Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 467/2024/DS-PT

Ngày: 08/11/2024

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hải

Các Thẩm phán: Bà Hà Thị Phương Thanh

Bà Nguyễn Thị Trang Thư

- Thư ký phiên tòa:

Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 05 đến ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 328/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 362/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

ông Lê Hữu T, sinh năm 1956; địa chỉ: Số D, tổ G, ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Lê Văn T1, sinh năm 1980; địa chỉ: Số D, tổ G, ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Trần Hùng D – Công ty TNHH MTV T3 – Đoàn Luật sư thành phố C.

Bị đơn:

Ông Ngô Q, sinh năm 1962; địa chỉ: Số D, tổ G, ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tùng L, sinh năm 1968; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1963.
  2. Anh Ngô Chí N, sinh năm 1987.
  3. Anh Ngô Chí N1, sinh năm 1992.
  4. Chị Mai Thị Bách H, sinh năm 1999.

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền của bà T2, anh N, anh N1, chị H: Ông Nguyễn Tùng L, sinh năm 1968; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; có mặt.

Người kháng cáo:

Nguyên đơn ông Lê Hữu T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn trình bày: Ông Lê Hữu T được nhà nước xác lập quyền sử dụng đất tại thửa 371, tờ bản đồ số 06, loại đất ONT, diện tích 272m², đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00319 ngày 02/7/2004, được đính chính trang tư chuyển nhượng cho ông Lê Hữu T theo hồ sơ số 01 ngày 28/02/2009. Nguồn gốc đất có được do ông Lê Hữu T nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn H1 vào năm 2009. Sau khi nhận chuyển nhượng thì ông Lê Hữu T cất nhà sử dụng ổn định từ năm 2009 đến nay. Tiếp giáp với ranh đất của ông Lê Hữu T có gia đình ông Ngô Q sử dụng đất liền kề đã bao chiếm lấn ranh sang thửa đất 371 của ông T. Theo kết quả đo đạc phần diện tích lấn chiếm có kích thước ngang trước 3m x ngang sau 2m x dài 24.9m với tổng diện tích là 88.5m², theo bản trích đo địa chính số 338/TTKTTNMT ngày 08/4/2024 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Do vậy, ông Lê Hữu T yêu cầu ông Ngô Q phải trả lại diện tích đất lấn chiếm trên.

Bị đơn có đơn phản tố căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền trình bày: Ông Ngô Q đang quản lý sử dụng thửa đất 372, 373 thuộc tờ bản đồ số 06, loại đất ONT + CLN, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Nguồn gốc thửa đất 372 là do ông Nguyễn Văn V (ông Q kêu bằng ông ngoại) tạo lập và đứng tên trong sổ mục kê, thửa 373 do bà Nguyễn Thị Đ (mẹ ruột ông Q) tạo lập và đứng tên trong sổ mục kê. Sau khi ông V chết các thửa đất 372 để lại cho cha mẹ của ông Ngô Q là ông Ngô N2, bà Nguyễn Thị Đ quản lý sử dụng. Đến khi ông Ngô N2, bà Đ chết thì ông Q trực tiếp quản lý sử dụng thửa 372, 373. Vào năm 2017 ông Ngô Q thực hiện thủ tục khai nhận thừa kế để tiến hành đăng ký quyền sử dụng đất, khi cơ quan chức năng tiến hành đo đạc thì ông Lê Hữu T là người sử dụng đất giáp ranh có ký xác nhận ranh đất. Tuy nhiên, sau khi hoàn thành hồ sơ đo đạc ông Ngô Q thực hiện đăng ký để cấp quyền sử dụng đất, thì ông Lê Hữu T tranh chấp cho rằng ông Ngô Q lây L1 ranh đất của ông T. Ông T xác định phần tranh chấp có kích thước ngang trước 3m x ngang sau 2m x dài 25m theo đo đạc là không đúng, vì ranh đất từ khi ký xác nhận đến nay vẫn không thay đổi. Qua đối chiếu bản đồ địa chính thì thửa đất ông Lê Hữu T đang quản lý sử dụng là thửa 371A chứ không phải thửa 371, trên thực tế thửa 371 là do bà Lương Thị B đang đứng tên và trực tiếp quản lý sử dụng. Trước yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hữu T thì ông Ngô Q không đồng ý và có yêu cầu phản tố:

  • - Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hữu T về việc yêu cầu tòa án buộc ông Ngô Q trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích (ngang trước 3m, ngang sau 2m x dài 25m), tại thửa số 371, tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, TP . Cần Thơ vì không có cơ sở.
  • - Công nhận cho bị đơn ông Ngô Q được quyền sử dụng phần đất tranh chấp tại điểm (A), có diện tích 88.5m², loại đất: (CLN), thuộc một phần thửa đất 372 và một phần thửa đất 373, tờ bản đồ số 06; địa chỉ thửa đất: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ theo bản trích đo địa chính số 338/TTKTTNMT ngày 08/4/2024 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
  • - Yêu cầu nguyên đơn chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất hợp pháp của ông Ngô Q và ổn định ranh đất theo hiện trạng đo đạc.

Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.

Tại bản án số 52/2024/DSST ngày 02/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ đã tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với nguyên đơn.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn giao trả diện tích đất 88,5m² loại đất ONT + CLN, thuộc thửa 371, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
  3. Ổn định ranh đất theo hiện trạng sử dụng thực tế giữa thửa 371A với các thửa 372, 373 theo bản trích đo địa chính do Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C lập ngày 08/4/2024.
  4. Buộc ông Lê Hữu T cùng các thành viên trong gia đình chấm dứt mọi hành mọi hành vi trái pháp luật về việc ngăn cản bị đơn sử dụng hợp pháp đối với thửa đất 372, 373, tờ bản đồ số 06, loại đất ONT + CLN, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
  5. Các đương sự được quyền tự liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai, để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và có nghĩa vụ nộp các chi phí liên quan đến việc cấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Vị trí, kích thước diện tích đất được thi hành theo bản án được xác định theo bản trích đo địa chính do Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C lập ngày 08/4/2024 (đính kèm).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định, tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ đã tuyên xử nguyên đơn ông Lê Hữu T đã kháng cáo bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Căn cứ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được nhà nước xác lập thì nguyên đơn được sử dụng phần đất tại thửa 371, tờ bản đồ số 06, loại đất ONT, diện tích 272m², đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00319 ngày 02/7/2004, được đính chính trang tư chuyển nhượng cho ông Lê Hữu T theo hồ sơ số 01 ngày 28/02/2009. Giấy chứng nhận này được cấp do chuyển nhượng từ ông Lê Văn H1 vào năm 2009. Nguyên đơn đã cất nhà và ở ổn định từ năm 2009 đến nay. Phía bị đơn đã bao chiếm lấn ranh sang thửa đất 371 của ông T. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Phía bị đơn có đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Tùng L trình bày: Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ. Phía nguyên đơn không có đất tại thửa 371 mà thửa này là của người khác. Đất tranh chấp chưa đứng tên ông Ngô Q nên nguyên đơn khởi kiện là không có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Phần đất tranh chấp có diện tích đất là 88,5m², theo Bản trích đo địa chính số 338/TTKTTNMT ngày 08/4/2024 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C (Bản trích đo số 338), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Theo hồ sơ thể hiện, nguồn gốc đất của ông Lê Hữu T là do nhận chuyển nhượng từ ông Lê Văn H1, ông T được chỉnh lý sang tên ngày 02/3/2009, thuộc thửa 371 diện tích 272m². Tuy nhiên, theo Bản trích đo số 338 thì ông T đang sử dụng là thửa 371A, còn thửa 371 do bà Lương Thị B sử dụng, ông T không tranh chấp với bà B; giáp ranh với thửa 371A là thửa 372, 373 do ông Ngô Q sử dụng.

Thửa số 372 do ông Nguyễn Văn V1 (ông N3 của ông Q) đứng tên sổ mục kê ruộng đất, đo đạc thực tế thửa đất số 372, diện tích 234m² ONT, sau khi ông V1 chết thì ông Q sử dụng.

Thửa số 373 đo đạc thực tế có diện tích 1612m² (300m² ONT +1312m² CLN) do bà Nguyễn Thị Đ (mẹ ruột của ông Q) khai phá và sử dụng ổn định không tranh chấp, sau khi bà Đ chết thì ông Q sử dụng. Tuy nhiên, theo sổ mục kê ruộng đất thì Nguyễn Văn Đ1 là người đứng tên. Theo kết quả xác minh thì ở địa không có ai tên Nguyễn Văn Đ1, phần đất này do bà Đ đứng tên.

Như vậy, thửa 371A (ông T đang sử dụng); thửa 372, thửa 373 bị đơn đang sử dụng chưa ai được công nhận quyền sử dụng đất. Ông T cho rằng ông Q lấn ranh, nhưng đất của ông được công nhận là thửa 371 chứ không phải là thửa 371A giáp ranh với đất do bị đơn sử dụng. Qua đối chiếu hình thể, vị trí thửa đất trên bản đồ 299 và vị trí thửa đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T thì thửa 371 cách thửa 371A một con Rạch. Nên không có cơ sở cho rằng bị đơn lấn ranh.

Bên cạnh đó, theo Biên bản xác minh vị trí, diện tích ngày 20/10/2014 của UBND xã T, huyện C thì thửa 372 và thửa 373 có tổng diện tích là 1.846m², biên bản xác minh này có ông T ký xác nhận. Đo đạc thực tế là 1755,3m², giảm 90,7m²; phần đất tranh chấp có một phần căn nhà của bị đơn, khi bị đơn xây dựng nhà ông T không có tranh chấp. Nên không có căn cứ cho rằng bị đơn lấn ranh như ông T trình bày. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 9, Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền là hợp lệ đúng quy định.
  2. Xét nội dung vụ kiện nhận thấy: Thửa số 372 do ông Nguyễn Văn V1 (ông N3 của ông Q- đã chết) đứng tên sổ mục kê ruộng đất, đo đạc thực tế thửa đất số 372, diện tích 234m² ONT, sau khi ông V1 chết thì ông Q sử dụng. Thửa số 373 đo đạc thực tế có diện tích 1612m² (300m² ONT +1312m² CLN) do bà Nguyễn Thị Đ (mẹ ruột của ông Q) khai phá và sử dụng ổn định không tranh chấp, sau khi bà Đ chết thì ông Q sử dụng. Tuy nhiên, theo sổ mục kê ruộng đất thì Nguyễn Văn Đ1 là người đứng tên. Theo kết quả xác minh thì ở địa phương không có ai tên Nguyễn Văn Đ1, phần đất này do bà Đ đứng tên. Như vậy, thửa 371A (ông T đa sử dụng); thửa 372, thửa 373 bị đơn đang sử dụng chưa ai được công nhận quyền sử dụng đất. Ông T cho rằng ông Q lấn ranh, nhưng đất của ông được công nhận là thửa 371 chứ không phải là thửa 371A giáp ranh với đất do bị đơn sử dụng. Qua đối chiếu hình thể, vị trí thửa đất trên bản đồ 299 và vị trí thửa đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T thì thửa 371 cách thửa 371A một con Rạch. Nên không có cơ sở cho rằng bị đơn lấn ranh. Hơn nữa, thửa 371 nguyên đơn đang đứng tên thửa đất trên giấy chuyển nhượng từ ông H2 nhưng trên thực tế là sử dụng thửa 371A. Thửa 371 được cấp cho bà Lương Thị B, Ủy ban nhân dân huyện C cũng xác nhận việc cấp giấy chứng nhận cho bà B đúng vị trí, tờ bản đồ còn đất cấp cho ông T là sai vị trí, hiện thửa 371A chưa được cấp quyền sử dụng cho ai nhưng ông Lê Hữu T là người đang quản lý sử dụng phần đất. Ông T tranh chấp cho rằng thửa đất bị đơn đang sử dụng thửa 372, 373 đã lấn qua thửa đất của nguyên đơn. Thửa 372, 373 phía bị đơn cũng chưa đứng tên do phần đất này còn phải làm các thủ tục chuyển tên từ ông, bà và cha mẹ. Vì vậy, nguyên đơn và bị đơn chưa ai có đủ các quyền của người sử dụng đất theo quy định của luật đất đai, Tòa án căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất của các đương sự, theo kết quả đo đạc để giải quyết ổn định ranh đất giữa các bên để các đương sự thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật để xin cấp quyền sử dụng đất. Do đó, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  3. Trên cơ sở đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn giao trả diện tích đất lấn chiếm theo đo đạc là 88.5m² tại thửa 371 là không có căn cứ. Như đã phân tích trên, nguyên đơn đang sử dụng thửa đất 371A tiếp giáp với các thửa 372, 373 của bị đơn đang quản lý. Tuy nhiên, trên thực tế nguyên đơn chưa được cấp quyền sử dụng đất tại thửa 371A, do vậy nguyên đơn chưa đủ điều kiện để tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn.
  4. Xét yêu cầu phản tố của bị đơn đề nghị ổn định ranh đất theo hiện trạng đo đạc là có căn cứ, nên Tòa án chấp nhận. Buộc nguyên đơn chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất hợp pháp đối với bị đơn. Đối với yêu cầu của bị đơn đề nghị Tòa án công nhận diện tích đất tranh chấp cho ông Ngô Q là chưa đủ cơ sở chấp nhận. Tòa án chỉ xác định diện tích đất tranh chấp thuộc thửa 372, 373, bởi lẽ từ khi cha mẹ ông Ngô Q thì thửa đất 372, 373 chưa khai mở thừa kế, ông Q chỉ là một trong những người thừa kế của ông N2, bà Đ. Do vậy, để được đứng tên tại thửa 372, 373 ông Q phải thực hiện thủ tục khai nhận thừa kế theo quy định của pháp luật. Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ nên giữ nguyên.
  5. Các đương sự được quyền tự liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và có nghĩ vụ nộp các chi phí liên quan đến việc cấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  6. Xét quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
  7. Về án phí: Xét nguyên đơn, bị đơn đều thuộc diện người cao tuổi có đơn xin miễn giảm án phí được Tòa án chấp nhận nên không phải chịu án phí, nên các đương sự được miễn toàn bộ.
  8. Về chi phí, lệ phí xem xét thẩm định đo đạc và định giá tài sản: Do yêu cầu của nguyên đơn không được tòa án chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu chi phí, lệ phí xem xét thẩm định, đo đạc và định giá tài sản theo quy định của pháp luật.
  9. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn được miễn do là người cao tuổi.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 4; Điều 5; Điều 6; Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 157; Điều 92; khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 149; Điều 159; Điều 160; Điều 161; Điều 164; Điều 165; Điều 166 Bộ luật dân sự 2015;
  • - Khoản 1 Điều 100; khoản 1 Điều 166; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
  • - Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Hữu T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với nguyên đơn.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn giao trả diện tích đất 88,5m² loại đất ONT + CLN, thuộc thửa 371, tờ bản đồ số 06, tọa lạc ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
  3. Ổn định ranh đất theo hiện trạng sử dụng thực tế giữa thửa 371A với các thửa 372, 373 theo bản trích đo địa chính do Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C lập ngày 08/4/2024.
  4. Buộc ông Lê Hữu T cùng các thành viên trong gia đình chấm dứt mọi hành mọi hành vi trái pháp luật về việc ngăn cản bị đơn sử dụng hợp pháp đối với thửa đất 372, 373, tờ bản đồ số 06, loại đất ONT + CLN, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
  5. Các đương sự được quyền tự liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai, để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và có nghĩa vụ nộp các chi phí liên quan đến việc cấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Vị trí, kích thước diện tích đất được thi hành theo bản án được xác định theo bản trích đo địa chính do Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C lập ngày 08/4/2024 (đính kèm).
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn, bị đơn được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
  7. Về chi phí, lệ phí xem xét, thẩm định đo đạc, định giá tài sản: nguyên đơn phải chịu số tiền 7.000.000 đồng. Công nhận nguyên đơn đã nộp, Tòa án đã chi xong. Nguyên đơn được nhận lại tạm ứng chi phí còn thừa số tiền 3.000.000 đồng (nhận tại tòa).
  8. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn được miễn do là người cao tuổi.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND huyện Cờ Đỏ;
  • - Chi cục THADS huyện Cờ Đỏ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 467/2024/DS-PT ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 467/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ Le Huu T tranh chap QSDĐ voi BĐ Ngo Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger