Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 467/2025/DS-ST

Ngày: 20-6-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuý Như

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Nguyễn Thị Hồng Phương
  2. Lâm Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 165/2023/TLST–DS ngày 10 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 468/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 726/2025/QÐST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C
  2. Trụ sở: A T, quận H, Thành phố Hà Nội

    Địa chỉ liên hệ: 5 B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh

    Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Q và Khai thác tài sản ngân hàng TMCP C, địa chỉ: G N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, là đại diện theo ủy quyền theo văn bản ủy quyền số 382/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3 ngày 31/3/2023 của Ngân hàng TMCP C.

    Công ty TNHH MTV Q và Khai thác tài sản ngân hàng TMCP C ủy quyền lại cho ông Nguyễn Võ Chí H, sinh năm 1997, địa chỉ: G N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản ủy quyền số 408/UQ-ACM ngày 01 tháng 6 năm 2023).

    Ông Nguyễn Võ Chí H có mặt.

  3. Bị đơn:
    1. Ông Vũ Minh H1 - Sinh năm 1990
    2. Bà Đặng Quỳnh N - Sinh năm 1992

    Cùng địa chỉ: A, Tổ A, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Về nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 19/04/2022, Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh D và ông Vũ Minh H1, bà Đặng Quỳnh N đã ký Hợp đồng Cho vay số 22.750.111/2022/HĐCV/NHCT908-VUMINHHOANG với nội dung như sau: Số tiền không vượt quá 7.560.000.000 đồng; Mục đích vay là để thanh toán một phần tiền bên vay đã mượn người thân để nhận chuyển nhượng bất động sản phục vụ nhu cầu đời sống; Lãi suất cho vay theo Giấy nhận nợ kèm theo; Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay; Lãi suất chậm trả lãi là 10%/năm tính trên số dư Lãi chậm trả lãi trong hạn tương ứng thời gian chậm trả.

Thực hiện hợp đồng cho vay nêu trên, ngân hàng đã giải ngân cho ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N số tiền 7.560.000.000 đồng (Bảy tỷ năm trăm sáu mươi triệu đồng) theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 04/5/2022, cụ thể như sau: Thời hạn trả nợ là 360 tháng; Ngày trả lãi đầu tiên là 27/06/2022; Lãi suất cho vay: Ưu đãi 8.5%/năm, áp dụng tối đa 12 tháng đầu kể từ ngày giải ngân đầu theo chương trình tín dụng “Vay ưu đãi – Lãi tri ân”. Đến ngày xác định lãi suất, lãi suất ưu đãi theo chương trình tín dụng có thể được điều chỉnh theo thông báo của Bên cho vay. Sau thời gian áp dụng lãi suất ưu đãi trên hoặc khi Bên vay không đáp ứng được điều kiện của chương trình hoặc Bên cho vay chấm dứt chương trình tín dụng trước hạn thì lãi suất cho vay được xác định bằng lãi suất tiết kiệm 36 tháng trả lãi sau VNĐ cộng biên độ 4.5%/năm nhưng không thấp hơn lãi sàn Lãi suất Ngân hàng C quy định từng thời kỳ và định kỳ điều chỉnh lãi suất 1 tháng 1 lần vào ngày 01 hàng tháng. Trong đó, ngày xác định lãi suất là ngày Bên cho vay chấm dứt áp dụng chương trình áp dụng đối với Bên vay.

Ngày 17/5/2022, Ngân hàng đã cấp 02 thẻ tín dụng hạn mức 100.000.000 đồng cho ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng cùng ngày 17/5/2025.

Toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N được bảo đảm bằng các tài sản sau:

Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn với đất tại thửa đất số 12, tờ bản đồ số 18 tọa lạc tại địa chỉ: 6 L, phường T, Q, Thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 8150503156, hồ sơ gốc số 56/2004 do UBND Thành phố C cấp ngày 05/7/2004 cho ông Nguyễn Tuấn T, bà Trần Thị Thu H2 (cập nhật thông tin biến động: Chuyển nhượng cho ông Vũ Minh H1 ngày 31/03/2022).

Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn với đất tại thửa đất số 168, tờ bản đồ số 18 tọa lạc tại địa chỉ: Đường L, phường T, Q, Thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số Y317002, số cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: 01583 QSDD/.... do UBND Thành phố C cấp ngày 31/12/2003 cho ông Nguyễn Tuấn T (cập nhật thông tin biến động: Chuyển nhượng cho ông Vũ Minh H1 ngày 31/03/2022).

Các tài sản trên được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 22.750.111/2022/HĐBĐ/NHCT908-VUMINHHOANG ngày 19/04/2022, được công chứng tại Văn phòng C1, Thành phố Cần Thơ (số công chứng 1399 Quyến số 01/2022 TP/CC-SCC/HDGD) và đã đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B, Thành phố Cần Thơ ngày 20/04/2022).

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N đã trả cho ngân hàng số tiền là 207.194 480 đồng, bao gồm: Số tiền gốc đã trả là 63.000.000 đồng; Số tiền lãi đã trả là 144.194.480 đồng.

Ông Vũ Minh H1, bà Đặng Quỳnh N đã phát sinh nợ quá hạn từ kỳ thanh toán 26/7/2022 đến ngày 25/8/2022.

Tạm tính đến hết ngày 20/6/2025, ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N còn nợ Ngân hàng TMCP C tổng số tiền là 11.766.433.693 đồng, cụ thể như sau:

Dư nợ theo Hợp đồng cho vay số 22.750.111/2021/HDCV/NHCT908-VUMINHHOANG ký ngày 19/04/2022 là 11.586.651.900 đồng, trong đó: Nợ gốc là 7.497.000.000 đồng; lãi trong hạn là 300.694.972 đồng; lãi quá hạn là 3.708.598.132 đồng; Lãi chậm trả lãi trong hạn là 80.358.796 đồng.

Dư nợ thẻ tín dụng của ông Vũ Minh H1 là 146.451.042 đồng và dư nợ thẻ tín dụng của bà Đặng Quỳnh N là 33.330.751 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N phải trả cho Ngân hàng TMCP C toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các chi phí khác phát sinh theo Hợp đồng cho vay số 22.750.111/2021/HDCV/NHCT908-VUMINHHOANG ký ngày 19/04/2022 tạm tính đến hết ngày 20/6/2025 là 11.586.651.900 đồng, trong đó: Nợ gốc là 7.497.000.000 đồng; lãi trong hạn là 300.694.972 đồng; lãi quá hạn là 3.708.598.132 đồng; Lãi chậm trả lãi trong hạn là 80.358.796 đồng;

Buộc ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N phải trả cho Ngân hàng TMCP C toàn bộ số tiền nợ thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng cùng ngày 17/5/2025 tạm tính đến hết ngày 20/6/2025 là 179.781.793 đồng, trong đó: Dư nợ thẻ tín dụng của ông Vũ Minh H1 là 146.451.042 đồng và dư nợ thẻ tín dụng của bà Đặng Quỳnh N là 33.330.751 đồng.

Đồng thời, yêu cầu Tòa án buộc ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N phải tiếp tục trả các khoản lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay, thẻ tín dụng nêu trên kể từ ngày 21/6/2025 cho đến khi ông Vũ Minh H1, bà Đặng Quỳnh N trả hết nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất được thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, Giấy nhận nợ đã ký.

Buộc ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N phải trả cho ngân hàng một lần toàn bộ số tiền nợ nêu trên một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N không thực hiện đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng thì đề nghị Tòa án tuyên ngân hàng TMCP C được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành xử lý thế chấp sau theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 22.750.111/2022/HĐBĐ/NHCT908-VUMINHHOANG ngày 19/04/2022 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật:

Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn với đất tại thửa đất số 12, tờ bản đồ số 18 tọa lạc tại địa chỉ: 6 L, phường T, Q, Thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 8150503156, hồ sơ gốc số 56/2004 do UBND Thành phố C cấp ngày 05/7/2004 cho ông Nguyễn Tuấn T, bà Trần Thị Thu H2 (cập nhật thông tin biến động: Chuyển nhượng cho ông Vũ Minh H1 ngày 31/03/2022).

Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn với đất tại thửa đất số 168, tờ bản đồ số 18 tọa lạc tại địa chỉ: Đường L, phường T, Q, Thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số Y317002, số cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: 01583 QSDD/.... do UBND Thành phố C cấp ngày 31/12/2003 cho ông Nguyễn Tuấn T (cập nhật thông tin biến động: Chuyển nhượng cho ông Vũ Minh H1 ngày 31/03/2022).

Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp vẫn không thanh toán đủ nghĩa vụ gốc, lãi thì buộc ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng theo lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng và giấy nhận nợ đã ký.

Buộc ông Vũ Minh H1, bà Đặng Quỳnh N phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

* Về ý kiến, đề nghị của bị đơn:

Trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa cũng không gửi bất kỳ văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mặc dù đã được Tòa án nhân dân Quận 12 tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập cũng như thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để đến Tòa án để giải quyết vụ kiện.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền. Việc tống đạt các văn bản tố tụng và chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Ngoài ra còn nhận xét về việc tham gia tố tụng của các đương sự. Đồng thời, kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm về thời hạn giải quyết vụ án.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vốn và lãi phát sinh từ hợp đồng tín dụng do hai bên đã xác lập. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”. Bị đơn cư trú tại địa chỉ: A, Tổ A, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Do đó, theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về các yêu cầu của nguyên đơn:

Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để xác định:

Ngân hàng TMCP C là tổ chức tín dụng hoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017, được cấp tín dụng theo hình thức "cho vay" theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Ngày 19/4/2022, nguyên đơn và bị đơn đã ký kết Hợp đồng cho vay số 22.750.111/2021/HDCV/NHCT908-VUMINHHOANG. Ngày 17/5/2022, Ngân hàng đã cấp 02 thẻ tín dụng hạn mức 100.000.000 đồng cho ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng cùng ngày 17/5/2025. Việc nguyên đơn và bị đơn giao kết hợp đồng tín dụng là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật.

Từ ngày 25 tháng 8 năm 2022, bị đơn đã ngưng không trả tiền cho nguyên đơn. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ tại Điều 3 Điều kiện, Điều khoản riêng của Hợp đồng cho vay số 22.750.111/2021/HDCV/NHCT908-VUMINHHOANG ngày 19 tháng 4 năm 2022 nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải hoàn trả tiền vốn gốc là có cơ sở.

Đối với yêu cầu bị đơn trả các khoản tiền lãi: Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng. Đồng thời, căn cứ vào thỏa thuận giữa các bên về lãi và phí tại Điều 2, Điều 3 Điều kiện, Điều khoản riêng của Hợp đồng cho vay số 22.750.111/2021/HDCV/NHCT908-VUMINHHOANG ngày 19 tháng 4 năm 2022, có cở sở chấp nhận yêu cầu lãi của bị đơn.

Do yêu cầu cảu nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp nên có cở sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[4] Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch.

Hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp khi khởi kiện.

[5] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ cho chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 157, 227, 271, 273, 278 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án Dân sự;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  1. Buộc ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N phải trả cho Ngân hàng TMCP C tổng số tiền nợ theo Hợp đồng cho vay số 22.750.111/2021/HDCV/NHCT908-VUMINHHOANG ngày 19/4/2022 tạm tính đến hết ngày 20/6/2025 là 11.586.651.900 (Mười một tỷ năm trăm tám mươi sáu triệu sáu trăm năm mươi mốt ngàn chín trăm) đồng, trong đó: Nợ gốc là 7.497.000.000 đồng (Bảy tỷ bốn trăm chín mươi bảy triệu đồng); Lãi trong hạn là 300.694.972 đồng (Ba trăm triệu sáu trăm chín mươi bốn ngàn chín trăm bảy mươi hai đồng); Lãi quá hạn là 3.708.598.132 đồng (Ba tỷ bảy trăm linh tám triệu năm trăm chín mươi tám ngàn một trăm ba mươi hai đồng); Lãi chậm trả lãi trong hạn là 80.358.796 đồng (T1 mươi triệu ba trăm năm mươi tám ngàn bảy trăm chín mươi sáu đồng);
  2. Buộc ông Vũ Minh H1 phải trả cho Ngân hàng TMCP C tổng số tiền nợ thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 17/5/2025 tạm tính đến hết ngày 20/6/2025 là 146.451.042 đồng (Một trăm bốn mươi sáu triệu bốn trăm năm mươi mốt ngàn không trăm bốn mươi hai đồng).
  3. Buộc bà Đặng Quỳnh N phải trả cho Ngân hàng TMCP C tổng số tiền nợ thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 17/5/2025 tạm tính đến hết ngày 20/6/2025 là 33.330.751 đồng (Ba mươi ba triệu ba trăm ba mươi ngàn bảy trăm năm mươi mốt đồng).
  4. Buộc ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N phải tiếp tục trả các khoản lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay số 22.750.111/2021/HDCV/NHCT908-VUMINHHOANG ngày 19/4/2022 và các Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng cùng ngày 17/5/2025 kể từ ngày 21/6/2025 cho đến khi ông Vũ Minh H1, bà Đặng Quỳnh N trả hết nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất được thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký.
  5. Buộc ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N trả cho ngân hàng T2 số tiền nợ nêu trên một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  6. Trường hợp ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP C thì ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành xử lý thế chấp sau theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 22.750.111/2022/HĐBĐ/NHCT908-VUMINHHOANG ngày 19/04/2022 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật:

    Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn với đất tại thửa đất số 12, tờ bản đồ số 18 tọa lạc tại địa chỉ: 6 L, phường T, Q, Thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 8150503156, hồ sơ gốc số 56/2004 do UBND Thành phố C cấp ngày 05/7/2004 cho ông Nguyễn Tuấn T, bà Trần Thị Thu H2 (cập nhật thông tin biến động: Chuyển nhượng cho ông Vũ Minh H1 ngày 31/03/2022).

    Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn với đất tại thửa đất số 168, tờ bản đồ số 18 tọa lạc tại địa chỉ: Đường L, phường T, Q, Thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số Y317002, số cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: 01583 QSDD/.... do UBND Thành phố C cấp ngày 31/12/2003 cho ông Nguyễn Tuấn T (cập nhật thông tin biến động: Chuyển nhượng cho ông Vũ Minh H1 ngày 31/03/2022).

  7. Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp vẫn không thanh toán đủ nghĩa vụ gốc, lãi thì ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng theo lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng, giấy nhận nợ và giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng đã ký.
  8. Buộc ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Ngân hàng TMCP C đã đóng tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) cho Tòa án theo thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 165/TB-TA ngày 14/6/2023 nên ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ngân hàng số tiền này một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí:

  1. Buộc ông Vũ Minh H1 và bà Đặng Quỳnh N phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch là 119.766.434 (Một trăm mười chín triệu bảy trăm sáu mươi sáu ngàn bốn trăm ba mươi bốn) đồng.
  2. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP C toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp khi khởi kiện là 58.076.154 (Năm mươi tám triệu không trăm bảy mươi sáu ngàn một trăm năm mươi bốn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0005700 ngày 10/4/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

4. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Quận 12;
  • - Chi cục THADS Quận 12;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Túy Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 467/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 467/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger