|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 467/2024/DS-PT
Ngày 29-8-2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền.
Các Thẩm phán: Ông Lê Sỹ Trứ.
Bà Ngô Thị Bích Diệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phước – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 và 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 277/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 328/2024/QĐ-PT, ngày 23 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 395/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 08 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1963; địa chỉ: tổ C, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Ông Trương Văn C, sinh năm 1950; địa chỉ: tổ A, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị H, sinh năm 1960; địa chỉ: tổ A, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1957; địa chỉ: tổ C, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Phạm Thu T2, sinh năm 1966; địa chỉ: tổ C, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Võ Thị H1, sinh năm 1954; địa chỉ: tổ A, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Ông Trương Phạm H2, sinh 1974; địa chỉ: tổ C, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Bà Trương Phạm Như T3, sinh năm 1976; địa chỉ: tổ F, ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Trương Phạm Quang T4, sinh năm 1979; địa chỉ: tổ C, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Trương Phạm Chí H3, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ A, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Trương Phạm Hoàng H4, sinh năm 1984; địa chỉ: tổ A, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Trương Phạm Hoàng Đ, sinh năm 1986; địa chỉ: tổ A, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Trương Phạm Tứ H5, sinh năm 1989; địa chỉ: tổ A, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H6, sinh năm 1975; địa chỉ: tổ C, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Khu phố B, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Bà Phạm Xuân Đ1, sinh năm 1976; địa chỉ: tổ C, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Phạm Xuân Đ2, sinh năm 1968; địa chỉ: khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Phạm Thị Thu H7, sinh năm 1971; địa chỉ: tổ B, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Lâm Thị H8, sinh năm 1946; địa chỉ: tổ C, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Lâm Thị S, sinh năm 1953; địa chỉ: tổ C, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1948; địa chỉ: tổ E, khu phố A, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Tổng công ty Đ4; địa chỉ: số G H, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Lâm Thị Nguyệt H9, sinh năm 1988; địa chỉ: tổ C, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1964; địa chỉ: tổ C, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Bà Lâm Thị S, sinh năm 1953; địa chỉ: tổ C, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Bà Lâm Thị H8, sinh năm 1946; địa chỉ: tổ B, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Phạm Đỗ Thùy L, sinh năm 1979; địa chỉ: khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo uỷ quyền (văn bản ủy quyền ngày 08/8/2022); có mặt.
Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Minh T5; chức vụ: Phó Giám đốc Điện lực T11, là người đại diện theo uỷ quyền (văn bản uỷ quyền ngày 14/3/2024); có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Viện kiểm sát kháng nghị: Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 25/QĐKN-VKS-DS ngày 20/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Phạm Thị T do bà Phạm Đỗ Thùy L đại diện trình bày:
Cha mẹ của bà Phạm Thị T là cụ Nguyễn Thị T6 (chết năm 2019) và cụ Phạm Văn C1 (chết năm 2007), có 04 người con gồm: bà Phạm Thị T, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị T1 và bà Phạm Thu T2.
Cha mẹ của cụ T6, cụ C1 đều chết trước cụ T6, cụ C1. Khi còn sống, cụ T6 được cha là cụ Nguyễn Văn T7 tặng cho riêng phần đất tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, gồm 02 phần: 01 phần đất trồng đậu và 01 phần đất mồ mả. Cụ T6 sử dụng ổn định diện tích đất nêu trên để trồng đậu và chưa làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất. Năm 1990, cụ T6 chuyển nhượng phần đất trồng đậu cho ông Trương Văn C, nhưng đối với phần đất mộ diện tích khoảng 370m² (đo đạc thực tế có diện tích 413m²) thì cụ T6 không có chuyển nhượng. Giữa diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông C và phần diện tích đất mộ, trước đây được phân cách bằng hàng cây xương rồng, hiện đã được ông C thay thế bằng hàng rào lưới B40.
Năm 2017, khi Nhà nước tiến hành đền bù do thu hồi đất với diện tích 168,9m² thuộc một phần thửa 249, 289, tờ bản đồ số 34, tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Quyết định số 4053/QĐ-UBND ngày 01/8/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên để thực hiện công trình nâng cấp mặt đường đường ĐH 406 (đoạn từ cây xăng A đến ngã tư xã cũ, trong đó diện tích thửa 289 bị thu hồi 68,7m²) thì đơn vị đo đạc có liên hệ để biết thông tin về khu đất mộ nêu trên được ông C hướng dẫn gặp gia đình bà T. Sau đó, bà T phát hiện ông C đã đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ thửa đất số 289 vào năm 2001, trong đó có phần đất mộ diện tích 370m² nêu trên. Ông C thống nhất nhận tiền bồi thường và chuyển lại cho bà T, bà T đã được ông C giao số tiền 240.000.000 đồng tiền đền bù có sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn R, là bí thư khu phố B, phường K.
Tại biên bản hòa giải ngày 19/11/2020 do Ủy ban nhân dân phường K lập, Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai đã hòa giải về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 289 và kết luận ông C phải giữ nguyên hiện trạng khuôn viên mồ mả bên gia đình bà Phạm Thị T đã có tường xây cố định, có lưới B40 bao quanh phần khu vực mộ để gia đình bà T đến chăm sóc, duy tu mồ mả ông bà, ông Trương Văn C không tách phần đất mồ mả chuyển nhượng cho người khác, không yêu cầu gia đình bà T di dời mộ, đồng thời đề nghị bà Phạm Thị T cải tạo, chăm sóc mồ mả trong phần đất ông Trương Văn C đã thống nhất chừa ra. Tuy nhiên, ngày 06/5/2022, bà T đến phần đất mộ để trồng một số cây dừa trên đất tạo bóng mát cho các ngôi mộ của ông bà thì ông C không đồng ý và tự nhổ hết những cây dừa bà T trồng trên khu đất mộ, không tôn trọng thỏa thuận theo biên bản tại Ủy ban nhân dân phường K. Do đó, bà Phạm Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận phần đất diện tích 413m², thuộc thửa đất số 289, tờ bản đồ 34 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương là di sản của cụ Nguyễn Thị Trương c để lại. Buộc ông Trương Văn C và những thành viên trong hộ ông C gồm các ông, bà Võ Thị H1, Trương Phạm H2, Trương Phạm Như T3, Trương Phạm Quang T4, Trương Phạm Chí H3, Trương Phạm Hoàng H4, Trương Phạm Hoàng Đ, Trương Phạm Tứ H5, Nguyễn Thị H6 phải trả lại cho bà T và các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Thị T6, gồm các bà: Phạm Thị T1, Phạm Thị H, Phạm Thu T2 phần đất có diện tích 413m² thuộc thửa đất số 289, tờ bản đồ 34 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố T thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01788 QSDĐ/TU ngày 18/6/2001 cấp cho hộ ông Trương Văn C theo quy định của pháp luật.
Bà T thống nhất với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá, không có ý kiến gì khác. Đối với 03 trụ điện do Nhà nước trồng trên phần đất thì nguyên đơn không có ý kiến, đề nghị giữ nguyên hiện trạng phần trụ điện.
- Bị đơn ông Trương Văn C trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 289 đang tranh chấp là do ông C nhận chuyển nhượng của cụ Nguyễn Thị Trương v năm 1990, việc chuyển nhượng này được viết giấy tay, giấy tay này do cụ Trương viết sẵn và đem xuống nhà ông C, đã được ông C nộp cho Ủy ban nhân dân xã K (nay là phường K), ông C không còn lưu giữ giấy chuyển nhượng này. Do thời gian đã lâu, ông C không nhớ rõ giá chuyển nhượng, chỉ nhớ khoảng 2,5 chỉ vàng. Khi thỏa thuận chuyển nhượng, ông C có yêu cầu cụ Trương di d các khu mộ (mộ đắp bằng đất) trên thửa đất số 289 nhưng cụ T6 trình bày hoàn cảnh nếu di dời sẽ tốn chi phí và trong đó có một số ngôi mộ là của gia đình bà con thân tộc không phải chỉ người thân của gia đình cụ T6. Do cụ T6 năn nỉ nên ông C đồng ý, không yêu cầu cụ Trương di d những ngôi mộ trên đất nêu trên, cũng không yêu cầu cụ T6 giảm giá chuyển nhượng.
Trước khi Ủy ban nhân dân xã K thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã họp dân để thông báo về thủ tục xin cấp đất, quyền khiếu nại theo quy định. Ông C đã thực hiện các thủ tục theo hướng dẫn của cán bộ địa chính lúc đó là ông Đoàn Hồng T8. Việc cấp đất được thực hiện theo quy định và được Hội đồng đăng ký đất xã Khánh Bình xét duyệt và công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã K, nếu ai có khai báo thêm hoặc khiếu nại thì nộp đơn để Hội đồng đăng ký đất thẩm tra giải quyết trong thời hạn 15 ngày. Do cụ T6 đã chuyển nhượng đất cho ông C nên cụ T6 không có đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 289, dù nhà cụ T6 đối diện cách khu đất tranh chấp khoảng 30m - 40m. Khi còn sống (cụ T6 chết tháng 3/2019), cụ T6 cũng không có khiếu nại gì về việc ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 289. Quá trình sử dụng đất, ông C đã nộp thuế, phí trước bạ đối với phần đất nêu trên đầy đủ từ thời điểm năm 2001 cho đến nay.
Ông C đã trả tiền đầy đủ và được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành phố T) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S749216, số vào sổ 01788/QSDĐ/TU ngày 18/6/2001. Sau khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông C sử dụng đất đúng theo cam kết với cụ T6, làm hàng rào B40 để bao quanh phần mộ của gia đình cụ T6, vẫn cho gia đình cụ Trương lui t chăm sóc mộ. Ông C không thay đổi hiện trạng khu đất mộ nêu trên.
Năm 2017, khi Nhà nước tiến hành đền bù do thu hồi đất với diện tích đất 168,9m² thuộc một phần thửa 249, 289 theo Quyết định số 4053/QĐ-UBND ngày 01/8/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên để thực hiện công trình nâng cấp mặt đường ĐH 406 (đoạn từ cây xăng A đến ngã tư xã cũ, trong đó diện tích thửa 289 bị thu hồi 68,7m²), đơn giá bồi thường là 3.800.000 đồng/m². Do bà T khiếu nại, sau đó ông C có đến Văn phòng phát triển quỹ đất ký biên bản ngày 15/11/2017, trong đó có nội dung sau khi nhận tiền bồi thường liên quan tới diện tích đất của thửa 289 bị thu hồi, ông C sẽ cho gia đình bà T số tiền này. Mục đích của việc giao tiền này là ông C nghĩ đến truyền thống uống nước nhớ nguồn, nghĩ đến công lao của gia đình cụ T6 trong việc khai khẩn một phần diện tích đất (khoảng 25.000m² mà hiện nay ông C đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có diện tích đất nhận chuyển nhượng từ cụ T6, diện tích đất nhận từ 05 - 06 người khác trước đó đã nhận chuyển nhượng của cụ T6) nên ông C muốn cho gia đình bà T một phần trong số tiền bồi thường để gia đình bà T duy tu, sửa chữa, xây mới khu mộ đất đã bị xuống cấp, mỗi lần mưa xuống là bị sạt đất, giúp cho mặt tiền trước khu đất ông C được sạch sẽ. Vì là phần mộ của gia đình bà T nên ông C không thể đứng ra xây sửa được. Bên cạnh đó, ông C cũng muốn việc nâng cấp mặt đường được thuận lợi, không bị vướng khiếu nại. Đối với nội dung ghi trong biên bản ngày 15/11/2017 là do phía đại diện Trung tâm phát triển Quỹ đất ghi để cho việc giải quyết bồi thường và triển khai dự án được thuận lợi nên ông C mới ký tên.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T thì ông C không đồng ý, vì ông C là người nhận chuyển nhượng hợp pháp đối với toàn bộ thửa đất 289 và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Phần đất hiện do những người trong hộ ông C gồm có: ông Trương Văn C, bà Võ Thị H1, ông Trương Phạm H2, bà Trương Phạm Như T3, ông Trương Phạm Quang T4, ông Trương Phạm Chí H3, ông Trương Phạm Hoàng H4, ông Trương Phạm Hoàng Đ, ông Trương Phạm Tứ H5, bà Nguyễn Thị H6 đang quản lý, sử dụng. Trường hợp gia đình bà T muốn trồng cây, duy tu, sửa chữa khu đất mộ thì phải trao đổi trước, được sự đồng ý của ông C và có xác nhận của chính quyền địa phương.
Ông C thống nhất với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá, không có ý kiến gì khác. Đối với 03 trụ điện do nhà nước trồng trên phần đất thì bị đơn không có ý kiến, đề nghị giữ nguyên hiện trạng phần trụ điện của nhà nước.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông bà: Võ Thị H1, Trương Phạm H2, Trương Phạm Như T3, Trương Phạm Quang T4, Trương Phạm Hoàng H4, Nguyễn Thị H6, Trương Phạm Chí H3, Trương Phạm Hoàng Đ thống nhất trình bày:
Thống nhất ý kiến của ông Trương Văn C, không có ý kiến gì khác. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T thì bà H1, ông H2, bà T3, ông T4, ông H3, ông H4, ông Đ, ông H5, bà H3 không đồng ý, vì vợ chồng bà H1, ông C là người nhận chuyển nhượng hợp pháp đối với toàn bộ thửa đất 289 tờ bản đồ 34, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị T1 và bà Phạm Thu T2 cùng thống nhất trình bày:
Bà H, bà T1 và bà T2 là con ruột của cụ Nguyễn Thị Trương. Khi còn sống, cụ T6 được ông ngoại là cố Nguyễn Văn T7 tặng cho phần đất có diện tích khoảng 4.910m² nay thuộc thửa 249 và phần đất có diện tích khoảng 604m² nay thuộc thửa 289, tờ bản đồ 34 toạ lạc tại xã K, huyện T (nay là phường K, thành phố T), tỉnh Bình Dương. Phần đất này có nguồn gốc của ông cố là cụ Lâm Văn B1 để lại. Khoảng năm 1990, cụ T6 có chuyển nhượng cho ông Trương Văn C phần đất có diện tích khoảng 4.910m² nay thuộc thửa 249. Phần đất thuộc thửa 289 là phần đất dùng để chôn cất mồ mả ông bà nên cụ T6 không chuyển nhượng cho ông C. Tuy nhiên, trong quá trình kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông C đã kê khai luôn thửa đất số 289 và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu số vào sổ 01788QSDĐ/TU ngày 18/6/2001. Nay bà Phạm Thị T khởi kiện ông Trương Văn C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất là thửa 289 nêu trên thì bà H, bà T1 và bà T2 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có yêu cầu độc lập.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Xuân Đ1, bà Phạm Xuân Đ2 và bà Phạm Thị Thu H7 cùng thống nhất trình bày:
Ông Đ1, bà Đ2, bà H7 là anh chị em cùng cha khác mẹ với nguyên đơn bà Phạm Thị T. Cha của ông Đ1, bà Đ2, bà H7 là cụ Phạm Văn C1 có chung sống với cụ Nguyễn Thị T6 trước khi về chung sống với mẹ của ông Đ1, bà Đ2, bà H7. Đến khoảng năm 1967 thì cụ C1 không còn chung sống với cụ T6. Phần diện tích đất thuộc thửa 289, tờ bản đồ 34 tại khu phố B, phường K, thành phố T đang tranh chấp giữa nguyên đơn bà Phạm Thị T9 với bị đơn ông Trương Văn C là của gia đình bà T, ông C1 không có liên quan. Trong vụ án này, ông Đ1, bà Đ2, bà H7 không có liên quan, không có ý kiến và không có yêu cầu độc lập.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị H8 trình bày:
Bà Lâm Thị H8 là con ruột của bà Lâm Thị B2 chết ngày 27/11/1983. Khi mẹ bà H8 chết, gia đình có xin cụ Nguyễn Thị T6 (là mẹ của bà Phạm Thị T) cho được chôn cất trên phần đất của cụ T6 (nay là thửa đất 289, tờ bản đồ 34) toạ lạc tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Nay bà Phạm Thị T khởi kiện ông Trương Văn C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất là thửa 289, tờ bản đồ 34 nêu trên thì bà H8 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có yêu cầu độc lập.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị S trình bày:
Bà Lâm Thị S là con ruột của bà Trần Thị C2 và ông Lâm Văn Đ3, là em của bà Lâm Thị D. Khi cha mẹ và chị của bà S chết, gia đình bà S có xin cụ Nguyễn Thị T6 (là mẹ của bà Phạm Thị T) cho được chôn cất cha, mẹ và chị của bà S trên phần đất của cụ T6 (nay là thửa đất 289, tờ bản đồ 34) toạ lạc tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Nay bà Phạm Thị T khởi kiện ông Trương Văn C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất là thửa 289, tờ bản đồ 34 nêu trên bà S đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có yêu cầu độc lập.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B trình bày:
Ông Nguyễn Văn B là con ruột của bà Lâm Thị H10, chết ngày 24/4/1990. Khi bà H10 chết, gia đình ông B có xin cụ Nguyễn Thị T6 (là mẹ của bà Phạm Thị T) cho được chôn cất bà H10 trên phần đất của cụ T6 (nay là thửa đất 289, tờ bản đồ 34) toạ lạc tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Nay bà Phạm Thị T khởi kiện ông Trương Văn C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất là thửa 289, tờ bản đồ 34 nêu trên thì ông B đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có yêu cầu độc lập.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tổng công ty Đ4 trình bày:
Hiện trạng thửa đất số 289, tờ bản đồ số 34 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương có tồn tại 02 cây cột điện thuộc hạ tầng kỹ thuật lưới điện quốc gia, là tài sản của Tổng công ty Đ4 gồm: Cây thứ nhất là trụ điện bê tông ly tâm hình trụ có chiều dài 12m đang mắc dây điện cao áp 22KV đang vận hành, cây thứ hai là trụ điện bê tông ly tâm hình trụ có chiều dài 8,5m dang mắc dây điện hạ áp 0,4KV đang vận hành. Hiện tại cả 02 cột điện nêu trên đã xây dựng hoàn thành nghiệm thu đưa vào sử dụng từ ngày 01/09/2001 và được thiết kế nằm trong hành lang lộ giới thuộc đường Đ, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố T có ý kiến như sau:
Căn cứ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01788 QSDĐ/TU ngày 18/6/2001 cho hộ ông Trương Văn C là đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 31/8/2000 của ông Trương Văn C được Ủy ban nhân dân xã K (nay là phường K) xác nhận ngày 01/9/2000; hồ sơ địa chính không thể hiện văn bản của cụ Nguyễn Thị T6 về việc chuyển nhượng hoặc đồng ý cho ông Trương Văn C đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa 289, tờ bản đồ 34 tại phường K. Về trình tự kê khai cấp giấy chứng nhận được thực hiện theo quy định tại Thông tư 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của T12. Cụ Nguyễn Thị T6 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời đối với thửa 289. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Người làm chứng ông Nguyễn Văn R trình bày:
Trước đây, ông R là trưởng khu phố B, phường K, thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương. Ông R chỉ biết nguồn gốc thửa đất 289 mà bà T, ông C tranh chấp do cụ Nguyễn Văn T7 (cha của cụ Nguyễn Thị T6, ông ngoại của bà Phạm Thị T) sử dụng, cụ T7 chết thì cụ T6 tiếp tục sử dụng. Khi cụ T6 còn sống thì ông R có nghe cụ T6 nói là có bán phần đất trồng đậu cho ông Trương Văn C, nhưng đối với phần đất có mộ của gia đình cụ T6 thì không có bán. Sau khi ông C nhận tiền bồi thường dự án nâng cấp mặt đường ĐH 406 thì có kêu ông R đến chứng kiến việc giao tiền cho bà T, số tiền giao cụ thể bao nhiêu thì ông R không nhớ rõ.
- Người làm chứng bà Lâm Thị H8 trình bày:
Bà Lâm Thị H8 và bà T có quan hệ họ hàng, phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của cố Lâm Văn B1 (ông cố của bà T) để lại. Việc chuyển nhượng đất như thế nào thì bà H8 không biết, chỉ biết ông C là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng khi Nhà nước nâng cấp mặt đường ĐH 406 thì có đền bù cho gia đình ông C số tiền hơn 200.000.000 đồng, số tiền này ông C có giao cho gia đình bà T.
- Người làm chứng bà Lâm Thị S trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của cố Nguyễn Văn T7, là cha của cụ Nguyễn Thị Trương. Sau khi cố T7 mất thì để lại đất cho cụ T6. Việc cụ Trương bán đất cho ông C như thế nào thì bà S không biết.
- Người làm chứng bà Lâm Thị Nguyệt H9 trình bày:
Bà H9 (tên gọi khác là B3) là con của bà Phạm Thu T2, cháu của bà Phạm Thị T. Bà H9 nghe bà T nói lại nguồn gốc thửa đất 289 tờ bản đồ 34 thuộc khu phố B, phường K, thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên là của bà ngoại bà H9 là cụ Nguyễn Thị T6, khi còn sống thì có bán phần đất trồng đậu cho ông Trương Văn C nhưng đối với phần đất có mộ của gia đình thì không có bán. Đối với số tiền bồi thường do giải tỏa thì ông C có giao tiền cho bà T, số tiền giao cụ thể bao nhiêu thì bà H9 không biết vì không có chứng kiến. Nhưng sau 01 ngày kể từ ngày ông C giao tiền cho bà T, thì bà Võ Thị H1 (vợ ông C) có liên hệ gọi bà H9 đến nhà để đưa cho bà Hằng số tiền 30.000.000 đồng. Bà H1 nói là nếu bà T không xây sửa các ngôi mộ trên thửa đất 289 thì bà H9 dùng số tiền 30.000.000 đồng để xây mộ, nếu bà T xây mộ thì số tiền 30.000.000 đồng này chia làm 03 cho bà Phạm Thị H, Phạm Thu T2 và Phạm Thị T1 mỗi người 10.000.000 đồng.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị T đối với bị đơn ông Trương Văn C về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Buộc các ông, bà Trương Văn C, Võ Thị H1, Trương Phạm H2, Trương Phạm Như T3, Trương Phạm Quang T4, Trương Phạm Chí H3, Trương Phạm Hoàng H4, Trương Phạm Hoàng Đ, Trương Phạm Tứ H5, Nguyễn Thị H6 có nghĩa vụ trả lại cho những người thừa kế của cụ Nguyễn Thị Trương g các bà: Phạm Thị T, Phạm Thị T1, Phạm Thị H, Phạm Thu T2 phần đất diện tích 413m² (bao gồm 362m² đất và 51m² mộ) thuộc thửa đất số 289, tờ bản đồ 34 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, phần đất có tứ cận: Hướng Đông giáp đường L; hướng Tây, Nam giáp thửa đất số 249; hướng Bắc giáp đường đất (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Di sản của cụ Nguyễn Thị T6 là quyền sử dụng phần đất diện tích 362m², thuộc thửa đất số 289, tờ bản đồ 34 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Bà Phạm Thị T, bà Phạm Thị T1, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thu T2 có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền đăng ký, đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo nội dung quyết định của bản án.
Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi, điều chỉnh một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 174429, số vào sổ cấp GCN: CH03455 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 25/12/2012 mang tên hộ ông Trương Văn C đối với thửa đất số 289 theo quyết định của bản án.
Bà Phạm Thị T có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trương Văn C số tiền 473.800 đồng (Bốn trăm bảy mươi ba nghìn tám trăm đồng). Sau khi thanh toán, bà T được quyền sở hữu 03 cây mai, 07 cây đinh lăng trên đất.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị T về việc yêu cầu công nhận phần đất diện tích 51m² (diện tích mộ) thuộc thửa đất số 289, tờ bản đồ 34 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương là di sản của cụ Nguyễn Thị Trương g.
- Về chi phí tố tụng: ông Trương Văn C phải chịu số tiền 24.846.083 đồng (Hai mươi bốn triệu tám trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm tám mươi ba đồng) để hoàn trả cho bà Phạm Thị T.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, về chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 20/5/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 25/QĐKN/VKS-DS với nội dung đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2024/DS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên theo hướng công nhận diện tích đất mộ 51m² là di sản của cụ T6, nguyên đơn không phải thanh toán giá trị 03 cây mai, 07 cây đinh lăng cho bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Phạm Thị T do bà Phạm Đỗ Thùy L đại diện đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Quyết định kháng nghị số 25/QĐKN-VKS-DS ngày 20/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Bị đơn ông Trương Văn C đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngày 20/5/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên kháng nghị phúc thẩm Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 06/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương là phù hợp thời hạn quy định tại Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Các đương sự đều thống nhất nguồn gốc thửa 289 diện tích 604m² (đã thu hồi 68,7m²) diện tích còn lại 535,3m², trong đó có phần đất tranh chấp có diện tích là 413m² có nguồn gốc là của cụ Nguyễn Thị T6 (chết năm 2019). Khi còn sống được cha là cố Nguyễn Văn T7 tặng cho riêng phần đất này. Nguyên đơn cho rằng năm 1990 cụ T6 (mẹ của nguyên đơn) có chuyển nhượng cho ông C một phần đất nhưng không chuyển nhượng phần thổ mộ. Tuy nhiên, bị đơn cho rằng bị đơn nhận chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 289 của bà T6 diện tích khoảng 1.000m², trong đó có phần đất tranh chấp; khi nhận chuyển nhượng không có ranh đất, có làm giấy tay và ông C đã nộp cho Ủy ban nhân dân phường K để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng căn cứ vào hồ sơ cấp đất cho ông C không có thể hiện nguồn gốc nhận chuyển nhượng. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông C trình bày trong giấy tay chuyển nhượng này không ghi số thửa và tứ cận của diện tích đất ông nhận chuyển nhượng của cụ T6. Tại Công văn số 3066 ngày 22/9/2022, Phòng T13 (nay là thành phố) Tân Uyên xác định: “hồ sơ địa chính không thể hiện văn bản của cụ Nguyễn Thị T6 về việc chuyển nhượng hoặc đồng ý cho ông Trương Văn C đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa 289”. Do vậy, bị đơn cho rằng có giấy viết tay chuyển nhượng toàn bộ thửa đất và đã nộp cho Ủy ban nhân dân phường K là không có cơ sở.
Trên đất tranh chấp có 10 ngôi mộ, trong đó có 05 ngôi mộ của người thân nguyên đơn, 05 ngôi mộ của bà con dòng họ của nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cũng thừa nhận 10 ngôi mộ này là của dòng họ nguyên đơn. Hiện tại, trên đất có 03 cây mai và 07 cây đinh lăng do ông C trồng năm 2020, trồng sau thời điểm phát sinh tranh chấp, 01 số cây trồng tự mọc và hàng rào lưới B40 do bị đơn xây dựng trên ranh, trước đây ranh là hàng cây xương rồng do bà Trương t1 giữa phần đất tranh chấp và phần đất ông C đang quản lý sử dụng. Đồng thời, bị đơn cũng thừa nhận sau khi nhận chuyển nhượng bị đơn không sử dụng phần đất tranh chấp mà gia đình nguyên đơn đến dọn dẹp, thăm viếng mộ.
Ngoài ra, theo hồ sơ bồi thường đối với 01 phần thửa 298 năm 2020 Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên thu hồi diện tích 331,2m² đất của hộ ông Trần Văn C3 trong đó có thu hồi diện tích 68,7m² thuộc một phần thửa đất số 289 để thực hiện công trình nâng cấp mặt đường Đ, tại biên bản về đo đạc kiểm điểm đất và tài sản trên đất ngày 15/11/2017 do Trung tâm phát triển quỹ đất thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên lập, có chữ ký xác nhận của bà T và ông C3, tại biên bản này ông C3 đã xác định do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông đứng tên nên ông nhận tiền bồi thường và đưa lại cho bà T. Quá trình giải quyết vụ án, ông C3 cho rằng việc ông giao lại số tiền đền bù cho bà T là vì ông tặng cho gia đình bà T để duy tu, sửa chữa mồ mả là không phù hợp, mâu thuẫn với nội dung làm việc tại Biên bản về việc đo đạc kiểm điểm đất và tài sản trên đất ngày 15/11/2017.
Mặt khác, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T xác định: Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01788 QSDĐ/TU ngày 18/6/2001 cho hộ ông Trương Văn C, cấp đổi số BL 174429 ngày 25/12/2012 không đo đạc thực tế, không có sự chứng kiến của chủ sử dụng đất liền ranh. Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đương sự không kê khai mộ trên đất nên trên phần đất thuộc thửa đất số 289 có 10 ngôi mộ nhưng lại được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông C. Hiện trạng phần đất có 10 ngôi mộ thì người sử dụng đất không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần diện tích mộ.
Như vậy, có căn cứ xác định quyền sử dụng đất tranh chấp diện tích 413m² thuộc thửa số 289, tờ bản đồ 34 nêu trên là của gia đình nguyên đơn. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn ông C và những người liên quan trong hộ ông C trả lại diện tích 413m² cho nguyên đơn và các đồng thừa kế của cụ T6, kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố T thu hồi, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bị đơn ông Trương Văn C đối với thửa đất số 289 là phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ công nhận diện tích đất 362m² là di sản của cụ Nguyễn Thị Trương c để lại, còn diện tích đất mộ 51m² không công nhận là di sản của cụ T6 với lý do trên đất có mộ không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không phù hợp vì 51m² đất này cũng có nguồn gốc do cụ T6 để lại, việc cơ quan có thẩm quyền không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất mộ không ảnh hưởng đến việc công nhận đất là di sản thừa kế của cụ T6. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên như vậy là mâu thuẫn với nội dung tuyên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả diện tích 413m² và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi, điều chỉnh một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 174429 ngày 25/12/2012 cấp cho hộ ông Trương Văn C đối với thửa đất số 289, làm ảnh hưởng đến quyền thăm nom, chăm sóc và quản lý mồ mả của gia đình nguyên đơn theo phong tục tập quán cũng như truyền thống của người Việt Nam.
Đối với 03 cây mai và 07 cây đinh lăng nguyên đơn yêu cầu bị đơn di dời, chặt bỏ, theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 08/8/2022 thì những cây này bị đơn trồng sau khi nguyên đơn tranh chấp, do đó có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, Tòa án cáp sơ thẩm tuyên buộc nguyên đơn thanh toán giá trị 03 cây mai, 07 cây đinh lăng cho bị đơn là không phù hợp, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Từ những phân tích trên, nhận thấy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên kháng nghị đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ. Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 25/QĐKN/VKS-DS ngày 20/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 06/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương theo hướng công nhận diện tích đất mộ 51m² là di sản của cụ T6, nguyên đơn không phải thanh toán giá trị 03 cây mai, 07 cây đinh lăng cho bị đơn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng: Ngày 20/5/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 25/QĐKN-VKS-DS đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 06/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương là còn trong thời hạn kháng nghị và thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm theo quy định tại Điều 280 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Nguyên đơn bà Phạm Thúy T xác định vào năm 1990, cụ Nguyễn Thị Trương c1 chuyển nhượng phần đất trồng đậu cho ông Trương Văn C, còn đối với phần đất mộ diện tích khoảng 370m² (đo đạc thực tế diện tích hiện còn 413m²) thì cụ T6 không có chuyển nhượng. Giữa diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông C và phần diện tích đất mộ, trước đây được phân cách bằng hàng cây xương rồng, hiện đã được ông C thay thế bằng hàng rào lưới B40. Năm 2017, khi Nhà nước tiến hành đền bù do thu hồi đất với diện tích đất 168,9m² thuộc một phần thửa số 249 và thửa số 289 thì bà T phát hiện ông Trương Văn C đã đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ thửa đất số 289 vào năm 2001, trong đó có cả phần đất mộ diện tích 413m² nêu trên. Ông C đã thống nhất nhận tiền bồi thường đối với thửa đất số 289 và giao lại cho bà T số tiền bồi thường về đất là 240.000.000 đồng. Từ trước đến nay, gia đình bà T vẫn quản lý, chăm sóc, duy tu mồ mả ông bà tại phần đất trên, phía ông C cũng không có ý kiến phản đối. Do đó, bà T yêu cầu Tòa án công nhận phần đất diện tích 413m², thuộc thửa đất số 289, tờ bản đồ 34 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương là di sản của cụ Nguyễn Thị Trương c để lại. Buộc ông Trương Văn C và những thành viên trong hộ ông C gồm các ông, bà Võ Thị H1, Trương Phạm H2, Trương Phạm Như T3, Trương Phạm Quang T4, Trương Phạm Chí H3, Trương Phạm Hoàng H4, Trương Phạm Hoàng Đ, Trương Phạm Tứ H5, Nguyễn Thị H6 phải trả lại cho bà T và các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Thị T6, gồm: bà Phạm Thị T1, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thu T2 phần đất diện tích 413m², thuộc thửa đất số 289. Bị đơn ông Trương Văn C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cho rằng phần đất đang tranh chấp là do ông C nhận chuyển nhượng của cụ Nguyễn Thị Trương v năm 1990. Ông C đã trả tiền đầy đủ và sử dụng đất đúng theo cam kết với cụ T6, làm hàng rào lưới B40 để bao quanh phần mộ của gia đình cụ T6, vẫn cho gia đình cụ Trương lui t chăm sóc mộ. Ông C không thay đổi hiện trạng khu đất mộ nêu trên. Năm 2001, hộ ông C đã được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành phố T) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng quy định, cụ T6 cũng không có khiếu nại gì về việc ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 289.
- Xét về nguồn gốc và việc đăng ký kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận phần đất tranh chấp nêu trên có nguồn gốc của cố T7 cho lại cụ Nguyễn Thị Trương. Trước đây, cố T7, cụ T6 đều không có đăng ký kê khai và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp. Năm 2000, ông Trương Văn C đăng ký kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/6/2001 với tổng diện tích 67.029m² (trong đó thửa đất số 289 diện tích 604m²). Năm 2012, hộ ông C được Ủy ban nhân dân huyện T cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 174429, số vào sổ cấp GCN: CH03455 ngày 25/12/2012 đối với thửa đất số 249, 289, chỉnh lý biến động thu hồi diện tích 168,9m² thuộc thửa đất số 249, 289, diện tích còn lại của thửa đất số 289 là 535,3m².
- Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 08/8/2022 thể hiện: Trên phần đất tranh chấp có 10 ngôi mộ của các ông, bà Lâm Văn B1, Nguyễn Thị V, Nguyễn Văn H11, Nguyễn Văn H12, Nguyễn Văn T10, Lâm Thị B2, Lâm Thị D, Trần Thị C2, Lâm Văn Đ3, Lâm Thị H10; 03 cây mai và 07 cây đinh lăng do ông C trồng năm 2020; 01 trụ điện hình trụ vuông không còn sử dụng; 02 trụ điện tròn. Xung quanh phần đất có hàng rào bằng móng xây gạch, trụ sắt, lưới B40 do ông C xây dựng năm 1995.
- Qua xem xét hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhận thấy: Ông C cho rằng ông đã nhận chuyển nhượng phần đất tranh chấp tại thửa đất số 289 từ cụ Nguyễn Thị Trương v năm 1990. Tuy nhiên, phía nguyên đơn không thừa nhận và ông C cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Tại đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 31/8/2000 của ông Trương Văn C thể hiện ông C đăng ký đối với thửa đất số 289 và những thửa đất khác nhưng các thửa đất khác đều có thể hiện nguồn gốc, còn thửa đất số 289 cũng không thể hiện nguồn gốc đất. Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 289 nêu trên thì không có đo đạc thực tế, chỉ căn cứ theo bản đồ địa chính được thành lập bằng phương pháp ảnh hàng không, không có sự chứng kiến của các chủ sử dụng đất liền kề.
- Xét về quá trình sử dụng đất: Nguyên đơn cho rằng cụ T6 chỉ chuyển nhượng cho ông C phần đất trồng đậu, không chuyển nhượng phần đất có mồ mả, ranh giữa hai phần đất là hàng cây xương rồng và đã được ông C phá bỏ xây dựng lại bằng tường rào gạch, lưới B40 như hiện nay. Từ trước đến nay, phía nguyên đơn vẫn thực hiện việc cải tạo, chăm sóc mồ mả trên phần đất tranh chấp. Phía bị đơn không có quản lý, sử dụng đối với phần đất trên, đến năm 2020 ông C mới trồng một số cây mai, đinh lăng trên phần đất tranh chấp. Tại Biên bản về việc đo đạc, kiểm đếm đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 289 ngày 15/11/2017 thể hiện ý kiến của ông C như sau: “Thửa đất số 289 tờ bản đồ số 34 có một phần diện tích đất bị ảnh hưởng công trình nâng cấp mặt đường ĐH 406. Trên đất có 02 cây trứng cá >5 năm do tôi đứng tên trên GCNQSDĐ. Nay tôi sẽ đứng ra ký nhận tiền bồi thường, hỗ trợ sau đó sẽ trả lại cho bà Phạm Thị T toàn bộ số tiền bồi thường về đất và tài sản trên đất” và ý kiến của bà Phạm Thị T với nội dung như sau: “Tôi thống nhất với nội dung biên bản, ông C sẽ ký nhận tiền bồi thường đất và tài sản trên đất đối với thửa đất số 289 tờ bản đồ số 34. Sau đó ông C sẽ hoàn trả cho tôi toàn bộ số tiền bồi thường do lúc trước thửa đất này của tôi nhưng cấp lộn cho ông C”. Ông C và bà T cùng ký tên xác nhận. Sau khi nhận tiền đền bù, ông C đã giao cho phía bà T số tiền 240.000.000 đồng và bà T đã tiến hành sửa chữa, xây dựng lại các ngôi mộ trên đất vào năm 2018. Ông C cho rằng mục đích của việc giao số tiền này là ông C nghĩ đến truyền thống uống nước nhớ nguồn, nghĩ đến công lao của gia đình cụ T6 trong việc khai khẩn một phần diện tích đất trong đó có diện tích đất nhận chuyển nhượng từ cụ T6 nên ông C muốn cho gia đình bà T một phần trong số tiền bồi thường để gia đình bà T duy tu, sửa chữa, xây mới khu mộ đất đã bị xuống cấp, giúp cho mặt tiền trước khu đất ông C được sạch sẽ, để việc nâng cấp mặt đường được thuận lợi, không bị vướng khiếu nại. Tuy nhiên, phía nguyên đơn không thừa nhận lời trình bày này của ông C. Đồng thời, lời trình bày này của ông C cũng mâu thuận với lời trình bày tại Biên bản về việc đo đạc, kiểm đếm đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 289 ngày 15/11/2017 đã trích dẫn trên. Hơn nữa, ông C cho rằng đã nhận chuyển nhượng phần đất từ năm 1990 nhưng năm 1995 ông C lại xây dựng hàng rào bằng gạch, lưới B40 làm ranh giữa ngăn cách giữa phần đất của ông C với phần đất tranh chấp, trên phần đất tranh chấp có 10 ngôi mộ của nhân thân phía gia đình nguyên đơn. Phía nguyên đơn vẫn thực hiện việc quản lý, sử dụng đất, chăm sóc, cải tạo các ngôi mộ trên đất nhưng phía bị đơn cũng không có ý kiến phản đối, bị đơn cũng không có quản lý, sử dụng đất. Vì vậy, việc ông C cho rằng đã nhận chuyển nhượng phần đất tranh chấp từ cụ Nguyễn Thị T6 là không có cơ sở.
- Trên phần đất tranh chấp có 10 ngôi mộ của các ông, bà Lâm Văn B1, Nguyễn Thị V, Nguyễn Văn H11, Nguyễn Văn H12, Nguyễn Văn T10, Lâm Thị B2, Lâm Thị D, Trần Thị C2, Lâm Văn Đ3, Lâm Thị H10. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến các phần mộ trên đất gồm bà Phạm Thị H, Phạm Thị T1, Phạm Thu T2, Lâm Thị H8, Lâm Thị S, Nguyễn Văn B cũng thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Trương Văn C và những thành viên trong hộ ông C gồm các ông, bà Võ Thị H1, Trương Phạm H2, Trương Phạm Như T3, Trương Phạm Quang T4, Trương Phạm Chí H3, Trương Phạm Hoàng H4, Trương Phạm Hoàng Đ, Trương Phạm Tứ H5, Nguyễn Thị H6 phải trả lại phần đất diện tích 413m², thuộc thửa đất số 289 cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Thị Trương g: Phạm Thị T, Phạm Thị H, Phạm Thị T1, Phạm Thu T2 là có căn cứ. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ công nhận diện tích đất 362m² là di sản của cụ Nguyễn Thị Trương c để lại, còn diện tích đất mộ 51m² không công nhận là di sản của cụ T6 vì lý do trên đất có mộ không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không phù hợp vì 51m² đất này cũng có nguồn gốc do cụ T6 để lại, việc cơ quan có thẩm quyền có cấp hay không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất mộ không ảnh hưởng đến việc công nhận đất là di sản thừa kế của cụ T6. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên như vậy là mâu thuẫn với nội dung tuyên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả diện tích 413m² và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi, điều chỉnh một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 174429, số vào sổ C25/12/2012 mang tên hộ ông Trương Văn C đối với thửa đất số 289, làm ảnh hưởng đến quyền thăm nom, chăm sóc và quản lý mồ mả của gia đình nguyên đơn theo phong tục tập quán cũng như truyền thống của người Việt Nam. Do vậy, cần sửa một phần bản án sơ thẩm xác định di sản của cụ Nguyễn Thị Trương c để lại là quyền sử dụng phần đất diện tích 413m², (bao gồm 362m² đất và 51m² mộ) thuộc thửa đất số 289, tờ bản đồ 34 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tạm giao phần diện tích đất mộ 51m² cho những người thừa kế của cụ Nguyễn Thị Trương g các bà: Bà Phạm Thị T, bà Phạm Thị T1, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thu T2 được quyền quản lý.
- Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 08/8/2022 thì 03 cây mai và 07 cây đinh lăng được bị đơn trồng sau khi nguyên đơn tranh chấp, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc nguyên đơn thanh toán giá trị 03 cây mai, 07 cây đinh lăng cho bị đơn là không phù hợp, cần sửa một phần án sơ thẩm tuyên buộc bị đơn di dời, chặt bỏ 03 cây mai và 07 cây đinh lăng, nguyên đơn không có nghĩa vụ phải bồi thường về giá trị.
- Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 174429, số vào sổ cấp GCN: CH03455 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 25/12/2012 mang tên hộ ông Trương Văn C đối với thửa đất số 249, 289 do cấp không đúng đối tượng nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi, điều chỉnh đối với phần diện tích đất tranh chấp là 413m² tại thửa đất số 289 để cấp lại cho đúng hiện trạng sử dụng đất là có căn cứ, tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm chỉ kiến nghị thu hồi, điều chỉnh một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 174429, số vào sổ cấp GCN: CH03455 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 25/12/2012 mang tên hộ ông Trương Văn C là chưa phù hợp, gây khó khăn cho công tác thi hành án nên cần sửa một phần án sơ thẩm, kiến nghị có quan có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 174429, số vào sổ cấp GCN: CH03455 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 25/12/2012 mang tên hộ ông Trương Văn C đối với thửa đất số 289 để cấp lại cho các đương sự theo nội dung phần quyết định của bản án.
Từ những phân tích trên, có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 25/QĐKN-VKS-DS ngày 20/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá là 24.846.083 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp số tiền 24.846.083 đồng để hoàn trả cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 157 và Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên các ông bà Trương Văn C, Võ Thị H1, Trương Phạm H2, Trương Phạm Như T3, Trương Phạm Quang T4, Trương Phạm Chí H3, Trương Phạm Hoàng H4, Trương Phạm Hoàng Đ, Trương Phạm Tứ H5, Nguyễn Thị H6 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Toà án chấp nhận với số tiền 300.000 đồng. Nguyên đơn bà Phạm Thị T được miễn án phí.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Không đặt ra.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 175, 579, 580, 582, 583 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 101, Điều 106, Điều 166, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 25/QĐKN-VKS-DS ngày 20/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị T đối với bị đơn ông Trương Văn C về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Buộc các ông, bà Trương Văn C, Võ Thị H1, Trương Phạm H2, Trương Phạm Như T3, Trương Phạm Quang T4, Trương Phạm Chí H3, Trương Phạm Hoàng H4, Trương Phạm Hoàng Đ, Trương Phạm Tứ H5, Nguyễn Thị H6 có nghĩa vụ trả lại cho những người thừa kế của cụ Nguyễn Thị Trương g các bà: Phạm Thị T, Phạm Thị T1, Phạm Thị H, Phạm Thu T2 phần đất diện tích 413m² (bao gồm 362m² đất và 51m² mộ) thuộc thửa đất số 289, tờ bản đồ 34 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, phần đất có tứ cận: Hướng Đông giáp đường L; H, Nam giáp thửa đất số 249; Hướng Bắc giáp đường đất (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Xác định di sản của cụ Nguyễn Thị Trương c để lại là quyền sử dụng phần đất có diện tích 413m² (bao gồm 362m² đất và 51m² mộ) thuộc thửa đất số 289, tờ bản đồ 34 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tạm giao cho những người thừa kế của cụ Nguyễn Thị Trương g các bà: Bà Phạm Thị T, bà Phạm Thị T1, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thu T2 được quyền quản lý diện tích đất mộ 51m². Người thân của cụ Nguyễn Thị T6 được quyền chăm sóc mồ mả, thăm viếng trong diện tích 51m² đất mộ trên.
Bà Phạm Thị T, bà Phạm Thị T1, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thu T2 có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền đăng ký, đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo nội dung của phần quyết định này.
Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi, điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 174429, số vào sổ cấp GCN: CH03455 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 25/12/2012 mang tên hộ ông Trương Văn C để cấp lại theo nội dung của phần quyết định này.
Ông Trương Văn C có nghĩa vụ di dời, chặt bỏ 03 cây mai, 07 cây đinh lăng gắn liền trên đất để trả lại cho những người thừa kế của cụ Nguyễn Thị Trương g các bà: Phạm Thị T, Phạm Thị T1, Phạm Thị H, Phạm Thu T2 phần đất diện tích 413m² nêu trên.
- Về chi phí tố tụng: Ông Trương Văn C phải chịu số tiền 24.846.083 đồng (Hai mươi bốn triệu tám trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm tám mươi ba đồng) để hoàn trả cho bà Phạm Thị T.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trương Văn C, bà Võ Thị H1, ông Trương Phạm H2, bà Trương Phạm Như T3, ông Trương Phạm Quang T4, ông Trương Phạm Chí H3, ông Trương Phạm Hoàng H4, ông Trương Phạm Hoàng Đ, ông Trương Phạm Tứ H5, bà Nguyễn Thị H6 phải liên đới chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Hoàn trả cho bà Phạm Thị T số tiền 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2021/0006002 ngày 24/6/2022 và Biên lai thu tiền số AA/2021/0006389 ngày 24/10/2022 của Chi Cục thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị T đối với bị đơn ông Trương Văn C về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Không đặt ra.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thanh Tuyền |
Bản án số 467/2024/DS-PT ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 467/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm
