Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 4662/2024/DS-ST

Ngày: 26-9-2024

V/v: Đòi tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Minh Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Tâm

2. Ông Trần Đăng Vạn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Quang Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử B Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 536/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc “Đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6047/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7311/2024/QĐST-DS ngày 28/8/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lương Thị Thùy V, sinh năm 1987

Địa chỉ: B L, phường T, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Danh N

Địa chỉ: 9 T, phường T, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

(Văn bản ủy quyền ngày 20/02/2024)

Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu D, sinh năm 1982

Địa chỉ: Q Khu dân cư P, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

(Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp ngày 22/02/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn ông Nguyễn Danh N trình bày:

Ngày 24/4/2020, bà V có thanh toán cho ông Nguyễn Hữu Danh S tiền 1.000.000.000 đồng để mua lô đất 500m² tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Do ông D không thể hoàn thiện các thủ tục để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho bà V với lý do thửa đất thuộc quy hoạch hệ sinh thái nên hai bên không thể thực hiện được thỏa thuận mua bán. Ông D đồng ý trả lại cho bà V số tiền 1.000.000.000 đồng đã nhận, có lập giấy nhận tiền ngày 19/4/2022 và ngày 29/6/2022.

Theo Giấy nhận tiền ngày 29/6/2022, ông D có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà V số tiền 1.000.000.000 đồng và lãi suất hai bên thỏa thuận trong thời gian 60 ngày. Tuy nhiên, đã quá thời hạn cam kết nhưng ông D vẫn cố tình không chịu thanh toán lại cho bà V số tiền 1.000.000.000 đồng đã nhận và tiền lãi.

Do bà V và ông D không thỏa thuận rõ về lãi suất trong Giấy nhận tiền nên bà V yêu cầu tính lãi theo quy định của Bộ luật Dân sự là 10%/năm.

Nay bà V yêu cầu ông Nguyễn Hữu D trả lại cho bà V số tiền 1.000.000.000 đồng theo Giấy nhận tiền ngày 29/6/2022 và tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 30/6/2022 đến ngày 26/9/2024 là: 1.000.000.000 đồng x 10%/năm x 817 ngày = 220.590.000 đồng.

Nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu cá nhân ông D trả lại số tiền đã nhận.

Bà V có Bản cam kết là số tiền 1.000.000.000 đồng mà bà V thanh toán cho ông D là tiền riêng của bà V, lúc đó bà V còn độc thân.

Bị đơn ông Nguyễn Hữu D đã được Tòa án thông báo triệu tập hợp lệ để đến Tòa án giải quyết vụ kiện nhưng ông D đều vắng mặt không có lý do cũng như không gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của ông D đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do ông D vắng mặt nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu ông Nguyễn Hữu D trả lại cho bà V số tiền 1.000.000.000 đồng theo Giấy nhận tiền ngày 29/6/2022 và tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 30/6/2022 đến ngày 26/9/2024 là: 1.000.000.000 đồng x 10%/năm x 817 ngày = 220.590.000 đồng.

Bị đơn ông Nguyễn Hữu D vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến:

  • + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật.
  • + Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự, người đại diện ủy quyền có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, văn bản ủy quyền đúng quy định pháp luật.
  • + Về giải quyết nội dung vụ kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Hữu D trả lại cho bà V số tiền 1.000.000.000 đồng theo Giấy nhận tiền ngày 29/6/2022 và tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 30/6/2022 đến ngày 26/9/2024 là: 1.000.000.000 đồng x 10%/năm x 817 ngày = 220.590.000 đồng.

Ông Nguyễn Hữu D phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Lương Thị Thùy V khởi kiện bị đơn ông Nguyễn Hữu D về việc yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã nhận là 1.000.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm, bị đơn có hộ khẩu thường trú phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, T phồ Hồ Chí Minh theo khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Nguyễn Hữu D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Hữu D theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3] Về yêu cầu của nguyên đơn:

Nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Hữu D trả lại số tiền 1.000.000.000 đồng theo Giấy nhận tiền ngày 29/6/2022 và tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 30/6/2022 đến ngày 26/9/2024 là: 1.000.000.000 đồng x 10%/năm x 817 ngày = 220.590.000 đồng.

Căn cứ Giấy nhận tiền ngày 29/6/2022 có nội dung: “Tôi Nguyễn Hữu D, sinh năm 1982, CMND: [...], cấp ngày 18/5/2022, nơi cấp: Công an Thành phố H, có nhận 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) của bà Lương Thị Thùy V, sinh năm 1987, CCCD: [...] tại Công an Thành phố H. Lý do nhận: số tiền này là do tôi nhận tiền mua đất nhưng do mảnh đất bị quy hoạch hệ sinh thái nên tôi thanh toán lại số tiền này cho bà V và lãi suất hai bên thỏa thuận trong thời gian 60 ngày”. Ông Nguyễn Hữu D có ký và ghi rõ họ tên.

Xét, theo Giấy nhận tiền ngày 29/6/2022 thì thời gian ông Nguyễn Hữu D trả số tiền 1.000.000.000 đồng cho bà V là 60 ngày kể từ ngày 29/6/2024 nhưng cho đến nay ông Nguyễn Hữu D vẫn chưa trả lại tiền cho bà V là đã vi phạm thỏa thuận trong Giấy nhận tiền ngay 29/6/2022. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà V về việc yêu cầu ông D trả số tiền đã nhận là 1.000.000.000 đồng.

Xét, theo Giấy nhận tiền ngày 29/6/2022 ông D có cam kết trả lại tiền và lãi suất do hai bên thỏa thuận trong thời gian 60 ngày. Do hai bên không thỏa thuận rõ với nhau về mức lãi suất nên bà V yêu cầu ông D thanh toán tiền lãi của số tiền 1.000.000.000 đồng tính từ ngày 30/6/2022 đến ngày 26/9/2024 theo mức lãi suất 10%/năm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Do đó, bà V yêu cầu ông D trả số tiền lãi của số tiền 1.000.000.000 đồng tính từ ngày 30/6/2022 đến ngày 26/9/2024 theo mức lãi suất 10%/năm là có căn cứ chấp nhận.

Tòa án đã thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông D vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Thị Thùy V đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu D, buộc ông Nguyễn Hữu D trả lại cho bà V số tiền 1.000.000.000 đồng theo Giấy nhận tiền ngày 29/6/2022 và tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 30/6/2022 đến ngày 26/9/2024 là: 1.000.000.000 đồng x 10%/năm x 817 ngày = 220.590.000 đồng. Tổng số tiền ông Nguyễn Hữu D phải trả cho bà Lương Thị Thùy V là 1.220.590.000 đồng.

[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Nguyễn Hữu D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 48.617.700 đồng.

H lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; b khoản 2 Điều 227, Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 166, Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Thị Thùy V đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu D.

    Buộc ông Nguyễn Hữu D trả lại cho bà V số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng theo Giấy nhận tiền ngày 29/6/2022 và tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 30/6/2022 đến ngày 26/9/2024 là 220.590.000 đồng. Tổng số tiền ông Nguyễn Hữu D phải trả cho bà Lương Thị Thùy V là 1.220.590.000 (một tỷ hai trăm hai mươi triệu năm trăm chín mươi ngàn) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian còn phải thi hành.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Hữu D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 48.617.700 (bốn mươi tám triệu sáu trăm mười bảy ngàn bảy trăm) đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

    H lại cho bà Lương Thị Thùy V số tiền 23.371.233 (hai mươi ba triệu ba trăm bảy mươi mốt ngàn hai trăm ba mươi ba) đồng là tiền tạm ứng án phí bà Lương Thị Thùy V đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0025708 ngày 19/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Các đương sự
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lương Minh Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4662/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về đòi tài sản

  • Số bản án: 4662/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Thị Thùy V yêu cầu Nguyễn Hữu D thanh toán số tiền nợ. HĐXX chấp nhận yêu cầu.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger