|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 467/2025/DS-PT Ngày: 30-6-2025 V/v Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, đòi đất bị lấn chiếm |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Lan Anh |
| Các thẩm phán: | Ông Phan Quyết Thắng |
| Ông Trương Chí Anh |
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương - Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Đặng Thị Sơn Cầm - Kiểm sát viên
Ngày 30/6/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số số 360/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất bị lấn chiếm".
Do bản án dân sự sơ thẩm số 53/2023/DS-ST ngày 07/7/2023 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội bị kháng cáo; kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 364/2025/QĐPT-DSPT ngày 28 tháng 5 năm 2025 giữa:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S (viết tắt là Công ty S);
Địa chỉ: Số D, đường L, phường L, quận B, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Đắc B – Chủ tịch Hội đồng quản trị;
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Nguyệt H, sinh năm 1992; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường L, quận B, thành phố Hà Nội; Theo Giấy ủy quyền số 23/2023/GUQ ngày 23/5/2023. Có mặt.
Bị đơn: Ông Phạm Ngọc V, sinh năm 1932;
Địa chỉ: Khu tập thể X, tổ dân phố H, phường L, quận B, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo uỷ quyền của ông V: Ông Trần Xuân C, sinh năm 1956; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường L, quận B, thành phố Hà Nội. Theo Giấy ủy quyền ngày 05/6/2023. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1943;
- Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1972; Có mặt.
- Bà Bùi Thị Phương L, sinh năm 1985;
Cùng địa chỉ: Khu tập thể X, tổ dân phố H, phường L, quận B, thành phố Hà Nội;
Người đại diện uỷ quyền của bà N, bà L: Ông Trần Xuân C, sinh năm 1956; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường L, quận B, thành phố Hà Nội; Theo Giấy ủy quyền ngày 05/6/2023. Có mặt.
- UBND quận B, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
Trụ sở: Lô C, khu liên cơ quan, TDP P, phường M, quận B, thành phố Hà Nội.
- UBND thành phố H. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Sở Nông nghiệp và Môi trường. Trụ sở: Số C T, quận H, thành phố Hà Nội.
Do có kháng cáo toàn bộ vụ án của bị đơn là ông Phạm Ngọc V, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc T, bà Nguyễn Thị N, bà Bùi Thị Phương L và có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/09/2022 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn Công ty cổ phần S (Công ty S) trình bày:
Tiền thân của Công ty S là Xí nghiệp Vật liệu xây dựng và Chế biến lâm sản Chèm. Theo Quyết định số 4541/QĐ-UBND ngày 11/9/2015 của UBND thành phố H (Sau đây gọi tắt là Quyết định số 4541), Hợp đồng thuê đất số 177/HĐTĐ-DTNMT-PC ngày 24/3/2016 và Biên bản bàn giao mốc giới trên thực địa ngày 26/12/2016, Công ty hiện đang quản lý và sử dụng hợp pháp 78.382m² đất tại tổ dân phố H, phường L, quận B, thành phố Hà Nội, gồm:
- + 50.801.9m² (gồm các thửa 12.2, 13.2, 34, 37, 39, 10.2, 17.2, 19, 20, 26, 27, 35, 31, 18.2) nằm ngoài phạm vi 50 mét từ chỉ giới thoát lũ đến chỉ giới xây dựng cho Công ty thuê theo hiện trạng để tiếp tục sử dụng làm trụ sở làm việc, kho bãi, cơ sở kinh doanh, dịch vụ.
- + 12.216.9m² đất (thửa số 38) nằm ngoài phạm vi 50 mét từ chỉ giới thoát lũ đến chỉ giới xây dựng. Công ty tiếp tục sử dụng để nuôi trồng thủy sản.
- + 15.364m² đất (gồm các thửa 12.1, 13.1, 1, 3, 5, 7, 9, 10.1, 17.1, 18.1) nằm trong phạm vi 50 mét từ chỉ giới thoát lũ đến chỉ giới xây dựng, cho Công ty thuê theo hiện trạng để ươm cây giống lâm nghiệp, cải tạo cảnh quan, môi trường.
Khu đất này có nguồn gốc được Ủy ban hành chính thành phố H giao Công ty S sử dụng đất thông qua các Giấy ủy nhiệm sử dụng đất từ năm 1961.
Năm 1992, ông Phạm Ngọc V được Xí nghiệp Chèm bán thanh lý một ngôi nhà để ông V và gia đình ở có diện tích 58.4m². Quá trình sử dụng, ông V đã lấn chiếm, mở rộng bất hợp pháp đất của Công ty là 1681.6m².
Về đền M Chèm nằm trong diện tích đất ông V đang sử dụng: Đền M là cơ sở tôn giáo thờ đạo Mẫu do ông T, con ông V tự lập lên và là cơ sở thờ tự tư nhân, không phải là di tích văn hóa được xếp hạng, hiện do UBND quận B quản lý. Đền M được lập trên nền nhà Văn phòng xưởng cơ điện cũ thuộc diện tích 58.4m² mà ông V được Xí nghiệp Gỗ Chèm bán thanh lý.
Theo quy định của hiện hành, hàng năm Công ty S phải thực hiện 3 nghĩa vụ tài chính trong việc sử dụng đất gồm: Tiền thuê đất phải trả hàng năm, tiền thuế sử dụng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp và tiền chậm nộp của tiền thuê đất - trong trường hợp Công ty S nợ đọng tiền thuê đất. Số tiền này đều phải nộp vào Ngân sách Nhà nước theo thông báo nộp tiền của cơ quan quản lý thuế tại địa phương.
Do đó, ông V và gia đình phải có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ 3 khoản tiền nêu trên cho Công ty S do Công ty S đã nộp cho Ngân sách. Cụ thể:
* Tiền thuê đất phải nộp:
- + Năm 2005: Theo thông báo nộp tiền thuê đất số 532/CCT-TB ngày 26/2/2006 của Chi cục thuế huyện T thì đơn giá tiền thuê đất là: 436.4đ/m²/tháng. Số tiền ông V phải nộp trên diện tích đất sử dụng 1.704.3m² là 8.929.169 đồng
- + Năm 2006: Theo thông báo nộp tiền thuê đất số 2527/CCT ngày 08/7/2006 của Chi cục thuế huyện T đơn giá tiền thuê đất là: 459.3đ/m²/tháng. Số tiền ông V phải nộp là: 9.393.420 đồng
- + Năm 2007: Theo thông báo nộp tiền thuê đất số 300/CCT-TB ngày 13/8/2007 của Chi cục thuế huyện T, đơn giá tiền thuê đất là: 459.3đ/m²/tháng. Số tiền ông V phải nộp là 9.393.420 đồng.
- + Năm 2008: Theo thông báo nộp tiền thuê đất số 2476/CCT-TB ngày 25/8/2008 của Chi cục thuế huyện T đơn giá tiền thuê đất là: 740đ/m²/tháng. Số tiền ông V phải nộp là 15.134.184 đồng.
- + Năm 2009: Theo thông báo nộp tiền thuê đất số 680/CCT-TB ngày 09/3/2008 của Chi cục thuế huyện T, đơn giá tiền thuê đất là: 740đ/m²/tháng. Số tiền ông V phải nộp là 15.134.184 đồng.
- + Năm 2010: Theo thông báo nộp tiền thuê đất số 7953/CCT-TB ngày 14/9/2010 của Chi cục thuế huyện T và Thông báo số 5575/TB-CCT ngày 29/9/2014 của Chi cục thuế quận B, đơn giá tiền thuê đất là: 1.165đ/m²/tháng. Số tiền ông V phải nộp: 23.826.114 đồng.
- + Năm 2011: Theo thông báo nộp tiền thuê đất số 12228/CCT-TB ngày 13/10/2011 của Chi cục thuế huyện T và Thông báo số 5575/TB-CCT ngày 29/9/2014 của Chi cục thuế quận B, đơn giá tiền thuê đất là: 3.876đ/m²/tháng. Số tiền ông V phải nộp là 79.270.402 đồng.
- + Năm 2012: Theo thông báo nộp tiền thuê đất số 12847/TB-CCT-Tr.bạ ngày 29/9/2012 của Chi cục thuế huyện T, đơn giá tiền thuê đất là: 4.665đ/m²/tháng. Số tiền ông V phải nộp là 95.406.714 đồng.
- + Năm 2013: Theo thông báo nộp tiền thuê đất số 12993/TB-CCT-Tr.bạ ngày 12/9/2013 của Chi cục thuế huyện T, đơn giá thuê đất là 3.887đ/m²/tháng. Số tiền ông V phải nộp là 79.495.369 đồng.
- + Năm 2014: Theo thông báo nộp tiền thuê đất số 10875/TB-CCT-TBTK ngày 08/12/2015 của Chi cục thuế quận B, đơn giá thuê đất là 4.451đ/m²/tháng. Số tiền ông V phải nộp là 91.030.072 đồng.
- + Năm 2015: Số tiền ông Phạm Ngọc V phải nộp là: 88.469.345 đồng, gồm:
- ++ Theo thông báo nộp tiền thuê đất số 10874/TB-CCT-TBTK ngày 08/12/2015 của Chi cục thuế Quận B, đơn giá tiền thuê đất từ ngày 01/01/2015 đến ngày 10/9/2015 là: 6.300đ/m²/tháng. Số tiền ông V phải nộp là: 88.205.772 đồng;
- ++ Theo Thông báo số 7962/TB-CT-QLĐ ngày 24/2/2016 của Cục T3, đơn giá tiền thuê đất sản xuất nằm trong chỉ giới là 504đ/m2/năm từ ngày 11/9/2015. Số tiền ông V phải nộp từ ngày 11/9/2015 đến 31/12/2015 là 263.573 đồng.
- + Năm 2016: Đơn giá thuê đất sản xuất nằm trong chỉ giới là: 504đ/m²/năm. Số tiền ông V phải nộp là 858.967 đồng.
- + Năm 2017: Đơn giá thuê đất sản xuất nằm trong chỉ giới là: 504đ/m²/năm. Số tiền ông V phải nộp là 858.967 đồng.
- + Năm 2018: Đơn giá thuê đất sản xuất nằm trong chỉ giới là: 504đ/m²/năm. Số tiền ông V phải nộp là 858.967 đồng.
- + Năm 2019: Đơn giá thuê đất sản xuất nằm trong chỉ giới là: 504đ/m²/năm. Số tiền ông V phải nộp là 858.967 đồng.
- + Năm 2020: Theo thông báo về đơn giá thuê đất, thuê mặt nước số 27073/TB-CT-QTL ngày 24/04/2020 của Cục T3, đơn giá thuê đất sản xuất nằm trong chỉ giới là: 504 đồng/m²/năm. Số tiền ông V phải nộp là 858.967 đồng.
- + Năm 2021: Đơn giá thuê đất sản xuất nằm trong chỉ giới là: 504đ/m²/năm. Số tiền ông V phải nộp là 858.967 đồng.
- + Năm 2022: Đơn giá thuê đất sản xuất năm trong chỉ giới là: 504đ/m²/năm. Số tiền ông V phải nộp là 858.967 đồng
- + Năm 2023: Đơn giá thuê đất sản xuất nằm trong chỉ giới là: 504đ/m²/năm. Số tiền ông V phải nộp tạm tính đến 23/06/2023 là 429.484 đồng.
→ Tổng số tiền thuê đất ông V phải nộp từ ngày 01/01/2005 tạm tính đến ngày 23/06/2023 là 521.924.646 đồng.
* Tiền thuế sử dụng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.
Theo Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ T4 ban hành “Hướng dẫn về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp” có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012, hàng năm Công ty S phải nộp tiền thuế đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.
- - Từ ngày 01/01/2012 đến ngày 31/12/2016, Công ty S phải nộp tiền thuế theo đơn giá 868.2đ/m²/năm. Số tiền ông V phải nộp như sau:
- Năm 2012: 1.704.3m² x 868.2đ/m²/năm = 1.479.673 đồng.
- Năm 2013: 1.704.3m² x 868.2đ/m²/năm = 1.479.673 đồng.
- Năm 2014: 1.704.3m² x 868.2đ/m²/năm = 1.479.673 đồng.
- Năm 2015: 1.704.3m² x 868.2đ/m²/năm = 1.479.673 đồng.
- Năm 2016: 1.704.3m² x 868.2đ/m²/năm = 1.479.673 đồng.
- - Từ ngày 01/01/2017 - ngày 31/12/2022, Công ty S phải nộp tiền thuế theo đơn giá 892.4đ/m²/năm. Số tiền ông V phải nộp như sau:
- Năm 2017: 1.704.3m² x 892.4đ/m²/năm = 1.520.917 đồng.
- Năm 2018: 1.704.3m² x 892.4đ/m²/năm = 1.520.917 đồng.
- Năm 2019: 1.704.3m² x 892.4đ/m²/năm = 1.520.917 đồng.
- Năm 2020: 1.704.3m² x 892.4đ/m²/năm = 1.520.917 đồng.
- Năm 2021: 1.704.3m² x 892.4đ/m²/năm = 1.520.917 đồng.
- - Từ ngày 01/01/2022 đến ngày 31/12/2026, Công ty S phải nộp tiền thuế theo đơn giá 1003.8đ/m²/năm. Số tiền V phải nộp như sau:
- Năm 2022: 1.704.3m² x 1003.8đ/m²/năm = 1.710.776 đồng.
- Năm 2023: 1.704.3m² x 1003.8đ/m²/năm = 1.710.776 đồng.
Tổng số tiền thuế sử dụng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (từ năm 2005 đến năm 2023), ông V phải nộp theo diện tích sử dụng là: 18.424.506 đồng.
Do ông V không nộp các loại tiền trên nên Công ty S tính tiền chậm nộp tiền thuê đất, tiền thuế sử dụng đất cho ông V từ năm 2005 đến ngày 23/06/2023 do Công ty S đã phải nộp thay số tiền chậm nộp tiền trên vào Ngân sách Nhà nước là: 756.128.517 đồng.
Tổng số tiền ông V phải trả cho Công ty S là 1.296.477.668 đồng.
Công ty S đề nghị Tòa án:
- - Buộc ông Phạm Ngọc V và tất cả những người khác có/không có hộ khẩu thường trú, có/không đăng ký tạm trú nhưng đang sử dụng hoặc đang sinh sống tại 1704.3m² diện tích đất lấn chiếm của Công ty S phải tự tháo dỡ, di dời các tài sản đã tự đầu tư xây dựng cũng như các tài sản của họ hiện có tại diện tích đất lấn chiếm và trả lại toàn bộ 1704.3m² diện tích đất đã lấn chiếm cho Công ty S
- - Trả lại cho Công ty S số tiền thuê đất, tiền thuế sử dụng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp và tiền chậm nộp tiền thuê đất Công ty S đã nộp vào ngân sách nhà nước đối với diện tích đất ông V và những người này thực tế sử dụng từ ngày 01/01/2005, tạm tính đến ngày 23/06/2023, tổng số tiền là 1.296.477.668 đồng do Công ty S đã nộp vào Ngân sách nhà nước thay cho ông V và gia đình ông V
* Bị đơn ông Phạm Ngọc V trình bày :
Xí nghiệp Chế biến lâm sản gỗ Chèm được sử dụng đất từ năm 1961 theo các Giấy ủy nhiệm. Ông là cán bộ công ty S từ năm 1966 và cùng gia đình sinh sống trên đất cũng từ năm 1966 đến nay.
Năm 1992 - 1993, Xí nghiệp phân nhà tập thể cho cán bộ công nhân viên xí nghiệp gồm những người đã sinh sống cùng gia đình ở đây từ những năm 1960. Khi thanh lý, Công ty S không ghi rõ chiều dài, rộng của thửa đất, ông không rõ diện tích đất là bao nhiêu nhưng hiện trạng vẫn giữ nguyên từ khi được thanh lý đến nay. Đời sống cán bộ thời gian này rất khó khăn. Từ năm 1969 gia đình ông đã tăng gia khai hoang trên diện tích hơn 800m² trồng cây chăn nuôi và mở rộng đến nay, tổng diện tích sử dụng là khoảng 3.000m². Theo như giấy ủy nhiệm thì sau khi được cấp giấy ủy nhiệm 01 năm vẫn chưa xây dựng thì giấy này mặc nhiên hết giá trị. Đúng ra các giấy ủy nhiệm đã hết giá trị, diện tích trên Xí nghiệp không sử dụng thì xí nghiệp phải có ý kiến liên hệ giao lại cho UBND xã để có kế hoạch sản xuất nhưng xí nghiệp không làm, đây là lỗi của xí nghiệp và UBND xã về vấn đề quản lý. Diện tích nguyên đơn đòi là phần diện tích bỏ hoang gia đình ông tăng gia tự sử dụng từ năm 1990 không ai có ý kiến gì, không có biên bản vi phạm nào cho đến nay, đây là phần đất biến động do tự khai hoang. Ngày 17/6/2016, Sở T5 đã có văn bản xác định là diện tích đất trên theo báo cáo của UBND phường L là diện tích đất được sử dụng không có tranh chấp.
Trên đất ông được Công ty S và tự khai thác, sử dụng thêm, ông T, con trai ông đã xây dựng Đ Mẫu Chèm xây dựng từ những năm 1980. Đến nay gia đình ông V và các đệ tử các nơi đến đây để xây dựng, mở rộng thêm, tôn tạo lập nơi thờ cúng. Hiện Đền M Chèm đã có trong danh mục di tích trên địa bàn Quận mặc dù chưa xếp hạng nhưng thuộc danh mục quận quản lý vì vậy, đề nghị giữ nguyên chờ ý kiến của thành phố.
Ông đề nghị Tòa án bác bỏ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nếu Công ty S muốn thu hồi thì phải có phương án hướng dẫn kê khai đền bù theo luật định. Ông đề nghị nguyên đơn thực hiện đúng theo Quyết định số 4541 và làm rõ số tiền sử dụng đất từng khu từ năm 1993 đến nay để thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Ngọc T trình bày:
Ông là con trai của ông Phạm Ngọc V. Ông Phạm Ngọc V là cán bộ công nhân viên Xí nghiệp chế biến lâm sản Chèm từ năm 1965, nghỉ hưu năm 1986. Gia đình ông V sinh sống trên đất tranh chấp từ những năm 1969 đến nay. Năm 1993, ông Phạm Ngọc V được mua thanh lý 02 căn hộ của khu tập thể Xí nghiệp chế biến xuất khẩu và lâm sản Chèm, diện tích lần lượt là 61.2m²; 69.4m² (có Quyết định bán thanh lý năm 1993, Biên bản xác định ranh giới và đất phụ cận năm 1993) và 01 nhà văn phòng cũ không có chiều dài, chiều rộng (có Phiếu thu ngày 5/9/1992). Quá trình sử dụng, gia đình ông có tự sử dụng ra xung quanh từ những năm 1969, tổng diện tích tự sử dụng là 245.96m². Ngoài ra, gia đình có tăng gia tự sử dụng 872m² tại vị trí đất trồng cây trên dãy đường T - vị trí này là đất tăng gia tự sử dụng. Các diện tích đất trên có xác nhận của Công ty S lập để làm căn cứ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình (Có bảng tổng hợp số liệu, nhà đất, khu tập thể tính đến tháng 01/2008 do Công ty S lập ngày 15/02/2008). Gia đình ông V sử dụng và ăn ở ổn định từ năm 1969 đến nay, không có tranh chấp với ai.
Năm 2015, Công ty S bán cổ phần và thành lập công ty mới. Sau đó, Công ty S được U cho thuê lại 78.382.8m² đất tại tổ dân phố H theo Quyết định số 4541 ngày 11/9/2015. Trong quyết định có nội dung Công ty có trách nhiệm liên hệ với Sở Xây dựng và chính quyền địa phương để hoàn thiện thủ tục bàn giao, xử lý bán nhà đất, cấp giấy chứng nhận cho các hộ gia đình theo quy định của pháp luật đối với diện tích đất đã bố trí cho hộ gia đình, cá nhân là cán bộ công nhân viên của Công ty làm nhà ở. Tuy nhiên, công ty không thực hiện đúng, không đóng tiền thuê đất theo quy định. Hiện nay, những người đang ăn ở và sử dụng tại đây gồm vợ chồng cụ V, vợ chồng ông T và các con của ông T (còn nhỏ). Gia đình ông T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty S.
Ông T thống nhất với yêu cầu của cụ V và đề nghị Tòa án bác bỏ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nếu Công ty S muốn thu hồi thì phải có phương án hướng dẫn kê khai đền bù theo luật định. Ông V đề nghị nguyên đơn thực hiện đúng theo Quyết định số 4541.
- Bà Nguyễn Thị N và bà Bùi Thị Phương L và người đại diện theo ủy quyền ông Trần Xuân C trình bày:
Bà N là vợ ông Phạm Ngọc V, Bà L là vợ ông Phạm Văn T1, các bà đều thống nhất với lời trình bày và yêu cầu, đề nghị của ông V, ông T1 về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
-Nguyên đơn trình bày:
- + Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Phạm Ngọc V và tất cả những người thường trú, tạm trú, đang sử dụng hoặc đang sinh sống tại 1704.3m² diện tích đất gia đình ông V đã lấn chiếm của Công ty S phải tự tháo dỡ, di dời các tài sản đã tự đầu tư xây dựng cũng như các tài sản của họ hiện có tại diện tích đất lấn chiếm và trả lại toàn bộ 1704.3m² diện tích đất đã lấn chiếm cho Công ty;
- + Rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông V và gia đình phải hoàn trả cho Công ty Chèm tiền thuế sử dụng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp và tiền chậm nộp tiền thuê đất mà Công ty S đã nộp vào ngân sách nhà nước đối với diện tích đất ông V và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực tế sử dụng từ ngày 01/01/2005, tạm tính đến ngày 07/07/2023, tổng số tiền là 517.403.124 đồng mà Công ty S đã nộp vào Ngân sách nhà nước đối với diện tích đất họ lấn chiếm và sử dụng của Công ty.
- Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Đề nghị Tòa án bác bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ; Ông V và gia đình sử dụng cải tạo nhà đất được thanh lý và các gian nhà cũ Công ty S (Không xây mới công trình nào) và trồng cây cối lâu năm mà không có ý kiến gì của Công ty liên tục trong nhiều năm, từ những năm 1980 đến nay. Như vậy, nhà và các công trình trên đất phải là của ông V và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Việc chiếm hữu là ngay tình, liên tục, không có tranh chấp gì). Yêu cầu công ty S thực hiện đúng theo Quyết định số 4541 của UBND thành phố H. Đền M Chèm đã là nơi sinh hoạt tín ngưỡng thờ Mẫu từ những năm 1980 đến nay của người dân địa phương (Trước kia là do cụ Vũ Thị Y, mẹ đẻ ông V thờ cúng, sau khi ông T1 đi bộ đội về (năm 1993), đã tiếp quản lý và làm thủ từ của Đ). Đền M đã được UBND thành phố H đưa vào danh mục kiểm kê di tích để quản lí, đề nghị Tòa án xem xét. Việc Công ty S buộc ông V và gia đình là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải trả cho Công ty tiền thuê đất là không có căn cứ vì đất này do gia đình ông V khai hoang, tự khai thác, sử dụng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm phát biểu ý kiến về vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, lập hồ sơ đầy đủ, đúng quy định ; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Các quy định về phiên tòa, thủ tục bắt đầu phiên tòa, tranh tụng đều được thực hiện theo đúng quy định tại Chương 14 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thực hiện đúng một phần các quy định tại Điều 70, 71, 72, 73, 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của mình
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Việc giao đất cho Xí nghiệp Vật liệu xây dựng và chế biến lâm sản Chèm đến Công ty S ngày nay là liên tục, không có giai đoạn nào Nhà nước không thực hiện việc quản lý sử dụng nên không phải là đất bỏ hoang. Việc ông V và gia đình lấn chiếm thêm ngoài diện tích được thanh lý là trái phép nên cần buộc ông V và gia đình phải trả lại toàn bộ diện tích đã lấn chiếm cho Công ty S. Tuy nhiên do trên đất lấn chiếm xây dựng đền M, là cơ sở sinh hoạt tôn giáo trên địa bàn nên cần tạm giao cho ông T1 là thủ từ của đền Q, sử dụng các công trình trên đất có đền M; Không chấp nhận yêu cầu của Công ty S buộc ông V phải hoàn trả cho Công ty Chèm số tiền thuế đất; Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Công ty S về yêu cầu buộc ông V phải nộp tiền thuế đất và tiền chậm nộp tiền thuê đất; Miễn án phí sơ thẩm cho ông V.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 53/2023/DS-ST ngày 07/7/2023, của Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty S:
- Xác định ông Phạm Ngọc V và gia đình (Là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án) lấn chiếm của Công ty S diện tích đất là 1704.3m², trong phần đất Công ty S được giao theo Quyết định số 4541.
- Buộc ông Phạm Ngọc V và gia đình (Là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án) phải trả lại toàn bộ 1704.3m² diện tích đất đã lấn chiếm cho Công ty S (có sơ đồ kèm theo).
- Buộc ông Phạm Ngọc V và gia đình (Là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án) phải tự tháo dỡ, di dời các tài sản đã tự đầu tư, cải tạo, các tài sản khác và cây trồng của họ trên diện tích đất lấn chiếm nêu trên, trừ các công trình thuộc Đền Mẫu Chèm trên diện tích 79m², được xác định bởi các điểm 13, 12, 43, 44, 27, 26, 24, 25, 13 (có sơ đồ kèm theo), được tạm giao cho ông Phạm Ngọc T quản lý đến khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền về Đền M Chèm.
- Buộc ông Phạm Ngọc V phải trả cho Công ty S số tiền thuê đất từ ngày 01/01/2005, tạm tính đến ngày 07/07/2023 với tổng số tiền là 517.403.124 (Năm trăm mười bảy triệu, bốn trăm linh ba nghìn, một trăm hai mươi bốn) đồng.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện về việc đòi tiền chậm nộp tiền thuê đất và tiền thuế sử dụng đất phi nông nghiệp của Công ty S.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và thi hành án.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, các đương sự kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm kháng nghị:
- + Ông Phạm Ngọc V, ông Phạm Ngọc T, bà Nguyễn Thị N, bà Bùi Thị Phương L kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 53/2023/DS-ST ngày 07/7/2023 của Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm với lý do Tòa án sơ thẩm giải quyết không đúng, không chính xác với Luật đất đai, Quyết định 4541/QĐ-UBND ngày 11/9/2015.
- + Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm kháng nghị theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày 20/7/2023 đối với bản án dân sự sơ thẩm số 53/2023/DS-ST ngày 07/7/2023 của Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm về phần đưa thiếu người tham gia tố tụng và xử lý tài sản trên đất tranh chấp. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm trên.
Tại cấp phúc thẩm:
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Toà án đã đưa UBND thành phố H và UBND quận B tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan.
- UBND thành phố H có ý kiến như sau:
- + UBND thành phố H nhận các Văn bản: số 01/CV-TA ngày 03/01/2024, số 200/CV-TA ngày 09/5/2024, và số 2324/CV-TA ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về việc tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất được nhà nước cho thuê tại phường L, quận B, thành phố Hà Nội và đã có các văn bản số 754/VP-TNMT ngày 16/01/2024, số 5614/VP-TNMT ngày 13/5/2024, số 12578/VP-TNMT ngày 15/10/2024 chỉ đạo như sau:
- Giao Sở Tài nguyện và Môi trường chủ trì, phối hợp với Sở Văn hóa và Thể thao; UBND quận B và các đơn vị liên quan rà soát hồ sơ liên quan; có văn bản gửi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về các nội dung theo đề nghị tại các văn bản nêu trên.
- Sở Văn hóa và Thể thao, UBND quận B chủ động rà soát, có ý kiến bằng văn bản (kèm hồ sơ, tài liệu liên quan) gửi Sở T6 đối với các nội dung thuộc chức năng, nhiệm vụ của đơn vị, đảm bảo thực hiện theo đúng tiến độ đề nghị của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- + Thực hiện chỉ đạo của Lãnh đạo UBND thành phố, Sở T6 đã có các Văn bản: số 4916/STNMT-ĐKTKĐĐ ngày 21/6/2024, số 8031/STNMT-ĐKTKĐĐ ngày 09/10/2024 và số 8546/STNMT-ĐKTKĐĐ ngày 25/10/2024 đề nghị:
- Sở Văn hóa và Thể thao, UBND quận B thực hiện rà soát, có ý kiến bằng văn bản (kèm hồ sơ, tài liệu liên quan) theo chức năng, nhiệm vụ của đơn vị đối với các nội dung đề nghị của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tại Văn bản số 01/CV-TA ngày 03/01/2024 và Văn bản số 200/CV-TA ngày 09/5/2024.
- Công ty cổ phần S (sau đây gọi tắt là Công ty S): chủ động liên hệ, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị nêu trên để báo cáo, cung cấp các tài liệu liên quan theo yêu cầu của từng cơ quan, đơn vị; đồng thời cung cấp cho Sở T6 (01) bộ hồ sơ, tài liệu liên quan đến quản lý, sử dụng khu đất tại số D đường L, phường L, quận B, thành phố Hà Nội.
Căn cứ: kết quả kiểm tra, rà soát hồ sơ; tổng hợp ý kiến của Sở Văn hóa và Thể thao tại Văn bản số 1779/SVHTT-QLDSVH ngày 03/7/2024, ý kiến của UBND quận B tại Văn bản số 3797/UBND-TNMT ngày 01/11/2024, Sở T6 có ý kiến về các nội dung nêu tại các Văn bản: số 01/CV-TA ngày 03/01/2024, số 200/CV-TA ngày 09/5/2024, và số 2324/CV-TA ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân nhân dân thành phố Hà Nội như sau:
- + Đối với tranh chấp giữa Công ty S với gia đình ông Phạm Ngọc V, đã được Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xét xử sơ thẩm. Hiện nay, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đang tiến hành xét xử phúc thẩm theo quy định. Đến nay, UBND thành phố H, Sở T6 chưa tiếp nhận, giải quyết đơn thư nào liên quan đến việc tranh chấp giữa Công ty S và gia đình ông Phạm Ngọc V.
- + Theo Văn bản số 1779/SVHTT-QLDSVH ngày 03/7/2024 của Sở Văn hóa và Thể thao: Đền M (đền M), phường L, quận B chưa được xếp hạng, có tên trong danh mục kiểm kê di tích trên địa bàn quận B tại Quyết định số 5745/QĐ-UBND ngày 14/10/2016 của UBND Thành phố H về việc phê duyệt, công bố danh mục kiểm kê di tích trên địa bàn thành phố Hà Nội đến 31/12/2015; đền M (đền M) do UBND quận B đang quản lý trực tiếp theo phân cấp của UBND thành phố H.
- + Trên cơ sở Quyết định số 4541/QĐ-UBND ngày 11/9/2015 của UBND thành phố (Về việc cho Công ty S thuê 78.382,8m² đất tại Tổ dân phố H, phường L, quận B để tiếp tục sử dụng làm trụ sở làm việc, cơ sở kinh doanh, dịch vụ, kho bãi, ươm cây giống lâm nghiệp và nuôi trông thủy sản); và Quyết định số 2847/QĐ-UBND ngày 31/5/2024 của UBND Thành phố (Về việc điều chỉnh trích yếu và nội dung Điều 1 Quyết định số 4541/QĐ-UBND ngày 11/9/2015 của UBND thành phố H), đến nay UBND thành phố H, Sở T6 không có ý kiến gì khác với quan điểm đã thể hiện tại các Quyết định này.
UBND thành phố H, Sở T6 không đề nghị tham gia tố tụng tại các cấp xét xử đối với vụ án dân sự này và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử vụ án dân sự nêu trên theo quy định của pháp luật.
- UBND quận B có ý kiến như sau: Theo Công văn 3797/UBND- TNMT ngày 01/11/2024: Vị trí khu đất mà Công ty Cổ phần S đang sử dụng thuộc khu vực bãi sông H, TDP H, phường L, quận B, nằm trên các tờ bản đồ: Tờ số 1, số 2, số C, số 4 đo vẽ năm 1994 phường L.
Khu đất trên có nguồn gốc được UBND hành chính thành phố H (nay là UBND nhân dân thành phố H) giao cho Xí nghiệp chế biến lâm sản Chèm quản lý, sử dụng từ những năm 1961. Trong quá trình sử dụng Công ty Cổ phần S đã tự ý giao cho một số hộ gia đình, cá nhân sử dụng để ở.
Ngày 11/9/2015, UBND thành phố H có Quyết định số 4541/QĐ- UBND về việc cho Công ty Cổ phần S thuê 78.382,8m² đất tại Tổ dân phố H, phường L, quận B để tiếp tục sử dụng làm trụ sở làm việc, cơ sở kinh doanh, dịch vụ, kho bãi, ươm cây giống lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản (không bao gồm phần diện tích đã bố trí cho cán bộ, công nhân viên sử dụng để ở).
Theo Hướng dẫn số 04/HDLN:XD-TNMT ngày 16/5/2018 của Liên Sở Xây dựng - Tài nguyên và Môi trường, UBND quận B chưa được các cơ quan tổ chức bàn giao khu đất đã bố trí cho cán bộ, công nhân viên sử dụng để ở (trước đây do Công ty Cổ phần S tự ý giao cho các hộ gia đình, cá nhân) về quản lý theo quy định.
Ngày 03/7/2024 Sở T6 đã có Văn bản số 2779/SVHTT-QLDSVH về việc phúc đáp Công văn số 4916/STNMT-ĐKTKĐĐ ngày 21/6/2024 của Sở T6 liên quan đến việc kiểm kê, xếp hạng và quản lý đối với Đền M Chèm, trong đó đã nêu rõ: “Đền M (Đền M), phường L, quận B chưa được xếp hạng, có tên trong danh mục kiêm kê di tích trên địa bàn quận B...”.
Đối với tranh chấp giữa Công ty Cổ phần S với gia đình ông Phạm Ngọc V, đã được Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xét xử sơ thẩm. Hiện nay, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đang tiến hành xét xử phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 và Điểm b, khoản 3 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.
Sau khi có Bản án có hiệu lực thi hành, UBND quận B sẽ thực hiện theo đúng phán quyết của Bản án...
* Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự không cung cấp các tài liệu, chứng cứ mới và không thoả thuận với nhau về cách giải quyết vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội giữ nguyên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm. Tuy nhiên, VKS nhận định cấp phúc thẩm đã khắc phục những thiếu sót mà cấp sơ thẩm chưa thu thập đủ nên không cần thiết phải huỷ bản án và có ý kiến như sau:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của phiên tòa phúc thẩm. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng. Tại cấp phúc thẩm và tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng theo quy định tại Điều 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Viện KSND quận B đề nghị Tòa án Hà Nội hủy bản án dân sự sơ thẩm, tuy nhiên qua nghiên cứu các tài liệu do cấp phúc thẩm thu thập cũng như tham gia phiên tòa hôm nay, Viện KSND thành phố H nhận thấy các nội dung kháng nghị của Viện KSND quận B đã được bổ sung tại cấp phúc thẩm nên không cần thiết phải hủy án sơ thẩm; Căn cứ khoản 2, Điều 284, khoản 2 Điều 308 BLTTDS, Viện KSND thành phố H thay đổi kháng nghị của Viện KSND quận B, đề nghị sửa bản án sơ thẩm của TAND quận Bắc Từ Liêm theo hướng:
- + Buộc ông Phạm Ngọc V phải trả cho Công ty S số tiền thuê đất từ năm 2011, tạm tính đến ngày 07/7/2023.
- + Buộc Công ty S phải thanh toán cho ông V giá trị các tài sản, công trình, cây cối trên đất ông V lấn chiếm của Công ty.
- + Giữ nguyên các nội dung khác của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Tài sản là quyền sử dụng đất mà nguyên đơn khởi kiện, buộc bị đơn phải trả lại thuộc phường L, quận B, thành phố Hà Nội nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định.
Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm về việc cấp sơ thẩm đưa thiếu người tham gia tố tụng là UBND thành phố H và UBND quận B, xét đây là thiếu sót của cấp sơ thẩm tuy nhiên tại cấp phúc thẩm đã khắc phục được và đưa các cơ quan trên tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và có ý kiến nên không cần thiết phải huỷ bản án theo kháng nghị của VKS quận Bắc Từ L1.
- Về nội dung:
- * Xét yêu cầu khởi kiện đòi tài sản: là quyền sử dụng đất của Công ty Cổ phần S (Công ty S).
- - Buộc ông Phạm Ngọc V và gia đình (là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án) phải trả lại toàn bộ 1.704,3m² diện tích đất đã lấn chiếm cho Công ty S.
- - Buộc ông Phạm Ngọc V và gia đình (là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án) phải tự tháo dỡ, di dời các tài sản đã tự đầu tư, cải tạo, các tài sản khác và cây trồng của họ trên diện tích đất lấn chiếm nêu trên,
- - Buộc ông Phạm Ngọc V phải trả cho Công ty S số tiền thuê đất từ ngày 01/01/2005, tạm tính đến ngày 07/07/2023 với tổng số tiền là 517.403.124 (Năm trăm mười bảy triệu, bốn trăm linh ba nghìn, một trăm hai mươi bốn) đồng.
- * Xét kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo cùng nội dung như sau: Tòa án sơ thẩm thụ lý vụ việc không đúng, không chính xác với Luật Đất đai và Quyết định 4541 ngày 11/9/2025.
Tòa án dựa vào biên bản ngày 08/6/2011 và biên bản ngày 15/6/2015 là không đúng vì hai biên bản này không đủ điều kiện pháp lý, không có dấu của UBND phường. Gia đình ông V đã sử dụng đất từ trước năm 1980 mà hai biên bản này làm từ năm 2011 và 2015 là không có tác dụng về pháp lý. Các đương sự yêu cầu: Tòa án thực hiện theo Điều 180, khoản 3 Điều 184 và Điều 185 BLDS hiện hành; thực hiện theo Điều 53; khoản 2 Điều 10; điểm b Điều 59; khoản 2 Điều 181 Luật Đất đai 2013 sửa đổi bổ sung 2018 và khoản 6 Điều 2 của Quyết định 4541 ngày 11/9/2015;
Khu đất Đền M là diện tích được thể hiện trên bản đồ 1994, tổng diện tích khoảng 16.200m², đề nghị Tòa án căn cứ Quyết định 4541 và Điều 181 Luật đất đai 2013, sửa đổi bổ sung 2018.
Bản án sơ thẩm cho rằng gia đình bị đơn lấn chiếm là chưa chính xác vì ông V nghỉ hưu từ năm 1984 và gia đình ông tăng gia đến nay không có biên bản hợp pháp nào chứng minh gia đình ông lấn chiếm. Bản án buộc ông V trả tiền thuê đất cho Công ty S là không đúng.
Diện tích Đền M và diện tích đất gia đình ông V đang ở nằm trong bản đồ 1994 và tổng diện tích đã chia cho cán bộ công nhân viên làm nhà là 16.200m² Công ty S phải bàn giao cho UBND phường L để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSD đất cho 53 hộ, diện tích 800m² gia đình ông sản xuất nông nghiệp chứ không có hợp đồng thuê mượn thì tại sao phải chịu thuế.
- * Xét kháng nghị của VKS ND quận Bắc Từ L1 với các nội dung sau:
Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm không đưa U tham gia tố tụng để đưa ra ý kiến về diện tích đất tranh chấp và không đưa UBND quận B tham gia tố tụng để xác định việc quản lý sử dụng đối với diện tích đất của Đền M Chèm và việc quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đối với Đền M như thế nào là còn thiếu sót.
Bản án tuyên buộc ông Phạm Ngọc V phải trả cho công ty S số tiền thuê đất từ ngày 01/01/2005 tạm tính đến 07/7/2023 với tổng số tiền là 517.403.124 đồng nhưng không buộc Công ty phải thanh toán đối với trị giá tài sản trên đất mà buộc gia đình ông V phải tự tháo dỡ, di dời các tài sản đã tự đầu tư, cải tạo, các tài sản khác và cây trồng của họ trên diện tích đất lấn chiếm là không thỏa đáng gây thiệt hại cho bị đơn.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về nguồn gốc đất tranh chấp và quá trình sử dụng đất:
Công ty S được cổ phần hóa từ Xí nghiệp vật liệu xây dựng và chế biến lâm sản Chèm thuộc Tổng Công ty L2 theo Quyết định số: 2084/QĐ-BNN-TCCB ngày 21/7/2004 của Bộ N2. Công ty S hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần, đăng ký lần đầu ngày 31/01/2005.
Nguồn gốc đất Công ty S đang quản lý, sử dụng tại tổ dân phố H, phường L, quận B, thành phố Hà Nội: Từ ngày 04/11/1961 đến thời điểm ngày 04/9/1965, UBHC thành phố H đã cấp các giấy ủy nhiệm sử dụng đất cho Cục vận chuyển phân phối, sau này là Công ty Lâm sản liên tỉnh được sử dụng đất tại thôn H, L và Y, xã T, huyện T để xây dựng công trình bãi chứa gỗ, đường vận chuyển gỗ và mở rộng xưởng gỗ. Ngày 12/02/2007, Bộ N2 có văn bản số 1091/BNN-ĐMDN xác nhận hiện trạng sử dụng đất được giao quản lý của Công ty S là 84.900,5m² (Trong đó: Sử dụng làm cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ 55.371m², khu tập thể của cán bộ, công nhân viên là: 16.200m2, diện tích ao hồ 13.329,5m²). Sau cổ phần hóa, Bộ N2 có văn bản số 397/BNN-KH đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố H cho Công ty S được thuê đất ổn định và sử dụng lâu dài nhằm giúp Công ty sử dụng, đầu tư sản xuất theo quy hoạch chung của thành phố.
Ngày 11/9/2015, UBND thành phố H ban hành Quyết định số 4541, quyết định cho Công ty S thuê 78.382m² đất tại tổ dân phố H, phường L, quận B nêu trên, để tiếp tục sử dụng làm trụ sở làm việc, cơ sở kinh doanh, dịch vụ kho bãi, ươm cây giống lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản. Trên cơ sở đó, ngày 24/03/2016, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố T6 và Công ty S đã kí Hợp đồng thuê đất số 177/HĐTĐ-STNMT-PC với các điều khoản chính: Công ty S được thuê 78.382m² đất tại tổ dân phố H, phường L, quận B; Thời hạn cho thuê: Hàng năm; Đơn giá thuê theo Thông báo của Cục Thuế thành phố T3 và nộp tại Kho bạc Nhà nước quận B. Ngày 26/12/2016, hai bên đã lập Biên bản bàn giao mốc giới trên thực địa có sự chứng kiến của UBND phường L, Phòng Tài nguyên và Môi trường quận B. Như vậy, việc quản lí của UBND thành phố H và việc sử dụng đất của Công ty S đối với nhà đất nêu trên là liên tục.Cho đến nay UBND thành phố H vẫn giữ nguyên các quyết định nêu trên.
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc thửa đất có tranh chấp của Tòa án, hiện hộ gia đình ông Phạm Ngọc V đang sử dụng 1.762,7m², gồm: 1704.3m² diện tích đất của Công ty Sông V và gia đình lấn chiếm và 58.4m² ông V được mua thanh lý theo Phiếu thu số 297 ngày 05/09/1992. Do Công ty S, trước đây là Xí nghiệp vật liệu xây dựng và chế biến lâm sản Chèm buông lỏng quản lý nên ông V và gia đình đã khai thác, sử dụng trong đó có một phần để xây dựng Đền Mẫu Chèm. Đền M Chèm là cơ sở tôn giáo tư nhân, do ông T lập. Phần điện chính thờ Mẫu của Đ nằm trong diện tích ông V được thanh lý và một phần diện tích phía sau Đ chính nằm trong diện tích ông V và gia đình lấn chiếm của Công ty S. Theo Văn bản số 1779/SVHTT-QLDSVH ngày 03/7/2024 của Sở Văn hóa và Thể thao: Đền M (đền M), phường L, quận B chưa được xếp hạng, có tên trong danh mục kiểm kê di tích trên địa bàn quận B tại Quyết định số 5745/QĐ-UBND ngày 14/10/2016 của UBND thành phố H về việc phê duyệt, công bố danh mục kiểm kê di tích trên địa bàn thành phố Hà Nội đển 31/12/2015; đền M (đền M) do UBND quận B đang quản lý trực tiếp theo phân cấp của UBND thành phố H.
Qua xem xét tài liệu có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xác định: Diện tích đất mà ông V và gia đình đang sử dụng - Công ty S buộc trả lại, nằm hoàn toàn trong phần diện tích Công ty S được UBND thành phố H cho thuê theo Quyết định số 4541 ngày 11/9/2015 cuả UBND thành phố H. Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn toàn bộ phần đất đã lấn chiếm là đúng quy định. Còn đối với diện tích 58.4m² ông V đang sử dụng là phần đất được Xí nghiệp vật liệu xây dựng và chế biến lâm sản Chèm thanh lý, công ty không yêu cầu trả lại nên không xét.
Việc bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan kháng cáo cho rằng gia đình ông V sử dụng ổn định diện tích đất nguyên đơn đòi từ những năm 1980 đề nghị Tòa án áp dụng Điều 180, khoản 3 Điều 184 và Điều 185 BLDS hiện hành; thực hiện theo Điều 53; khoản 2 Điều 10; điểm b Điều 59; khoản 2 Điều 181 Luật Đất đai năm 2013 sửa đổi, bổ sung năm 2018 và khoản 6 Điều 2 của Quyết định 4541 ngày 11/9/2015 và các quy định khác không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận.
- Về tài sản trên đất tranh chấp:
Các tài sản được ông V và gia đình cải tạo, trồng trọt từ những năm 1990 trở lại đây gồm:
- Về nhà, công trình xây dựng:
- * Vị trí 1: Phía Bắc giáp đường đi, phía Đông giáp bãi xe Công ty S, phía Tây giáp khu dân cư tập thể, phía Nam giáp đường và khu tập thể:
- - Căn cứ vào Hồ sơ trích đo thửa đất ngày 30/11/2022 và hồ sơ hiện trạng nhà do Công ty Cổ phần P Thủ đô lập, tại vị trí này có các nhà sau: 6/T (diện tích: 32.5m²), 7/G2 (diện tích: 52m²), 8/G1 (là nhà diện tích 79m²- Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm đang tuyên là tạm giao cho ông Phạm Ngọc T quản lý đến khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền về Đền M), 9/T (diện tích: 236.2m²).
- - Căn cứ vào biên bản định giá tài sản ngày 30/11/2022 và thông báo kết quả định giá tài sản ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm thì:
- + Nhà G1 có đơn giá: 1.267.000 đồng/m², giá trị còn lại 10%.
- + Nhà G2 có đơn giá: 2.538.000 đồng /m², giá trị còn lại 10%.
- + Nhà hệ khung thép mái tôn (nhà tạm), đơn giá: 443.000 đồng/m², giá trị còn lại 10%.
Do đó, giá trị của các nhà ở vị trí 1 là: (32.5m² x 443.000 đồng +52m² x 2.538.000 đồng + 79m² x 1.267.000 đồng + 236.2m² x 443.000 đồng) x 10% = 35.110.310 đồng (A).
- * Vị trí 2: Phía Bắc giáp sông H, phía Đông giáp bãi xe Công ty Chèm, phía Tây giáp đường đi.
- - Căn cứ vào Hồ sơ trích đo thửa đất ngày 30/11/2022 và hồ sơ hiện trạng nhà do Công ty Cổ phần P Thủ đô lập, tại vị trí này có các nhà sau: 1/G1 (diện tích: 94m²), 2/T (diện tích: 105.9m²), 3/T (diện tích: 108.9m²), 4/T (diện tích: 110.9m²), 5/T (diện tích: 65.2m²), mái tôn (19m²).
- - Căn cứ vào biên bản định giá tài sản ngày 30/11/2022 và thông báo kết quả định giá tài sản ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm thì:
- + Nhà G1 có đơn giá: 1.267.000 đồng/m², giá trị còn lại 10%.
- + Nhà G2 có đơn giá: 2.538.000 đồng/m², giá trị còn lại 10%.
- + Nhà hệ khung thép mái tôn (nhà tạm), đơn giá: 443.000 đồng/m², giá trị còn lại 10%.
Giá trị của các nhà ở vị trí 2 là: ((94m² x 1.267.000 đồng) + (105.9m² + 108.9m² + 110.9m² + 65.2m² + 19m²) x 443.000 đồng) x 10% = 30.068.370 đồng (B).
- * Vị trí 1: Phía Bắc giáp đường đi, phía Đông giáp bãi xe Công ty S, phía Tây giáp khu dân cư tập thể, phía Nam giáp đường và khu tập thể:
- Các loại cây trồng trên đất:
- + 09 cây mít x đơn giá 800.000 đồng/ cây = 7.200.000 đồng.
- + 10 cây cau x 100.000 đồng/ cây = 1.000.000 đồng.
- + 24 cây xà cừ x 420.000 đồng/ cây = 10.080.000 đồng.
- + 06 cây xanh x 500.000 đồng/ cây = 3.000.000 đồng.
- + 02 cây đa x 300.000 đ/cây = 600.000 đồng.
- + 04 cây nhãn x 400.000 đ/cây = 1.600.000 đồng.
- + 02 cây si x 240.000đ/ cây = 480.000 đồng.
- + 01 cây sưa x 80.000 đ/cây = 80.000 đồng.
Tổng giá trị các loại cây = 24.040.000 đồng (C).
Tổng giá trị các tài sản trên diện tích đất trả lại Công ty S là: 35.110.310 đồng + 30.068.370 đồng + 24.040.000 đồng = 89.218.680 đồng (T2 mươi chín triệu hai trăm mười tám nghìn sáu trăm tám mươi đồng).
Cấp sơ thẩm đã buộc gia đình ông V phải trả lại quyền sử dụng đất là có căn cứ nhưng buộc gia đình ông V phải tháo dỡ, di rời toàn bộ tài sản tài sản là chưa đảm bảo quyền lợi cho gia đình ông V bởi việc gia đình ông V sinh sống và sử dụng phần đất mà nguyên đơn được giao cũng do nguyên đơn buông lỏng quản lý nên không cần thiết phải buộc gia đình ông V phá dỡ mà cần giao cho Công ty Cổ phần S được sở hữu những tài sản gắn liền với diện đất 1.704,3m² và phải thanh toán giá trị các công trình là 89.218.680 đồng cho gia đình ông Phạm Ngọc V.
Các công trình thuộc Đền M Chèm trên diện tích 79m² và cây trồng được xác định bởi các điểm 13, 12, 43, 44, 27, 26, 24, 25, 13 (có sơ đồ kèm theo). Được tạm giao cho ông Phạm Ngọc T quản lý sử dụng cho đến khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về Đền M Chèm.
- Về Đền Mẫu C1 nằm trên đất có tranh chấp: ông V và gia đình khai từ những năm 1980, Đ được lập để làm nơi thờ cúng, sinh hoạt tôn giáo cá nhân. Đây là nơi thờ tự tư nhân, do gia đình ông V lập, hiện ông T đang tiếp quản và là thủ từ của Đ. Việc xây dựng và hoạt động của cơ sở này là tự phát và không phép. Theo cung cấp của phòng Văn hóa Thông tin quận B thì: Đền M thuộc danh mục các di tích được kiểm kê trên địa bàn thành phố Hà Nội từ ngày 31/12/2015 (Theo Quyết định số 5745/QĐ-UBND ngày 14/10/2016 của UBND thành phố H) và là di tích chưa được xếp hạng. Đồng thời Theo Văn bản số 1779/SVHTT-QLDSVH ngày 03/7/2024 của Sở Văn hóa và Thể thao: Đền M (đền M), phường L, quận B chưa được xếp hạng, có tên trong danh mục kiểm kê di tích trên địa bàn quận B tại Quyết định số 5745/QĐ-UBND ngày 14/10/2016 của UBND Thành phố H về việc phê duyệt, công bố danh mục kiểm kê di tích trên địa bàn thành phố Hà Nội đến 31/12/2015; đền M (đền M) do UBND quận B đang quản lý trực tiếp theo phân cấp của UBND thành phố H.
Như phân tích trên Đền thờ Mẫu, một phần nằm trên diện tích ông V được thanh lý, một phần nằm trên diện tích nhà xưởng làm việc cũ của Công ty được gia đình ông V cải tạo (Các đương sự khẳng định là không xây mới gì, chỉ cải tạo). Theo biên bản xem xét tại chỗ của Tòa án và biên bản làm việc giữa các đương sự có chứng kiến của địa phương thì nơi thờ tự chính của Đ ngoài phạm vi được thanh lý có diện tích là 79m²,
Nhận thấy, các công trình thuộc Đền M Chèm trên diện tích 79m², và cây trồng được xác định bởi các điểm 13, 12, 43, 44, 27, 26, 24, 25, 13 (có sơ đồ kèm theo) cần tạm giao cho ông Phạm Ngọc T quản lý sử dụng cho đến khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về Đền M Chèm.
Về yêu cầu hoàn trả tiền thuê đất của Công ty S với ông V: Công ty S yêu cầu ông V phải hoàn trả lại cho Công ty số tiền 517.403.124 đồng tiền thuê đất mà Công ty phải nộp cho cơ quan thuế hàng năm (từ năm 01/01/2005 - 07/7/2023).
Ông V cho rằng cấp sơ thẩm buộc gia đình ông phải trả số tiền này là không có căn cứ vì ông không lấn chiếm đất của công ty, ông không có hợp đồng thuê đất mà tự khai hoang.
Xét thấy: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ lời khai của các của các đương sự, xác định gia đình ông Phạm Ngọc V đã sinh sống trên đất từ những năm 1980. Quá trình sinh sống, gia đình ông V tự ý mở rộng sử dụng ra xung quanh lấn chiếm vào diện tích đất của Nhà nước giao cho công ty S quản lý sử dụng. Năm 2005, khi công ty S cổ phần hóa doanh nghiệp và phải thực hiện nghĩa vụ nộp tiền thuế đất với Nhà nước. Trong thời gian này gia đình ông V vẫn tiếp tục sử dụng đất tranh chấp (cơi nới, cải tạo, trồng cây...) nhưng công ty S không có ý kiến gì, UBND xã cũng không lập biên bản xử phạt hành chính.
Tại Biên bản về việc tháo dỡ công trình trên đất Công ty Cổ phần S Chèm ngày 08/6/2011 giữa đại diện Công ty và ông Phạm Ngọc T, phía công ty S yêu cầu gia đình ông T thực hiện nghiêm chỉnh quyết định của công ty: Di chuyển hoa màu và các vật dụng khác trả lại công ty 1.644,8m²..., phía ông T có ý kiến: “xin cam kết không xây dựng công trình trên đất của công ty cổng tạm và biển, đèn tôi đã tháo dỡ”.
Tại Biên bản làm việc ngày 05/06/2015 giữa Tổ công tác của Công ty S, ông V, đại diện chính quyền và khu dân cư, các bên đã xác định: Tổng diện tích đất gia đình ông V đang sử dụng là 442.3m², trong đó: Diện tích nhà mua thanh lý của Xí nghiệp để ở (Nhà văn phòng vô tuyến cũ) theo chỉ dẫn của gia đình là 58.4m², không như các đương sự trình bày tại Tòa án là không biết diện tích nhà cụ thể được thanh lý; Diện tích đất sử dụng ngoài phiếu thu mua nhà thanh lý thuộc quyền quản lí và sử dụng hợp pháp của Công ty S là 383.9m², cụ thể: 87.9m², phía sau nhà vô tuyến cũ, giáp dãy nhà gác kiểm lâm cũ, hiện tại đã cải tạo thành nhà cấp bốn, làm nhà ở mái tôn; 68.2m², phía sau nhà văn phòng cơ điện cũ hiện là nhà cấp bốn, cải tạo hiện làm điện thờ; 76.3m² phía trước nhà vô tuyến cũ, hiện tại đã cải tạo thành điện thờ, lợp mái tôn; 106.2m² phía trước nhà vô tuyến cũ (Trên đường T), là nhà tạm có mái tôn; 25.5m² ở đầu hồi nhà vô tuyến cũ, giáp đường đi với dãy nhà kiểm lâm, hiện tại đã cải tạo liền với nhà vô tuyến cũ làm điện thờ; 19.8m², vị trí đầu hồi, giáp lối đi vào dãy C3, hiện là đất trống, được quây tôn.
Hai biên bản này đều có chữ ký, chữ viết xác nhận của ông V và ông T nên có giá trị chứng minh. Như vậy có cơ sở xác định gia đình ông V đã sử dụng diện tích đất tranh chấp từ những năm 1980 nhưng Công ty S không có ý kiến gì, đến năm 2011 Công ty mới tiến hành làm việc với gia đình ông V yêu cầu di dời tài sản để trả lại đất cho Công ty. Công ty S đã buông lỏng quản lý để gia đình ông V tự ý mở rộng sử dụng ra xung quanh (1.704,3m²) lấn chiếm vào diện tích đất Nhà nước cho Công ty S thuê mà không ngăn cản nên xác định Công ty có lỗi trong việc này nên Công ty yêu cầu đòi tiền thuê đất từ năm 2005 đến ngày 07/7/2023 là không phù hợp. Cần chấp nhận một phần kháng cáo của gia đình ông V, xác định gia đình ông V chỉ phải chịu tiền thuê đất từ năm 2011 tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm theo quy định của nhà nước (hoá đơn do nguyên đơn cung cấp) là 435.608.994 đồng.
- Về việc Công ty S rút yêu cầu buộc gia đình ông V phải hoàn trả tiền thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và tiền chậm nộp tiền thuê đất cho Công ty: là sự tự nguyện của Công ty P1 với pháp luật, cấp sơ thẩm đình chỉ đối với yêu cầu này là đúng pháp luật nên cấp phúc thẩm không xem xét vấn đề này.
- Về kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội:
Viện kiểm sát nhân dân quận B, kháng nghị một phần bản án sơ thẩm cụ thể: đưa thiếu người tham gia tố tụng là UBND thành phố H, UBND quận B; Không buộc nguyên đơn thanh toán giá trị tài sản có trên đất lấn chiếm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn.
Tại cấp phúc thẩm, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã bổ sung UBND thành phố H, UBND quận B tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan;
- * UBND thành phố H đã uỷ quyền cho Sở T6 đã có ý kiến như sau:
- + Đối với tranh chấp giữa Công ty S với gia đình ông Phạm Ngọc V, đã được Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xét xử sơ thẩm. Hiện nay, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đang tiến hành xét xử phúc thẩm theo quy định. Đến nay, UBND thành phố H, Sở T6 chưa tiếp nhận, giải quyết đơn thư nào liên quan đến việc tranh chấp giữa Công ty S và gia đình ông Phạm Ngọc V.
- + Theo Văn bản số 1779/SVHTT-QLDSVH ngày 03/7/2024 của Sở Văn hóa và Thể thao: Đền M (đền M), phường L, quận B chưa được xếp hạng, có tên trong danh mục kiểm kê di tích trên địa bàn quận B tại Quyết định số 5745/QĐ-UBND ngày 14/10/2016 của UBND Thành phố H về việc phê duyệt, công bố danh mục kiểm kê di tích trên địa bàn thành phố Hà Nội đến 31/12/2015; đền M (đền M) do UBND quận B đang quản lý trực tiếp theo phân cấp của UBND thành phố H.
- + Trên cơ sở Quyết định số 4541/QĐ-UBND ngày 11/9/2015 của UBND thành phố (Về việc cho Công ty S thuê 78.382,8m² đất tại Tổ dân phố H, phường L, quận B để tiếp tục sử dụng làm trụ sở làm việc, cơ sở kinh doanh, dịch vụ, kho bãi, ươm cây giống lâm nghiệp và nuôi trông thủy sản) và Quyết định số 2847/QĐ-UBND ngày 31/5/2024 của UBND thành phố (Về việc điều chỉnh trích yếu và nội dung Điều 1 Quyết định số 4541/QĐ-UBND ngày 11/9/2015 của UBND thành phố H), đến nay UBND thành phố H, Sở T6 không có ý kiến gì khác với quan điểm đã thể hiện tại các Quyết định này.
- * UBND quận B, thành phố Hà Nội trình bày quan điểm: Đền M (Đền M) do UBND quận B đang quản lý trực tiếp theo phân cấp của UBND thành phố H.
Do vậy không cần thiết phải huỷ bản án dân sự theo Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội giữ nguyên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm nhưng nhận định cấp phúc thẩm đã khắc phục những thiếu sót mà cấp sơ thẩm chưa thu thập đủ nên không cần thiết phải huỷ bản án sơ thẩm và có ý kiến chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, thay đổi kháng nghị của Viện KSND quận B, đề nghị sửa bản án sơ thẩm của TAND quận Bắc Từ Liêm theo hướng: Buộc ông Phạm Ngọc V phải trả cho Công ty S số tiền thuê đất từ năm 2011, tạm tính đến ngày 07/7/2023. Buộc Công ty S phải thanh toán cho ông V giá trị các tài sản, công trình, cây cối trên đất ông V lấn chiếm của Công ty. Giữ nguyên các nội dung khác của bản án sơ thẩm.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Phạm Ngọc V và người đại diện theo ủy quyền của ông V là ông Trần Xuân C; người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan bà Phạm Thị N1, ông Phạm Ngọc T, bà Bùi Thị Phương L đối với bản án sơ thẩm số 53 ngày 07/7/2025 của TAND quận Bắc Từ Liêm; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm. Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa bản án dân sự sơ thẩm số 53 ngày 07/7/2025 của TAND quận Bắc Từ Liêm theo hướng phân tích trên.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- * Xét yêu cầu khởi kiện đòi tài sản: là quyền sử dụng đất của Công ty Cổ phần S (Công ty S).
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
- + Ông Phạm Ngọc V thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định;
- + Công ty S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được chấp nhận và nghĩa vụ thanh toán. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án dân sự sơ thẩm, ông Phạm Ngọc V; bà Phạm Thị N1, ông Phạm Ngọc T, bà Bùi Thị Phương L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và được nhận lại số tiền tạm án phí đã nộp.
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Điều 26, Điều 39, Điều 147, Điều 148, Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 163, Điều 166, Điều 164, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận một một phần kháng cáo của bị đơn là ông Phạm Ngọc V, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc T, bà Nguyễn Thị N, bà Bùi Thị Phương L.
- Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm về việc đưa người tham gia tố tụng là UBND thành phố H, UBND quận B và buộc nguyên đơn thanh toán giá trị tài sản có trên đất cho bị đơn.
- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2023/DS-ST ngày 07/7/2023 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Hà Nội), cụ thể như sau:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S:
- Xác định ông Phạm Ngọc V và gia đình (Là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án) lấn chiếm của Công ty Cổ phần S diện tích đất là 1.704,3m², trong phần đất Công ty S được giao theo Quyết định số 4541/QĐ-UBND ngày 11/9/2015 của UBND thành phố.
- Buộc ông Phạm Ngọc V và gia đình (Là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án) phải trả lại toàn bộ 1.704,3m² diện tích đất đã lấn chiếm cho Công ty Cổ phần S (Có sơ đồ kèm theo).
- Công ty Cổ phần S được sở hữu những tài sản gắn liền với diện đất 1.704,3m² và phải thanh toán giá trị các công trình, cây cối là 89.218.680 đồng (T2 mươi chín triệu, hai trăm mười tám nghìn, sáu trăm tám mươi đồng) cho gia đình ông Phạm Ngọc V.
- Buộc ông Phạm Ngọc V phải trả cho Công ty S số tiền thuê đất từ ngày 01/01/2011, tạm tính đến ngày 07/07/2023 với tổng số tiền là 435.608.994 đồng (Bốn trăm ba lăm triệu, sáu trăm linh tám nghìn, chín trăm chín mươi tư đồng).
Đối trừ nghĩa vụ tại mục 3.1.3 và mục 3.1.4: Buộc ông Phạm Ngọc V phải trả cho Công ty S số tiền 346.390.314 đồng (Ba trăm bốn mươi sáu triệu, ba trăm chín mươi nghìn, ba trăm mười bốn đồng).
- Tạm giao Đền M Chèm trên diện tích 79m² và cây trồng được xác định bởi các điểm 13, 12, 43, 44, 27, 26, 24, 25, 13 (Có sơ đồ kèm theo) cho ông Phạm Ngọc T quản lý đến khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền về Đền M Chèm.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện về việc đòi tiền chậm nộp tiền thuê đất và tiền thuế sử dụng đất phi nông nghiệp của Công ty Cổ phần S.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không hết số tiền phải thi hành thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo mức lãi quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chưa thanh toán tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S:
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
- + Công ty Cổ phần S phải chịu 8.550.640 đồng (Tám triệu năm trăm năm mươi nghìn sáu trăm bốn mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 42.600.000 đồng (Bốn mươi hai triệu sáu trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0043383 ngày 11/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm. Nay công ty S được nhận lại 34.049.360 đồng (Ba mươi tư triệu không trăm bốn mươi chín nghìn ba trăm sáu mươi đồng).
- + Ông Phạm Ngọc V được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
- - Án phí dân sự phúc thẩm:
- + Hoàn trả cho ông Phạm Ngọc V số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0044009 ngày 21/7/2023 (do ông Trần Xuân C nộp thay) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm;
- + Hoàn trả cho ông Phạm Ngọc T số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0044010 ngày 21/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm;
- + Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0044008 ngày 21/7/2023 (do ông Trần Xuân C nộp thay) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm ;
- + Hoàn trả cho bà Bùi Thị Phương L số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0044011 ngày 21/7/2023 (do ông Trần Xuân C nộp thay) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm.
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Anh |
Bản án số 467/2025/DS-PT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, đòi đất bị lấn chiếm
- Số bản án: 467/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, đòi đất bị lấn chiếm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi đất bị lấn chiếm giữa nguyên đơn Công ty S và bị đơn Phạm Ngọc V
