tích ở vị trí A cho ông T.
* Đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phong V1: Thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
* Bị đơn ông Lâm T trình bày: Nguồn gốc đất của ông là của ông, bà để lại, gia đình đã sử dụng đất hơn 100 năm, hiện ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1995, đến năm 2008 thì nhà nước có dự án mở rộng quốc lộ I, có thu hồi một phần đất cặp lộ của ông và ông có làm đơn đề nghị cấp đổi giấy năm 2008 nhưng đến hiện tại vẫn chưa chỉnh lý, chưa được cấp giấy đất khác, vẫn đang sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp năm 1995. Đối với phần đất ông mua của bà N1 thì không giáp với phần đất tranh chấp.
Năm 2013, khi ông phát sinh tranh chấp với Nguyên đơn liên quan đến thửa đất 1801 được UBND phường T hòa giải thành, ông đã nhận đủ số tiền 5.000.000 đồng từ ông V. Khi đó, ông V sau khi hòa giải ở phường đã về cắm ranh, xây hàng rào và xây nhà ở đến nay. Sau khi thấy ông V đã cắm ranh và xây hàng rào thì ông đã tiến hành xây hàng rào cặp theo ranh đất ông V đã cắm, các bên đã sử dụng ổn định đất từ năm 2013 đến nay theo hiện trạng thẩm định.
Tại Bản án sơ thẩm số 69/2024/DSST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về việc yêu cầu Bị đơn giao trả diện tích đất 21,6 m² (phần ghi chú B, C theo bản trích đo địa chính số 112 ngày 24/5/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C).
- Công nhận diện tích đất thuộc thửa 1801, tờ bản đồ số 01, diện tích 78,9m² gồm 71,7 m² loại đất ODT và 7,2 m² loại đất NT, đất tọa lạc tại phường T, quận Ô, Tp Cần Thơ thuộc quyền sử dụng đất của Nguyên đơn. (gồm phần ghi chú A và thửa 1801, không bao gồm phần ghi chú B, C của bản Trích đo địa chính số 112 ngày 24/5/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C).
- Nguyên đơn được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký, chỉnh lý biến động, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở tài sản gắn liền với đất theo quy định. (kèm theo bản trích đo địa chính số 112).
- 2. Giao diện tích đất 21,6 m², loại đất ODT cho Bị đơn quản lý, sử dụng (phần ghi chú B, C của bản Trích đo địa chính số 112 ngày 24/5/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C).
- Bị đơn được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký, chỉnh lý biến động cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở tài sản gắn liền với đất theo quy định. (kèm theo bản Trích đo địa chính số 112).
Ngoài ra Bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, án phí và quyền kháng cáo theo qui định.
Ngày 31/7/2022 ông Nguyễn Phong V có đơn kháng Bản án sơ thẩm đối với việc không chấp nhận yêu cầu đòi ông T trả 21,6m² đất thổ cư đã lấn ranh của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm Nguyên đơn kháng cáo giữ nguyên yêu cầu. Bị đơn giữ nguyên ý kiến.
Luật sư phía Nguyên đơn đưa ra các căn cứ do chuyển nhượng đất từ ông T1 theo sổ mục kê, đến nay chưa làm giấy chứng nhận do ông T không ký giáp ranh, do mối quan hệ bà con nên không tranh chấp đến khi làm lộ phát hiện đất Bị lấn ranh nên kiện, theo trích đo năm 2024 thì Nguyên đơn Bị thiếu trên 20m². Đề nghị chấp nhận kháng cáo của Nguyên đơn sửa án sơ thẩm Bị đơn trả cho Nguyên đơn vị trí B, C theo Trích đo.
* Quan điểm của Viện kiểm sát:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội thẩm nhân dân, Hội đồng xét xử, đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung, đề nghị: Trên cơ sở tài liệu chứng và quá trình sử dụng, sau năm 2013 khi có tranh chấp các bên hòa giải thành tại địa phương, sau đó cấm ranh sử dụng ổn định cho đến nay, không tranh chấp. Vì vậy Nguyên đơn yêu cầu buộc Bị đơn trả lại diện tích đất tại vị trí B, C theo bản Trích đo địa chính cho Nguyên đơn là không có căn cứ. Nguyên đơn kháng cáo không cung cấp thêm chứng cứ mới nên không có cơ sở để xem xét. Bản án sơ thẩm xử là có căn cứ đề nghị giữ nguyên.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Ý kiến của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn trả lại một phần diện tích đất thuộc thửa 1801, tờ bản đồ số 01 nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Đồng thời, Bị đơn có nơi cư trú tại quận Ô. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án Nhân dân quận Ô Môn theo qui định tại Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng:
Tại phiên toà, Nguyên đơn có thay đổi yêu cầu khởi kiện nhưng không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, nên chấp nhận.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần những người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Đào Hữu T1 nhưng vẫn vắng mặt, đồng thời nhận thấy việc giải quyết vụ án không liên quan đến quyền, nghĩa vụ của ông T1 nên vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[3] Về nguồn gốc đất, quá trình sử đụng đất: Nguyên đơn, Bị đơn đều thống nhất nguồn gốc thửa đất số 1801 là do Nguyên đơn nhận chuyển nhượng từ năm 2006 của ông Đào Hữu T1.
[3.1] Theo lời trình bày của Nguyên đơn, sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 1801 của ông Đào Hữu T1 với diện tích 88m², loại đất ODT vào năm 2006 thì được ông Đào Hữu T1 bàn giao đất, chỉ ranh nhưng không xác định được chính xác do ông T đã tự ý nhổ ranh khi bơm cát. Cho thấy, khi nhận chuyển nhượng đất của ông T1, Nguyên đơn chỉ dựa vào diện tích do ông T1 đăng ký sổ mục kê để cho rằng diện tích đất nhận chuyển nhượng là 88 m², và thực tế không có cơ sở ghi nhận thời điểm năm 2006 Nguyên đơn đã nhận bàn giao đủ 88 m² từ ông T1.
Theo chứng cứ là hồ sơ địa chính thửa 1801 có trong hồ sơ vụ án thể hiện việc ông Đào Hữu T1 đăng ký vào sổ mục kê thửa đất 1801 với diện tích 88 m², loại đất ODT chỉ có sổ mục kê, không có biên bản mô tả ranh giới, mốc giới, kích thước cụ thể của các cạnh tại thời điểm kê khai. Theo Khoản 15 Điều 4 Luật Đất đai 2003 quy định: “Sổ mục kê đất đai là sổ được lập cho từng đơn vị xã, phường, thị trấn để ghi các thửa đất và các thông tin về thửa đất đỏ” và Khoản 1 Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 01/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai quy định:
“Điều 18. Giấy tờ khác về quyền sử dụng đất quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai
Các giấy tờ khác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai có tên người sử dụng đất, bao gồm:1. Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18 tháng 12 năm 1980.”
Theo quy định căn cứ xác lập quyền sử dụng đất của cá nhân được xác lập khi nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất và có hiệu lực từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai ngày 18/7/2024 thì ông Đào Hữu T1 chưa đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời điểm đăng ký sổ mục kê là sau ngày 18/12/1980 nên được xem là Nhà nước chưa công nhận quyền sử dụng đất với diện tích 88m². Đồng thời theo Điều 106 Luật đất đai năm 2003 quy định:
“Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 110; khoản 2 và khoản 3 Điều 112; các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 113; khoản 2 Điều 115; điểm b khoản 1, các điểm b, c, d, đ và e khoản 3 Điều 119; điểm b khoản 1, điểm b và điểm c khoản 2 Điều 120 của Luật này khi có các điều kiện sau đây:
a) Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;”
Vì vậy, việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Nguyên đơn từ ông Đào Hữu T1 thửa đất 1801 được xem là chưa đủ điều kiện chuyển nhượng nên không thể căn cứ vào diện tích 88m² đăng ký sổ mục kê để làm căn cứ giải quyết vụ án.
[3.2] Xét quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các đương sự đều thừa nhận năm 2013, các bên phát sinh tranh chấp liên quan đến thửa đất 1801 tại UBND phường T và được hòa giải thành, các bên đã về cắm ranh, sử dụng ổn định từ năm 2013 đến nay. Bên cạnh theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 03/8/2023, bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 17/8/2013, Bản trích đo địa chính số 112 ngày 24/5/2024 thể hiện hiện trạng thực tế Nguyên đơn sử dụng có một phần ghi chú A, loại đất NT thuộc thửa đất 1329 của Bị đơn, hình thể hình chữ nhật, có cắm các trụ ranh bằng đá và đã xây nhà kiên cố trên phần đất này. Còn phần đất có ghi chú B, C trên bản Trích đo địa chính số 112 thì do ông T đang quản lý sử dụng. Từ đó cho thấy giữa các bên đã có sự trao đổi đất với nhau sau khi được hòa giải tại UBND phường T năm 2013, kể từ khi xác định ranh năm 2013 đến nay các bên sử dụng ổn định không xảy ra tranh chấp. Do vậy cần áp dụng tương tự pháp luật tại tiểu mục 2, Mục II Nghị quyết số 02 ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án Nhân dân Tối cao cần ổn định diện tích sử dụng đất theo hiện trạng hiện nay cho các bên, công nhận diện tích thửa 1801 là 71,7m² cho Nguyên đơn, công nhận diện tích 7,2m² (ghi chú A) cho Nguyên đơn nhằm giải quyết triệt để vụ án.
Nguyên đơn, Bị đơn được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký, chỉnh lý biến động, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hướng dẫn tại điểm b Khoản 5 Điều 2 Thông tư số 09 ngày 30/6/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật đất đai của Bộ T2 và các quy định khác có liên quan.
[3.3] Đối với ý kiến của Nguyên đơn về diện tích đất 26,6 m² và 25,5 m² trên bản Trích đo địa chính số 112. Xét thấy diện tích này thuộc lề lộ (đất thuộc Nhà nước quản lý), không thuộc thửa đất 1329 hay 1801 nên không thuộc phạm vi tranh chấp Tòa án đang giải quyết, nên cấp sơ thẩm chưa xem xét đối với phần diện tích này là phù hợp.
[4] Về yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn yêu cầu ông T giao trả phần đất tại vị trí B có diện tích 3,5m² và vị trí C có diện tích 18,1m². Tổng cộng là 21,6m² theo Trích đo ngày 24/5/2024.
Xét thấy như trên nhận định khi Nguyên đơn chuyển nhượng đất của ông T1 năm 2006, diện tích theo sổ mục kê và các bên không đo đạc hiện trạng vị trí cụ thể khi giao nhận đất, năm 2013 đã có tranh chấp giữa Nguyên đơn và Bị đơn, khi đó được hòa giải thành tại địa phương, sau đó các bên tự cấm ranh và sử dụng ổn định từ đó cho đến nay không phát sinh tranh chấp. Vì vậy Nguyên đơn cho rằng phí Bị đơn lấn đất để yêu cầu Bị đơn giao trả phần diện tích vị trí B,C theo Trích đo số 112 là không có cơ sở. Hơn nữa căn cứ vào quyết định của Bản án sơ thẩm tuyên thì diện tích công nhận cho Nguyên đơn là 78,9m², chỉ thiếu 9,1m² so với diện tích ban đầu chuyển nhượng của ông T1, tại thời điểm chuyển nhượng năm 2006 cho đến hiện nay Nguyên đơn sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ mới nào khác, nên không có cơ sở để xem xét. Vì vậy không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn. Bản án sơ thẩm xử là có căn cứ được giữ nguyên.
[5] Quan điểm của Viện kiểm sát: Nhận xét và đề nghị của Viện Kiểm sát là chưa phù hợp.
[6] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của Nguyên đơn không được chấp nhận nên Nguyên đơn phải chịu chi phí tố tụng là 4.700.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp xong.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do Nguyên đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu. Tuy nhiên do Nguyên đơn là người cao tuổi được miễn theo qui định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của Nguyên đơn ông Nguyễn Phong V.
- - Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn ông Nguyễn Phong V.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm;
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về việc yêu cầu Bị đơn giao trả diện tích đất 21,6 m² (phần ghi chú B, C theo bản trích đo địa chính số 112 ngày 24/5/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C).
- Công nhận diện tích đất thuộc thửa 1801, tờ bản đồ số 01, diện tích 78,9m² gồm 71,7m² loại đất ODT và 7,2 m² loại đất NT, đất tọa lạc tại phường T, quận Ô, Tp Cần Thơ thuộc quyền sử dụng đất của Nguyên đơn (gồm phần ghi chú A và thửa 1801; không bao gồm phần ghi chú B, C của bản Trích đo địa chính số 112 ngày 24/5/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C).
- Nguyên đơn được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký, chỉnh lý biến động, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở tài sản gắn liền với đất theo quy định. (kèm theo bản trích đo địa chính số 112).
- 2. Giao diện tích đất 21,6 m², loại đất ODT cho Bị đơn quản lý, sử dụng (phần ghi chú B, C của bản Trích đo địa chính số 112 ngày 24/5/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C).
- Bị đơn được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký, chỉnh lý biến động cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở tài sản gắn liền với đất theo quy định (kèm theo bản trích đo địa chính số 112).
- 3. Về chi phí tố tụng:
- 4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho Nguyên đơn.
- 5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí cho Nguyên đơn. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Biên lai thu số 0004738 ngày 31/7/2024 của Chi cục THA dân sự quận Ô.
Nguyên đơn phải chịu 4.700.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá. Nguyên đơn đã nộp xong.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 08/11/2024.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc Bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hồng Dung |
Bản án số 468/2024/DSPT ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 468/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
