Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 4661/2024/DS-ST

Ngày: 26-9-2024

V/v: Tranh chấp quyền

sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Minh Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mai Thanh Giàu

2. Bà Nguyễn Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ

Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn T - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử B Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 389/2018/TLST-DS ngày 29 tháng 6 năm 2018 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7424/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lương Văn L, sinh năm 1960

Địa chỉ: A đường A, khu phố P, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: Ông Lê Văn L1, sinh năm 1958 (chết năm 2022)

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn L1: Bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L2, ông Lê Thành L3

Địa chỉ: C L, khu phố P, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lâm Thái A, sinh năm 1985

Địa chỉ: C L, khu phố P, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

2

(Nguyên đơn ông Lương Văn L có mặt; người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn vắng mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lâm Thái A xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 12/6/2018, Đơn khởi kiện bổ sung ngày 26/6/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lương Văn L trình bày:

Ông L là chủ sở hữu phần đất có diện tích 1.000m² thuộc thửa đất số 517, tờ bản đồ 13, phường T, Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 596082 do Ủy ban nhân dân Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/10/2012, phần đất của ông L nằm phía sau phần đất của ông Lê Văn L1.

Ngày 20/11/2017, ông L lên thăm đất thì phát hiện phần đất của mình bị lấn chiếm xây tường rào không còn vị trí cũ nơi ông L đã làm dấu, trồng cột mốc khi đo đạc giao đất.

Ngày 30/11/2017, ông L đến gặp ông L1 yêu cầu ông L1 trả lại ranh đất ông L đã cắm trước đây nhưng ông L1 nói không lấn đất và không đồng ý trả lại đất cho ông L. Ông L1 đã chiếm đất ông L để cho thuê từ năm 2017 cho đến nay.

Ngày 12/6/2018, ông L khởi kiện yêu cầu ông L1 trả lại phần đất có diện tích 65m² thuộc thửa đất số 517, tờ bản đồ 13, phường T, Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và tháo dỡ các công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm, do lúc này chưa có đo vẽ chính xác.

Năm 2022 ông Lê Văn L1 chết.

Ngày 15/6/2023, ông L có đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện là yêu cầu những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn L1 là bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L3, ông Lê Thành L2 (vợ và con ông L1) trả lại cho ông L phần đất lấn chiếm có diện tích 161m² thuộc thửa đất số 517, 511 - tờ bản đồ 13, phường T, Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí số 9, 10, 11, 12, 13, 17, 18 được thể hiện trên Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 13/11/2018 và tháo dỡ các công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm.

Ngày 10/11/2023, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, ông L và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Võ Thị Ngọc T1 đồng ý hai bên sẽ tự thuê đơn vị đo vẽ để tiến hành đo vẽ lại phần đất của mình, nếu bên nào lấn đất sẽ trả lại.

Sau đó, hai bên tiến hành đo vẽ, cắm mốc, đánh dấu lại phần ranh đất của mình. Khi đo vẽ lại thì phần đất ông L1 (hiện nay bà T1 quản lý sử dụng) lấn qua phần đất của ông L theo như diện tích và vị trí trên Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 13/11/2018.

3

Bà T1 đồng ý trả lại đất cho ông L trong thời gian 01 tháng nhưng sau đó cứ hẹn hết lần này đến lần khác không chịu trả lại đất cho ông L.

Nay ông L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn L1 là bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L3, ông Lê Thành L2 (vợ và con ông L1) trả lại cho ông L phần đất lấn chiếm có diện tích 161m² thuộc thửa đất số 517, 511 - tờ bản đồ 13, phường T, Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí số 9, 10, 11, 12, 13, 17, 18 được thể hiện trên Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 13/11/2018 và tháo dỡ các công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm.

Bị đơn Lê Văn L1 trình bày theo bản tự khai không ghi ngày tháng năm: Vào năm 1986, Ủy ban nhân dân xã L cũ có quy hoạch khu đất thuộc thửa 718E, thuộc tờ bản đồ số 1 (TL02), ấp 1, xã L, huyện T và giao cho các hộ dân sử dụng, trong đó ông L1 sử dụng phần đất thổ cư làm nhà ở có diện tích 846m² và 9.905m² đất trồng hoa màu.

Đến năm 1999, bà Phan Thị L4 là mẹ của ông L khiếu nại đòi trả lại đất.

Theo Quyết định số 84/QĐ-UB-QLĐT ngày 08/9/1999, Ủy ban nhân dân Quận I bác đơn khiếu nại của bà L4, buộc ông L1 và 02 hộ khác có trách nhiệm hỗ trợ công sức trên phần đất 2.917m² cho bà L4.

Theo Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H ký ngày 16/8/2001 và thực hiện theo Quyết định số 87 ngày 15/6/2000 của Ủy ban nhân dân Quận I thì hộ ông L1 được cấp 200m² đất ở và 664.1m² đất vườn. Tạm giao cho bà L4 (mẹ ông Lương Văn L) 1.000m² đất thuộc lô 895, 896 tờ bản đồ số 2, phường T sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Nhưng sau đó, khi bà L4 mất ông L là người sử dụng đất không đúng mục đích, cho người khác thuê.

Năm 2018, ông L đến gia đình ông L1 yêu cầu đập phần tường có diện tích khoảng 2,5m² mà ông L1 đã xây là không có cơ sở. Ông L không nhận mốc ranh mà Ủy ban nhân dân Quận I đã giao cho ông L mà còn cho là ông L1 xây lấn ranh.

Khi ông L1 chết, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn L1 là bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L3, ông Lê Thành L2 không có văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của ông L.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lâm Thái A trình bày: Ông A thuê phần đất của bà T1 thuộc thửa 511, tờ bản đồ số A, phường T, thành phố T để buôn bán vào năm 2023. Ông A không biết việc tranh chấp đất giữa bà T1 và ông L. Ông A không xây dựng gì thêm tại phần đất tranh chấp, khi ông A thuê thì hiện trạng đến nay không có thay đổi. Trong vụ án này, ông A không có ý kiến hay yêu cầu gì. Ông A sẵn sàng hợp tác khi Tòa án cần. Do bận công việc ông A đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông trong các lần giải quyết của Tòa án.

4

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn L1 là bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L3, ông Lê Thành L2. Các đương sự trực tiếp nhận văn bản của Tòa án nhưng không đến Tòa án theo giấy triệu tập, không gửi bản tự khai hoặc văn bản trình bày ý kiến đối với vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn ông Lương Văn L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn L1 là bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L3, ông Lê Thành L2 (vợ và con ông L1) trả lại cho ông L phần đất lấn chiếm có diện tích 161m² thuộc thửa đất số 517, 511 - tờ bản đồ 13, phường T, Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí số 9, 10, 11, 12, 13, 17, 18 được thể hiện trên Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 13/11/2018 và tháo dỡ các công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn L1 là bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L3, ông Lê Thành L2 vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến:

  • + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Thẩm phán vi phạm thời hạn đưa vụ án ra xét xử.
  • + Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự, người đại diện ủy quyền có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, văn bản ủy quyền đúng quy định pháp luật.
  • + Về giải quyết nội dung vụ kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn L1 là bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L3, ông Lê Thành L2 (vợ và con ông L1) trả lại cho ông L phần đất lấn chiếm có diện tích 161m² thuộc thửa đất số 517, 511 - tờ bản đồ 13, phường T, Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí số 9, 10, 11, 12, 13, 17, 18 được thể hiện trên Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 13/11/2018 và tháo dỡ các công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn L1 là bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L3, ông Lê Thành L2 phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

5

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Lương Văn L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Lê Văn L1 (đã chết) người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn L1 là bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L3, ông Lê Thành L2 (vợ và con ông L1) trả lại cho ông L phần đất lấn chiếm. Do đó, đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, đối tượng tranh chấp là bất động sản tọa lạc tại Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 9 nay là Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Theo Công văn số 396/UBND ngày 01/6/2023 của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Lê Văn L1 chết ngày 19/6/2022 theo Trích lục khai tử số 27 ngày 20/6/2022. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn L1 gồm có: bà Nguyễn Thị N, mẹ ông L1 đã chết; ông Lê Văn C, cha ông L1 đã chết; bà Võ Thị Ngọc T1, vợ ông L1; ông Lê Thanh L5 và Lê Thành L2, con ông L1. Do đó, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn L1 là bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L3, ông Lê Thành L2.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn L1 là bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L3, ông Lê Thành L2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các ông bà này quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn L1 là bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L3, ông Lê Thành L2 (vợ và con ông L1) trả lại cho ông L phần đất lấn chiếm có diện tích 161m² thuộc thửa đất số 517, 511 - tờ bản đồ 13, phường T, Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí số 9, 10, 11, 12, 13, 17, 18 được thể hiện trên Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 13/11/2018 và tháo dỡ các công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm.

Theo Công văn số 3823/UBND-TNMT ngày 06/12/2019 của Ủy ban nhân dân Quận I thì phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc do bà Phan Thị L4 sử dụng từ năm 1975, đến năm 2000 xảy ra tranh chấp với ông Lê Văn L1. Ngày 15/6/2000, Ủy ban nhân dân Quận I ban hành Quyết định số 87/QĐ-UB-QLĐT giải quyết tranh chấp đất giữa bà Phan Thị L4 và ông Lê Văn L1 với nội dung: “Nay tạm giao phần diện tích 1.000m² thuộc lô 895, 896, tờ bản đồ số 2 (TL02), phường T cho bà Phan Thị L4 sử dụng vào mục đích sử dụng đất nông nghiệp. Bà L4 không được thay đổi mục đích sử dụng, san lấp mặt bằng, mua bán chuyển

6

nhượng. Khi nhà nước thu hồi sẽ giải quyết đền bù theo quy định. Bà Phan Thị L4 có trách nhiệm đền bù cây trồng và công sức gìn giữ trên phần đất 1.000m² nêu trên cho ông Lê Văn L1 theo giá quy định của Nhà nước”.

Ngày 15/7/2012, Ủy ban nhân dân Quận I ban hành Quyết định số 90/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Quyết định số 87/QĐ-UB-QLĐT ngày 16/5/2000 của Ủy ban nhân dân Quận I về giải quyết tranh chấp đất giữa bà Phan Thị L4 và ông Lê Văn L1 có nội dung: “Điều chỉnh một phần nội dung Điều 1 của Quyết định số 87/QĐ-UB-QLĐT giải quyết tranh chấp đất giữa bà Phan Thị L4 và ông Lê Văn L1, cụ thể như sau: “Nay tạm giao phần diện tích 1.000m² thuộc lô 895, 896, tờ bản đồ số 2 (tài liệu 02/CT-UB), phường T...” thành “Nay tạm giao phần diện tích 1.000m² thuộc lô 895, 896, tờ bản đồ số 2 (tài liệu 02/CT-UB), phường T...”. Các nội dung còn lại trong Quyết định số 87/QĐ-UB-QLĐT ngày 16/5/2000 của Ủy ban nhân dân Quận I được giữ nguyên.

Ngày 11/6/2012, Ủy ban nhân dân Quận I tiến hành thực hiện Quyết định số 90/QĐ-UBND ngày 17/5/2012 điều chỉnh Quyết định số 87/QĐ-UB-QLĐT ngày 16/5/2000. Theo đó, hộ ông Lê Văn L1 và bà Phan Thị L4 (ông Lương Văn L con bà L4) đồng ý với nội dung thực hiện quyết định và không khiếu nại.

Ngày 12/6/2012, ông Lương Văn L (đại diện thừa kế của bà Phan Thị L4) có đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phần đất 1.000m² theo bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH Đ lập ngày 04/4/2012, được Phòng T2 kiểm tra ngày 09/4/2012.

Ngày 24/10/2012, Ủy ban nhân dân Quận I cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 596082 cho ông Lương Văn L (là đại diện cho những người được thừa kế quyền sử dụng đất của ông Lương Văn L và bà Phan Thị L4).

Đối với phần đền bù cây trồng và công sức gìn giữ trên phần đất 1.000m² cho ông Lê Văn L1 theo ông L trình bày là đã để phần đất này cho ông L1 sử dụng trong vòng 03 năm để trừ vào công sức gìn giữ. Hết thời hạn 03 năm ông L mới lấy lại đất.

Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 873103, số vào sổ cấp GCN: CH 00946 do Ủy ban nhân Quận I cấp ngày 13/9/2012 đứng tên ông Lê Văn L1, bà Võ Thị Ngọc T1 thì phần đất được cấp giấy chứng nhận là 200m² đất ở thuộc thửa 513, tờ bản đồ 13, phường T, Quận I nay là thành phố T và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 859065, số vào sổ cấp GCN: CH 00921 do Ủy ban nhân Quận I cấp ngày 15/8/2012 đứng tên ông Lê Văn L1 có diện tích có diện tích 664.1m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa 511, tờ bản đố 13, phường T, Quận I nay là thành phố T. Hai phần đất được cấp giấy chứng nhận đúng như ông L1 trình bày là 200m² đất ở và 664.1m² đất vườn. Hiện nay, hai phần đất này bà T1 và 02 con đang trực tiếp quản lý, sử dụng.

Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 596082, số vào sổ cấp GCN: CH 1005 do Ủy ban

7

nhân Quận I nay là thành phố T cấp ngày 24/10/2012 đứng tên ông Lương Văn L (phần đất được cấp giấy chứng nhận 1.000m²).

Căn cứ Bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 13/11/2018, áp ranh 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 596082, số vào sổ cấp GCN: CH 1005 do Ủy ban nhân Quận I nay là thành phố T cấp ngày 24/10/2012, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 873103, số vào sổ cấp GCN: CH 00946 do Ủy ban nhân Quận I nay là thành phố T cấp ngày 13/9/2012 đứng tên ông Lê Văn L1, bà Võ Thị Ngọc T1 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 859065, số vào sổ cấp GCN: CH 00921 do Ủy ban nhân Quận I nay là thành phố T cấp ngày 15/8/2012 thể hiện phần đất ông L1 đang sử dụng lấn qua đất của ông L có diện tích 161m² được thể hiện ở vị trí số 9, 10, 11, 12, 13, 17, 18 trên Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 13/11/2018.

Ngày 10/11/2023, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với phần đất đang tranh chấp. Tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ, ông L và bà T1 thống nhất sẽ tự thuê đơn vị có chức năng đo vẽ để cắm ranh, áp ranh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L và ông L1 để xác định phần đất của ai người đó sử dụng. Sau đó, ông L và bà T1 (vợ ông L1) đã thuê Công ty đo vẽ để tiến hành đo vẽ lại phần đất của mình (có sự chứng kiến của đại diện Tòa án). Sau khi đo vẽ hai bên xác định phần đất bị lấn đúng như hiện trạng Bản vẽ lập ngày 13/11/2018. Bà T1 đồng ý trả lại đất cho ông L trong thời gian 01 tháng nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện.

Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/11/2023, tài sản trên đất tại phần đất đang tranh chấp có vị trí số 9 là mái tôn, nền xi măng; vị trí số 10, 11 tường ván, mái tôn; vị trí số 13 là bồn nước; vị trí số 17, 18 nền xi măng, mái tôn. Xét thấy những tài sản trên đất này chỉ là công trình tạm, khi tháo dỡ cũng không ảnh hưởng gì đến các công trình xây dựng khác của bị đơn. Đồng thời, phía bị đơn đã sử dụng phần đất thuộc quyền sở hữu của ông L đã lâu, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông L. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn L1 là bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L3, ông Lê Thành L2 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.

Nguyên đơn không phải chịu án phí nên hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 8.250.000 đồng là tiền tạm án ứng án phí do nguyên đơn đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số AA/2017/0039273 ngày 28/6/2018 của Chi

8

cục Thi hành án dân sự Quận 9 nay là Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí đo vẽ 8.353.290 đồng, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng; chi phí thẩm định giá tài sản là 16.500.000 đồng. Tổng cộng chi phí tố tụng là 26.853.290 đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn L1 là bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L3, ông Lê Thành L2 có trách nhiệm thanh toán lại cho ông Lương Văn L số tiền chi phí tố tụng ông Lương Văn L đã tạm ứng là 26.853.290 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 105, Điều 166, Điều 170 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 166, Điều 169 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Văn L đối với những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Lê Văn L1 là bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L3, ông Lê Thành L2.

    Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn L1 là bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L3, ông Lê Thành L2 tháo dỡ các công trình xây dựng và trả lại cho ông Lương Văn L phần đất có diện tích 161m² thuộc thửa đất số 517, 511 - tờ bản đồ 13, phường T, Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí số 9, 10, 11, 12, 13, 17, 18 được thể hiện trên Bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 13/11/2018.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn L1 là bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L3, ông Lê Thành L2 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Ông Lương Văn L không phải chịu án phí nên hoàn trả cho ông Lương Văn L số tiền tạm ứng án phí 8.250.000 (tám triệu hai trăm năm mươi ngàn) đồng mà ông L đã nộp theo B lại thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0039273 ngày 28/6/2018 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 9 nay là Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

9

  1. Về chi phí tố tụng: Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn L1 là bà Võ Thị Ngọc T1, ông Lê Thành L3, ông Lê Thành L2 có trách nhiệm thanh toán lại cho ông Lương Văn L chi phí tố tụng là 26.853.290 (hai mươi sáu triệu tám trăm năm mươi ba ngàn hai trăm chín mươi) đồng.
  2. Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Nơi nhận:

  • - TANDTP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Các đương sự
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lương Minh Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4661/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 4661/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông L yêu cầu ông L1 trả lại phần đất lấn chiếm. HĐXX chấp nhận yêu cầu ông T.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger