Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 467/2024/HS-ST

Ngày: 05-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Chánh.
  2. Bà Thiều Thị Phi Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 466/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 467/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Phan Xuân D

Tên gọi khác: Không - Giới tính: Nam.

Sinh năm 1997 tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: 138, tổ D, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không

Trình độ học vấn: Lớp 09/12 - Nghề nghiệp: Không.

Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không

Họ tên cha: Lê Xuân D1 - sinh năm 1970 (còn sống).

Họ tên mẹ: Phan Duy Mỹ D2 -sinh năm 1970 (đã chết).

Bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị bắt tạm giữ ngày 03/02/2024, chuyển tạm giam theo lệnh số 360/LTG ngày 06/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

(Có mặt).

Bị hại: Chị Phạm Nguyễn Thủy T, sinh năm 1993.

Địa chỉ: A, tổ F, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Lê Phan Xuân D là người thường xuyên sử dụng rượu dẫn đến bị rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng rượu. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 02/02/2024, sau khi uống rượu, D bị ảo giác muốn tìm người để đánh. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, D mang theo 01 cái kéo để trong túi quần D đang mặc rồi đi ra đến trước nhà ông Phạm Mạnh H- sinh năm 1965, tại số A, tổ D, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. D nhìn thấy xe ô tô hiệu Kia Morning màu trắng biển số 60A-399.66 do chị Phạm Nguyễn Thủy T (con ông H, sinh năm 1993, cư trú tại A tổ F, khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là chủ sở hữu đang đậu trước nhà. D đi đến và dùng kéo mang theo cắt đứt dây điện camera phía sau xe 60A-399.66. Sau đó, D nhặt 01 viên gạch loại 04 lỗ cầm trên tay phải ném làm vỡ tấm kính phía sau xe 60A-399.66, D tiếp tục dùng 01 cục bê tông ném vỡ kính chắn gió phía trước và ném vỡ tấm kính phía sau xe. D nhặt mảnh vỡ của tấm gạch men đập vào phía bên hông trái của xe ô tô nhưng không làm vỡ kính, sau đó D bỏ đi về nhà.

Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 02/02/2024, chị T đến Công an phường A trình báo sự việc. Công an phường A lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Lê Phan Xuân D khai nhận hành vi phạm tội như trên.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) cục bê tông dài 24x19cm dày 10cm và 04 mảnh vỡ gạch men ốp tường, D dùng đập phá xe ô tô 60A-399.66.
  • 01 (Một) xe ô tô hiệu Kia Morning biển số 60A-399.66 số khung 51A4HC105127, số máy G4LAHP003407 bị hư hỏng một số bộ phận trên xe như kính chắn gió phía trước và phía sau của chị Phạm Nguyễn Thủy T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả xe cho chị T.
  • 01 (Một) USB lưu giữ đoạn Video ghi lại hình ảnh sự việc (lưu giữ tại hồ sơ).

Đối với 01 cục gạch 04 lỗ D dùng đập vỡ kính xe ô tô 60A-399.66 đã thất lạc nên không giữ được.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTS ngày 05/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: Tổng trị giá thiệt hại do hư hỏng của xe ô tô Kia Morning biển số 60A-399.66 là 4.950.000₫ (Bốn triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).

* Tại Kết luận giám định Pháp y tâm thần số 327/KL-VPYTW ngày 22/5/2024 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B đối với Lê Phan Xuân D như sau:

  • Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng rượu (F10.71 – ICD.10).
  • Về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi:
    • Tại thời điểm gây án: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
    • Hiện nay: Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

* Quá trình điều tra, chị Phạm Nguyễn Thủy T trình bày: đối với phần dây điện camera phía sau xe 60A-399.66 bị D cắt đứt nhưng không gây thiệt hại, chị T không yêu cầu định giá tài sản và không yêu cầu bồi thường.

* Về trách nhiệm dân sự: chị Phạm Nguyễn Thủy T không yêu cầu Lê Phan Xuân D bồi thường thiệt hại xe 60A-399.66 do D gây ra.

2. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 453/CT-VKSBH-HS ngày 02/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Lê Phan Xuân D về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, theo quy định tại khoản 1, Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;

Áp dụng khoản 1, Điều 178; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Lê Phan Xuân D từ 08 (tám) tháng đến 10 (mười) tháng tù. Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng:

[1.1] Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[1.2] Bị hại chị Phạm Nguyễn Thủy T đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai của chị T. Xét thấy, việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội: Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, kết luận giám định, biên bản ghi lời khai của đại diện hợp pháp bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 21 giờ ngày 02/02/2024, tại khu vực trước nhà số A, tổ D, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lê Phan Xuân D bị rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng rượu, sau khi uống rượu, D có hành vi dùng 01 cục gạch loại 04 lỗ, 01 cục bê tông và mảnh vỡ gạch men đập phá xe ô tô hiệu Kia Morning biển số 60A-399.66 làm hư hỏng kính chắn gió phía trước và phía sau xe 60A-399.66. Tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là 4.950.000₫ (Bốn triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).

- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Lê Phan Xuân D phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, theo quy định tại khoản 1, Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản cáo trạng số 453/CT-VKSBH-HS ngày 02/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm vào trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong xã hội và xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhưng tại thởi điểm phạm tội do sử dụng rượu dẫn đến rối loạn nhân cách và hành vi nên đã có hành động trái pháp luật gây thiệt hại về vật chất cho bị hại.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Cha của bị cáo được tặng Huân chương chiến sỹ vẻ vang, giấy khen, huy chương khi thực hiện nhiệm vụ. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Thiết nghĩ thời gian tạm giam đã đủ sức răn đe đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

[3] Về vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cục bê tông dài 24x19cm dày 10cm và 04 mảnh vỡ gạch men ốp tường do Lê Phan Xuân D sử dụng vào việc phạm tội.

[4] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự:

Chị Phạm Nguyễn Thủy T không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Các vấn đề khác:

Quá trình điều tra, chị Phạm Nguyễn Thủy T trình bày: đối với phần dây điện camera phía sau xe 60A-399.66 bị D cắt đứt nhưng không gây thiệt hại, chị T không yêu cầu định giá tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên:

Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 178; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
    • - Tuyên bố bị cáo Lê Phan Xuân D phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
    • - Xử phạt bị cáo Lê Phan Xuân D 07 (bảy) tháng 02 (hai) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/02/2024.
    • - Áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
  2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cục bê tông dài 24x19cm dày 10cm và 04 mảnh vỡ gạch men ốp tường do Lê Phan Xuân D sử dụng vào việc phạm tội.

    Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Lê Phan Xuân D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

    Bị cáo được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự TP.Biên Hòa
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thành Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 467/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (cố ý làm hư hỏng tài sản)

  • Số bản án: 467/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý làm hư hỏng tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo cố ý làm hư hỏng tài sản người khác
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger