Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 468/2024/HS-PT

Ngày: 17 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Cầu.

Các Thẩm phán:

Bà Huỳnh Thanh Duyên

Bà Phạm Thị Duyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10/6/2024 và 17/6/2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 49/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo Đinh Thị H, Nguyễn Văn T do có kháng cáo của các bị cáo, kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 562/2023/HS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Đinh Thị H, sinh năm 1977 tại Bình Định; Nơi thường trú: 91/10 tổ A, khu phố D, đường A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Hưu trí (nguyên cán bộ ngành Công an); Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn P và bà Nguyễn Thị T1; Có chồng và 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại (có mặt);
  2. Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 tại Quảng Ninh; Nơi thường trú: Thôn G, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (nguyên cán bộ ngành Công an); Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Phan Thị Hoa L; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại (có mặt);

Người bào chữa cho các bị cáo theo yêu cầu: Luật sư Phạm Văn Đ1 - Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt ngày 10/6/2024, vắng mặt ngày 17/6/2024).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị Hữu T2 (xin xét xử vắng mặt)
  2. Địa chỉ: 6.33 Lô H chung cư P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Ông Lê Thanh H1 (có mặt ngày 10/6/2024, vắng mặt ngày 17/6/2024)
  4. Địa chỉ: 9 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Ngoài ra trong vụ án còn 01 bị cáo Hoàng Xuân Đ2 và những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, hành vi phạm tội của Đinh Thị H và Nguyễn Văn T được tóm tắt như sau:

Vào tháng 01/2018, Đinh Thị H, Nguyễn Văn T đang công tác trong ngành Công an nhân dân có vay mượn tiền của nhiều người để kinh doanh và tiêu xài. Để được vay tiền, H, T đã lấy giấy chứng minh Công an nhân dân thật của mình đi làm giả bằng cách scan màu rồi ép plastic giống như giấy thật mang thế chấp cho bà Lê Thị Hữu T2 và ông Lê Thanh H1 để vay tiền. Do H, T không trả tiền lãi và tiền gốc đúng hạn, qua kiểm tra phát hiện Giấy chứng minh Công an nhân dân do H, Thắng thế chấp là giả nên bà T2, ông H1 có đơn tố cáo. Tại Cơ quan điều tra, H, T khai nhận hành vi phạm tội như sau:

1. Hành vi phạm tội của Đinh Thị H:

Khoảng tháng 12/2018, H cần vay tiền để kinh doanh quán cà phê nên nói cho đồng nghiệp là ông Nguyễn Kim H2 biết, ông Hải giới t cho H gặp bà Lê Thị Hữu T2 và ông Lê Thanh H1 là người chuyên cho cán bộ Công an vay tiền, điều kiện là phải thế chấp Giấy chứng minh Công an nhân dân. Do đó, H lấy Giấy chứng minh Công an nhân dân thật của mình đưa cho một người tên B (không rõ lai lịch) làm nghề chạy xe ôm trước cổng trụ sở Công an Quận 1 nhờ đi làm giả 02 Giấy chứng minh Công an nhân dân bằng cách Scan màu và ép plastic. Sau đó, H mang 02 Giấy chứng minh Công an nhân dân trên đi thế chấp cho bà T2 và ông H1 để vay tiền, cụ thể:

  • Vào trưa ngày 17/12/2018, Nguyễn Kim H2 cùng H đến quán cà phê không nhớ tên ở Quận A, gặp bà T2 để vay 80.000.000 đồng. H đưa Giấy chứng minh Công an nhân dân của mình cho bà T2 và có viết giấy vay tiền (không thu giữ được giấy này). Khoảng vài ngày sau, H có nhu cầu vay thêm tiền, nên liên hệ và gặp bà T2 tại trước trụ sở Công an Q, bà T2 đã cho H vay tiếp số tiền 40.000.000 đồng, bà T2 yêu cầu H viết giấy vay tiền, hẹn trả trong vòng 06 tháng, số tiền ghi trên giấy vay là 120.000.000 đồng (gồm: 80.000.000 đồng vay lần đầu và lần này là 40.000.000 đồng), lãi suất thỏa thuận miệng 5%/tháng. Vào ngày 24/12/2018, H tiếp tục hỏi vay của bà T2 số tiền 80.000.000 đồng. Bà T2 sợ H không trả nợ, nên T2 yêu cầu H đến Văn phòng C, địa chỉ số A đường N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh làm Hợp đồng vay tiền nội dung thể hiện H vay của bà T2 số tiền 420.000.000 đồng, thời hạn trả là 01 năm, lãi suất 1%/tháng. Đến tháng 5/2019, H không trả vốn và lãi, bà T2 kiểm tra nghi ngờ Giấy chứng minh Công an nhân dân của H thế chấp là giả nên làm đơn tố cáo H.

Tại bản Kết luận giám định số 1263 ngày 22/7/2019 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Giấy chứng minh công an nhân dân số B1 mang tên Đinh Thị H được làm giả bằng phương pháp in phun màu.

  • Vào trưa ngày 14/3/2019, Nguyễn Kim H2 chở H đến gặp ông Lê Thanh H1 tại 01 quán cà phê trên đường N, quận B, để hỏi số tiền 100.000.000 đồng. H thế chấp cho ông H1 Giấy chứng minh Công an nhân dân để nhận số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, H đóng lãi được 01 tháng thì không đóng nữa. Sau đó, ông H1 nghi ngờ Giấy chứng minh Công an nhân dân H3 thế chấp giả nên đã làm đơn tố cáo H.

Tại Bản Kết luận giám định số 1468 ngày 06/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình Công an Thành phố H kết luận: Giấy chứng minh công an nhân dân số B1-422 mang tên Đinh Thị H cấp ngày 22/12/2007 là giả.

Tại Bản kết luận giám định số 1904/KLGĐ-TT ngày 20/11/2019 kết luận Giấy chứng minh Công an nhân dân tên Đinh Thị H được làm giả bằng phương pháp in phun màu.

2. Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn T:

Trong thời gian công tác tại Cục K1 - Bộ C1, T mang bản chính Giấy chứng minh Công an nhân dân của mình đến tiệm photocopy trên đường N, Quận E (không nhớ rõ địa chỉ) đưa cho một nhân viên trong tiệm yêu cầu S màu và ép plastic rồi để sẵn trong bóp. Vào khoảng tháng 02/2019, do cần tiền tiêu xài, T nói với Nguyễn Đức L1 thì L1 giới thiệu cho T bà Lê Thị Hữu T2 để vay tiền nhưng phải thế chấp lại Giấy chứng minh Công an nhân dân, đồng thời L1 cho số điện thoại của bà T2 để T liên hệ. Ngày 21/02/2019, T đến gặp bà T2 tại một quán cà phê, trên địa bàn Quận A, để vay số tiền 70.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 6%/tháng và Thắng thế chấp Giấy chứng minh Công an nhân dân giả cho bà T2. T trả tiền lãi cho bà T2 đến tháng 7/2019 thì không tiếp tục trả tiền lãi và nợ gốc. Nghi ngờ Giấy chứng minh Công an nhân dân của T là giả nên ba T2 đã làm đơn tố cáo.

Tại Bản Kết luận giám định số 1579 ngày 27/9/2019 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Giấy chứng minh công an nhân dân số A1- 622 mang tên Nguyễn Văn T cấp ngày 15/9/2015 là giấy giả. Kết luận giám định số 1904/KLGĐ-TT ngày 20/11/2019 kết luận Giấy chứng minh Công an nhân dân tên Nguyễn Văn T được làm giả bằng phương pháp in phun màu (bút lục 177-181).

Ngoài ra, cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã xử lý hành vi vi phạm của Hoàng Xuân Đ2 (bị cáo không có kháng cáo bản án sơ thẩm). Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra còn thu giữ 03 Giấy chứng minh Công an nhân dân của Nguyễn Đức L1, Vũ Việt A và Vũ Văn Ngọc L2. Kết luận giám định cả 03 Giấy chứng minh Công an nhân dân là giả. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 562/2023/HS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2023 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Đinh Thị H 02 (hai) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 341, điểm i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Hoàng Xuân Đ2; Trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • Ngày 04/12/2023 các bị cáo Đinh Thị H, Nguyễn Văn T kháng cáo xin được hưởng án treo;
  • Ngày 07/12/2023 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh H1 kháng cáo yêu cầu bị cáo Đinh Thị H bồi thường 100.000.000 đồng;
  • Ngày 11/12/2023 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Hữu T2 kháng cáo yêu cầu bị cáo Đinh Thị H bồi thường 764.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường 181.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Đinh Thị H và Nguyễn Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh H1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc bị cáo H phải trả cho ông số tiền 100.000.000 đồng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Hữu T2 xin xét xử vắng mặt.

Trong phần tranh luận:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

  • Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo H, T: Các bị cáo là cán bộ ngành công an đã dùng phương pháp in phun màu làm giả thẻ ngành để vay tiền, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Trong đó, bị cáo H làm giả 02 lần, bị cáo T làm giả 01 lần. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo xuất trình thêm tình tiết có nhiều giấy khen, bằng khen. Tuy nhiên hành vi của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của ngành, bị cáo H còn phạm tội nhiều lần. Hình phạt sơ thẩm xử các bị cáo là có căn cứ, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo.
  • Đối với kháng cáo của bà T2, ông H1: Bà T2, ông H1 cho các bị cáo vay tiền, có lãi suất là thỏa thuận dân sự, Mặt khác việc các bị cáo thế chấp giấy giả là bị pháp luật cấm, giao dịch sẽ được giải quyết trong vụ án dân sự, nên yêu cầu kháng cáo của bà T2, ông H1 về việc buộc các bị cáo trả tiền là không có cơ sở chấp nhận.

Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho các bị cáo phát biểu:

  • Mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm có áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đinh Thị H, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có nộp thêm giấy khen cá nhân thành tích xuất sắc của lực lượng công an trong nhiều năm; Gia đình bố mẹ bị cáo là người có công với cách mạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm v, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, nhưng hồ sơ thể hiện bị cáo thuê người photo thẻ ngành nên xem xét theo hướng có lợi cho người phạm tội là không phải làm 02 con dấu mà chỉ là 01 tài liệu, thực hiện 01 lần hành vi phạm tội. Từ đó xử lý hành vi bị cáo ở khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đối chiếu với quy định về án treo thì nhân thân, mức độ hành vi vi phạm của bị cáo H, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chồng bị cáo cũng làm công an nên việc áp dụng hình phạt tù 02 năm tù giam đối với bị cáo là không cần thiết, bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo.
  • Đối với kháng cáo của bị cáo T: Bị cáo phạm tội ở khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có nộp thêm bằng khen, giấy khen thể hiện bị cáo có nhiều thành tích trong công tác vào các năm 2012 đến 2018, bị cáo đều có giấy khen thưởng hàng năm và đột xuất, trong đó có quyết định của giám đốc công an tỉnh K vào năm 2018. Bị cáo đủ điều kiện được áp dụng điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, gia đình bị cáo T có công cách mạng, cha mẹ bị cáo được tặng thưởng nhiều huân huy chương được áp dụng điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xét điều kiện hương án treo thì bị cáo T đủ điều kiện vì có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo phải chăm cha mẹ già trên 65 tuổi là người có công với cách mạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm 2 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo T được hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Đinh Thị H và Nguyễn Văn T; Kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Hữu T2, ông Lê Thanh H1 làm trong hạn luật định nên hợp lệ.

[2] Trong thời gian còn công tác trong ngành Công an nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 12/2018 đến tháng 3/2019, các bị cáo Đinh Thị H, Nguyễn Văn T đã lấy Giấy chứng minh Công an nhân dân thật của mình mang đi làm giả rồi thế chấp cho bà Lê Thị Hữu T2 và ông Lê Thanh H1 để vay tiền. Theo hợp đồng vay tài sản, hai bên thực hiện thỏa thuận đóng lãi hàng tháng. Sau đó, các bị cáo H, T không còn khả năng đóng lãi thì bên cho vay nghi ngờ Giấy chứng minh Công an nhân dân là giấy giả nên đã tố cáo hành vi của các bị cáo đến cơ quan Công an. Theo các Kết luận giám định xác định các Giấy chứng minh Công an nhân do các bị cáo thế chấp để vay tiền được làm giả bằng phương pháp in phun màu; Làm giả trên chất liệu giấy và ép hai lớp nhựa mỏng hai mặt.

Quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để điều tra hành vi làm giả Giấy chứng minh nhân dân Công an nhân dân của Đinh Thị H, Nguyễn Văn T có dấu hiệu phạm tội hay không, nếu có thì còn có dấu hiệu của tội phạm khác hay không. Qua kết quả điều tra bổ sung Viện kiểm sát bảo lưu Cáo trạng truy tố các bị cáo về hành vi “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”, cụ thể là làm giả Giấy chứng minh nhân dân Công an nhân dân để làm tin trong thực hiện giao dịch dân sự.

Với hành vi như đã nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Đinh Thị H, Nguyễn Văn T phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” theo Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo:

Các bị cáo nguyên là cán bộ Công an nhân dân nên buộc phải biết rõ hành vi làm giả Giấy chứng minh Công an nhân dân và sử dụng sai mục đích là thực hiện hành vi trái pháp luật. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, hình ảnh của lực lượng Công an nhân dân. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình nhưng do cần tiền tiêu xài nên đã cố ý phạm tội. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, mới đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo Nguyễn Văn T đã làm giả 01 Giấy chứng minh Công an nhân dân là dấu hiệu định tội được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Bị cáo Đinh Thị H đã làm giả 02 Giấy chứng minh Công an nhân dân là dấu hiệu định khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo tương đối thành khẩn khai báo; Bị cáo T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử đối với các bị cáo là có căn cứ, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo và cung cấp các tài liệu, chứng cứ sau:

  • Bị cáo H cung cấp tài liệu thể hiện ông Đinh Văn P (cha ruột) và bà Nguyễn Thị T1 (mẹ ruột) là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương kháng chiến (hạng nhất, nhì, ba). Bản thân bị cáo có nhiều thành tích trong quá trình công tác, được tặng thưởng huân chương chiến công, huy chương chiến sỹ vẻ vang và các danh hiệu khác của ngành công an.
  • Bị cáo T cung cấp tài liệu thể hiện thành tích của bị cáo trong quá trình công tác, cha mẹ bị cáo là đảng viên và có nhiều đóng góp cho xã hội.

Xét, theo các tài liệu chứng cứ mà các bị cáo cung cấp thì đây là tình tiết giảm nhẹ mới chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm quy định tại điểm v, x khoản 1 Điều (đối với bị cáo H) và khoản 2 Điều 51 (đối với bị cáo H, T) Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, từ đó chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho các bị cáo, cũng đã đủ sức răn đe giáo dục bị cáo, và thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của ông Lê Thanh H1 và bà Lê Thị Hữu T2:

Do các bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” nên trong giới hạn của việc xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản trong vụ án này mà giành quyền khởi kiện vụ án dân sự cho bà Lê Thị Hữu T2, ông Lê Thanh H1 đối với bị cáo Đinh Thị H và Nguyễn Văn T theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (nếu có yêu cầu) là đúng quy định pháp luật. Ngoài ra, vì Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết, nên trong phạm vi giới hạn xét xử phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét yêu cầu của ông H1, bà T2.

[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa; Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của các bị cáo; Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Sửa một phần bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo H, T.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Án phí phúc thẩm:

Do một phần kháng cáo được chấp nhận, nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, nên người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Đinh Thị H, Nguyễn Văn T;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh H1, bà Lê Thị Hữu T2;

Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 562/2023/HS-ST ngày 01/12/2023 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Tuyên bố bị cáo Đinh Thị H, Nguyễn Văn T phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”
  2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341, điểm s, v, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Đinh Thị H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

    Áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

  3. Giành quyền khởi kiện vụ án dân sự cho bà Lê Thị Hữu T2, ông Lê Thanh H1 đối với bị cáo Đinh Thị H, bị cáo Nguyễn Văn T theo thủ tục tố tụng dân sự nếu họ có yêu cầu..
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Đinh Thị H, Nguyễn Văn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
  6. Án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Lê Thanh H1, bà Lê Thị Hữu T2, mỗi người phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0001260 ngày 26/12/2023, 0031652 ngày 15/01/2024 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM
  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - Công an TP.HCM;
  • - Sở tư pháp TP.HCM;
  • - BCTN (2);
  • - NLQ (2);
  • - Lưu (10) 24b (ÁnTTKY).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Huy Cầu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 468/2024/HS-PT ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức

  • Số bản án: 468/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger