TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 466/2024/DS-PT
Ngày: 21-11-2024
“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
và yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa.
Ông Đặng Văn Những.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 13, 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 428/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 86/2024/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 440/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1955.
- Bị đơn: Ông Lê Văn C, sinh năm 1967.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị T, sinh năm 1969.
- Ông Lê Văn P, sinh năm 1970.
- Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1950.
- Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1956.
- Bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trí M, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (văn bản ủy quyền ngày 12/4/2023).
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Thái Hoàng D, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An (văn bản ủy quyền ngày 13/9/2023).
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thành P1 – Chủ tịch
Địa chỉ: Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Phương B – Phó Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ.
Địa chỉ: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
Cùng địa chỉ: Ấp S, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: Ông Lê Văn C, bà Trần Thị T.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
(Ông M, ông D, bà T có mặt,
Các đương sự còn lại có đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 25/4/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L do ông Nguyễn Trí M đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bà L là chủ sử dụng thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4, diện tích 7.908m² tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) vào năm 2000. Ngày 27/4/2004, bà L ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn P phần đất có diện tích 6126m² thuộc một phần thửa đất số 93 trên, diện tích đất còn lại là 1.782m².
Bà L đã giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 93 cho ông P để làm thủ tục tách thửa trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng khi làm xong thủ tục tách thửa thì ông P không hoàn trả lại bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ phần đất còn lại cho bà L, mà giao cho ông C giữ. Đồng thời ông Lê Văn C có hành vi lấn chiếm phần đất còn lại của thửa đất số 93 có diện tích 1782m² của bà L.
Nay bà L yêu cầu ông Lê Văn C và vợ là bà Trần Thị T liên đới hoàn trả lại toàn bộ diện tích đã lấn chiếm là 1.608,1m² tại khu B thuộc một phần thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4, tại xã A theo Mảnh trích đo địa chính số 134-2023 ngày 02/8/2023 của công ty TNHH Đ1 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 17/8/2023, yêu cầu ông Lê Văn C trả lại bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ của thửa đất số 93 (phần còn lại) do bà Nguyễn Thị L đứng tên.
Do ông Lê Văn C và ông Lê Văn P có lời trình bày xác định không giữ bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ của thửa đất số 93 (phần còn lại) do bà Nguyễn Thị L đứng tên nên tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bà L rút lại yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông Lê Văn C trả lại bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ của thửa đất số 93 (phần còn lại), đề nghị HĐXX buộc ông Lê Văn C và vợ là bà Trần Thị T liên đới hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị L phần đất nêu trên để bà Nguyễn Thị L được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền kê khai, đăng ký lại quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật. Ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Lê Văn C do ông Thái Hoàng D đại diện trình bày (có yêu cầu phản tố):
Ông C là chủ sử dụng thửa đất số 61, tờ bản đồ số 4, tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An, nguồn gốc ông C nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn C1 vào ngày 16/6/1994, diện tích nhận chuyển nhượng là 40 cao. Ông C nhận và quản lý, sử dụng đất từ năm 1994 đến nay, việc mua bán có giấy tờ mua bán được UBND xã và cán bộ địa chính xã A xác nhận.
Năm 1997, ông C được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ nhưng việc cấp giấy bị thiếu diện tích nên diện tích trên Giấy chứng nhận QSDĐ là 2.037m² thuộc thửa đất số 61, tờ bản đồ số 4, tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An. Năm 2021, ông C có đến Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ, tỉnh Long An điều chỉnh diện tích trên Giấy chứng nhận QSDĐ nhưng chưa xong. Khi bà L khởi kiện ông C tại Tòa án thì ông C mới biết được phần diện tích đất tích 1.782m² mà ông C bị cấp thiếu lại thuộc một phần thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4 tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An do bà L đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 20/6/2000. Bởi vì giáp ranh với phần đất 40 cao của ông C là thửa đất số 93 của vợ chồng ông T1 - bà L, ranh giới giữa hai phần đất là bờ đất từ xưa đến nay, hiện nay bờ đất vẫn còn. Ông C sử dụng đất đúng ranh từ xưa nên ông C không đồng ý với lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của bà L, ông C không có giữ bản chính giấy chứng nhận QSDĐ của bà L và không có lấn chiếm đất nên ông C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L.
Đồng thời, ông C có yêu cầu phản tố yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Đ đã cấp cho bà Nguyễn Thị L đối với phần đất có diện tích 1.782m² thuộc một phần thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4 tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp lần đầu vào ngày 20/6/2000) và yêu cầu công nhận cho ông Lê Văn C quyền sử dụng đất đối với phần đất tại khu B thuộc một phần thửa đất số 93 tờ bản đồ số 4 tại xã A theo Mảnh trích đo địa chính số 134-2023 ngày 02/8/2023 của công ty TNHH Đ1 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 17/8/2023.
Nguyên đơn do ông Nguyễn Trí M đại diện theo ủy quyền không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông C và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T trình bày: Bà là vợ ông Lê Văn C, bà thống nhất với lời trình bày và ý kiến của ông C trong vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 trình bày: Ông là chồng bà L, thống nhất với lời trình bày, yêu cầu khởi kiện và ý kiến của bà L trong vụ án. Ông không có yêu cầu gì trong vụ án, và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện Đ có văn bản trình bày: Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị L đối với thửa đất số 93; tờ bản đồ số 4, tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An là đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật, hồ sơ cấp giấy đầy đủ hợp lệ theo quy định pháp luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành. Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện Đ có văn bản ghi ý kiến và xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn P trình bày trong quá trình giải quyết vụ án: Bà L có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông cách đây hơn 20 năm, diện tích là 7.908m² theo giấy mua bán tay hai bên nhưng khi đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đo thực tế là 6.126m² và ông được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ với diện tích là 6.126m² với số thửa đất mới là 563, tờ bản đồ số 4, tại xã A. Ông xác nhận bờ ranh đất do ông C xác định trong vụ án đã tồn tại từ xưa giữa hai phần đất của ông C và bà L và khi bà L chuyển nhượng đất cho ông, bà L cũng giao đất cho ông theo bờ ranh này. Từ đó đến nay, không có ai thay đổi hiện trạng của bờ ranh. Ông xác định ông không có giữ bản chính giấy chứng nhận QSDĐ của bà L. Ông không có yêu cầu gì trong vụ án, và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C1 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án: Vào năm 1994, ông có chuyển nhượng cho ông Lê Văn C khoảng 40 cao đất tại ấp S, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An, việc chuyển nhượng có lập giấy tay mua bán có xác nhận của UBND xã A. Giáp ranh với phần đất ông chuyển nhượng cho ông Lê Văn C là phần đất trước đây thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị L. Giữa hai thửa đất từ trước đến nay đã tồn tại bờ ranh, bờ ranh hiện hữu cho đến nay, không có thay đổi gì. Ông sử dụng đất đúng theo bờ ranh này và không có tranh chấp gì với bà L. Khi ông chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn C (vào năm 1994), ông cũng giao đất theo bờ ranh này và ông C sử dụng bờ ranh này từ đó đến nay. Theo ông được biết, thì bà L cũng đã chuyển nhượng toàn bộ phần đất của bà L (trọn thửa) cho ông Lê Văn P và giao đất cho ông P theo ranh là bờ đất này. Ông không có yêu cầu gì trong vụ án, và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị R trình bày trong quá trình giải quyết vụ án: Bà là vợ ông Nguyễn Văn C1, bà thống nhất với lời trình bày và ý kiến của ông C1 trong vụ án. Bà không có yêu cầu gì trong vụ án và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tòa án đã tiến hành đo đạc, định giá và thẩm định tại chỗ phần đất tranh chấp. Căn cứ Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Mảnh trích đo địa chính số 134-2023 do Công ty TNHH Đ1 đo vẽ ngày 02/8/2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ phê duyệt ngày 17/8/2023, phần đất tranh chấp có diện tích thực tế là 1608,1m² (khu B) thuộc một phần thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4, tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An có vị trí tứ cận: Đông giáp thửa đất số 93 (pcl); Tây giáp thửa đất số 61; Nam giám bờ kênh; Bắc giáp bờ đất. Hiện trạng đất trống do ông Lê Văn C quản lý, sử dụng.
Tổng giá trị quyền sử dụng đất tranh chấp theo Chứng thư thẩm định giá số 384 ngày 28/8/2023 do Công ty cổ phần T2 và tư vấn Hồng Đ là 1.682.958.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị HĐXX xác định lại thẩm quyền giải quyết vụ án do bị đơn có yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSDĐ cấp lần đầu cho bà L. Mặt khác đề nghị xem xét đến tình tiết ông C nhận chuyển nhượng QSDĐ từ ông C1 khoảng 40 cao đất vào năm 1994, việc chuyển nhượng được UBND xã chứng thực và thời điểm đó đất đai chưa được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ đại trà; đến thời điểm 1997-1998 khi tiến hành thủ tục kê khai đăng ký đất đai thì pháp luật đất đai thời điểm đó quy định rõ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là “chủ thể thực tế sử dụng đất”, như vậy trong khi bà L không phải là chủ thể thực tế sử dụng đất nhưng bà L lại kê khai đăng ký luôn phần đất mà ông C đang quản lý, sử dụng nên việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho bà L thời điểm đó là cấp sai đối tượng. Ngoài ra, đề nghị HĐXX làm rõ tình tiết bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ hiện nay ai đang giữ và tại sao bà L khởi kiện nhưng lại không xuất trình được bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ và bà L không xuất trình được chứng cứ nào chứng minh bà L có thời gian quản lý sử dụng phần đất tranh chấp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 86/2024/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 147; Khoản 1 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 100; Điều 166; Điều 170; Điều 203 Luật Đất đai 2013; Áp dụng Điều 166, 175, 176, 357, 468 Bộ luật Dân sự 2015; Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L đối với ông Lê Văn C về việc đòi lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An (phần còn lại).
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc tranh chấp “Quyền sử dụng đất” đối với ông Lê Văn C.
- Xác định ranh giới giữa thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An do bà Nguyễn Thị L là chủ sử dụng đất và thửa đất số 61, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An do ông Lê Văn C là chủ sử dụng đất là 01 đường thẳng màu xanh có chiều dài 107,3m do bà Nguyễn Thị L xác định theo Mảnh trích đo địa chính số 134-2023 do Công ty TNHH Đ1 đo vẽ ngày 02/8/2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ phê duyệt ngày 17/8/2023 (được đính kèm theo bản án).
- Bà Nguyễn Thị L được quyền sử dụng đối với phần đất tại khu B diện tích 1608,1m² thuộc một phần thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 134-2023 do Công ty TNHH Đ1 đo vẽ ngày 02/8/2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ phê duyệt ngày 17/8/2023.
Bà Nguyễn Thị L có quyền, nghĩa vụ liên hệ các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để kê khai, đăng ký, điều chỉnh lại phần ranh giới giữa thửa đất số 93 và 61 cùng tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An và cấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Buộc ông Lê Văn C và bà Trần Thị T liên đới trả cho bà Nguyễn Thị L phần đất tại khu B diện tích 1608,1m² thuộc một phần thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 134-2023 do Công ty TNHH Đ1 đo vẽ ngày 02/8/2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ phê duyệt ngày 17/8/2023.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lê Văn C về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Đ đã cấp cho bà Nguyễn Thị L đối với phần đất có diện tích 1.782m² thuộc một phần thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4 tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp lần đầu vào ngày 20/6/2000) và yêu cầu công nhận cho ông Lê Văn C quyền sử dụng đất đối với phần đất tại khu B diện tích 1608,1m² thuộc một phần thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 134-2023 ngày 02/8/2023 của công ty TNHH Đ1 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 17/8/2023.
- Về chi phí đo đạc, định giá và thẩm định tại chỗ: ông Lê Văn C phải hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị L số tiền 31.500.000 đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Văn C và bà Trần Thị T phải liên đới chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, ông Lê Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách nhà nước nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 31.230.000 đồng theo biên lai thu số 0005673 ngày 15/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. H lại cho ông Lê Văn C số tiền 30.630.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong giai đoạn thi hành án.
Ngày 04/6/2024, ông Lê Văn C và bà Trần Thị T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Ngày 05/6/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An kháng nghị một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.
Ông Nguyễn Trí M là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Bà L được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4, diện tích 7.908m², ông C có thửa đất 61 với diện tích 2.037m², khi cấp giấy không đo đạc thực tế. Phía ông C cho rằng đất cấp bị thiếu so với thực tế sử dụng là không có căn cứ. Do bà L không có sinh sống ở đó, nên ông C đã thay đổi bờ ranh, lấn sang đất của bà L. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn C và bà Trần Thị T.
Ông Thái Hoàng D là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Theo biên bản xem xét thẩm định thì hiện nay vẫn còn bờ ranh là ranh giới từ trước đến nay (có xác nhận của những người làm chứng, ông P và ông C1 là chủ đất củ). Thửa đất của ông C nhận chuyển nhượng của ông C1 đã sử dụng từ năm 1994 cho đến nay không ai tranh chấp, đến năm 2021, ông C đi làm thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà L mới biết mình đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nộp đơn khởi kiện. Phía nguyên đơn cho rằng bị đơn lấn đất từ năm 2004, nhưng đến nay mới khởi kiện là không phù hợp và nguyên đơn cũng không có chứng cứ gì chứng minh bị đơn lấn đất của nguyên đơn. Khi bà L chuyển nhượng đất cho ông P, đã bàn giao toàn bộ thửa đất cho ông P sử dụng, ông P cũng xác nhận bờ ranh là ranh giới của các bên. Phần đất này nguyên đơn không sử dụng từ khi bán cho ông P và không còn giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó chứng minh được bà L đã bán toàn bộ thửa đất cho ông P. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn C và bà Trần Thị T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của ông Lê Văn C, bà Trần Thị T và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà. Thấy rằng:
* Về quá trình cấp GCN.QSD đất
Công văn số 2205/CN.VPĐKĐĐ – HCTHT ngày 18/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ phúc đáp cho Toà án:
Ngày 30/10/1997, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 807/QĐ-UB về cấp GCN.QSD đất cho 1.138 cá nhân, trong đó cấp ông Lê Văn C tổng diện tích 2.037m²;
Ngày 17/11/1998, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 699/QĐ-UB về cấp GCN.QSD đất cho 137 cá nhân, trong đó cấp bà Nguyễn Thị L tổng diện tích 7.908m². Công văn số 15644/UBND-TA ngày 20/11/2023 của UBND huyện Đ phúc đáp tại thời điểm cấp GCN.QSD đất cho bà L là cấp lần đầu, không đo đạc thực tế, chỉ dựa vào Bản đồ địa chính do UBND xã quản lý, người dân đi kê khai đăng ký và không thực hiện ký giáp ranh với các chủ sử dụng đất liền kề.
Theo Mảnh trích đo địa chính số 134-2023, các đương sự thống nhất phần đất tranh chấp có vị trí tại Khu B diện tích đo đạc thực tế 1.608,1m², thuộc thửa 93 (phần còn lại) do bà L là người đứng tên GCN.QSD đất nhưng thực tế ông C là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất.
* Về hiện trạng thực tế ranh giới đất
Căn cứ Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/6/2023, Mảnh trích đo địa chính số 134-2023, lời khai của ông C1, bà R (chủ cũ thửa đất số 61), ông P (chủ thửa đất 93 nhận chuyển nhượng từ bà L), ông C và lời khai của người đại diện cho bà L tại phiên tòa, lời trình bày của ông S, ông R1 (là những người sinh sống lâu năm tại địa phương, là chủ đất liền kề và là người ký tên với tư cách nhân chứng trong Giấy bán đất giữa ông C1 với ông C), tất cả những người này đều thống nhất hiện trạng tại vị trí ranh đất giữa ông C với ông P đang sử dụng có một bờ ruộng tồn tại từ trước khi ông C và bà L được cấp GCN.QSD đất đến nay không thay đổi.
Tại phiên tòa, đại diện của nguyên đơn cho rằng ranh giới đất tại vị trí nguyên đơn xác định theo Mãnh trích đo số 134-2023 trước đây cũng có bờ ruộng làm ranh nhưng ông C đã phá bờ ranh làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất, tuy nhiên đây chỉ lời khai duy nhất của đại diện nguyên đơn, không có chứng cứ chứng minh.
* Về quá trình sử dụng đất
Các đương sự thừa nhận, phần đất tranh chấp từ khi ông C nhận chuyển nhượng từ ông C1 năm 1994 đến nay do ông C là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất, lời trình bày của các đương sự phù hợp với lời khai và xác nhận của ông S, ông R1 và ông C1 là người bán đất cho ông C.
Về hợp đồng mua bán đất giữa bà L với ông P thể hiện là mua trọn thửa đất 93 (theo giấy mua bán viết tay giữa bà L và ông P thể hiện chuyển nhượng trọn thửa 93 với diện tích7.908m²), nhưng khi ký chuyển nhượng thì diện tích thể hiện trên hợp đồng là 6.126m² thuộc thửa 93. Bà L thừa nhận từ khi chuyển nhượng cho ông P thì bà chuyển đổi nhà đi nơi khác sinh sống không thường xuyên lui tới thăm đất được, không quản lý, sử dụng thửa số 93.
Ông P có bản tự khai ngày 31/8/2023 (BL52) xác định khi mua là mua bán giấy tay ghi diện tích 7.908m² nhưng khi đăng ký cấp GCN.QSD đất thì địa chính xã đo đạc thực tế là 6.126m² và ông P xác nhận bờ ranh giới đất giữa ông P và ông C từ trước đến nay không thay đổi hiện trạng. Như vậy phần đất ông C, ông P giáp ranh được hai ông sử dụng, canh tác liên tục, công khai trong thời gian dài, bà L không tranh chấp. Bà L không cung cấp chứng cứ chứng minh cho rằng ông C lấn chiếm đất, thay đổi hiện trạng ranh giới đất như bà trình bày.
Xét việc ông C quản lý, sử dụng thửa đất số 61 và phần đất tranh chấp là căn cứ vào Giấy bán đất ngày 15/6/1994 giữa ông C1 với ông C, có ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn R1 ký với tư cách là nhân chứng, có xác nhận của cán bộ địa chính và UBND xã A. Quá trình quản lý và sử dụng đất của ông C là đúng ranh giới đất, liên tục, công khai từ năm 1994 cho đến nay. Bà L cho rằng ông C lấn chiếm đất nhưng không có chứng cứ chứng minh. Do đó, kháng cáo của ông C về việc công nhận phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông C là có căn cứ.
[5] Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Văn C.
Thấy rằng, Đối với bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tự nguyện rút lại yêu cầu ông C trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà L, ông C, ông P đều xác định hiện nay không giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các bên tranh chấp ranh đất nên Tòa án không cần thiết phải hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông C được quyền kê khai, đăng ký, điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp với diện tích thực tế sử dụng.
[6] Từ những phân tích trên, thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm nhận định ông C có quá trình quản lý sử dụng đất lâu dài trên 30 năm nhưng việc quản lý này không có căn cứ pháp luật, vì đến năm 1997 ông C chỉ kê khai đăng ký diện tích 2.037m², buộc ông C phải trả đất cho bà L là chưa phù hợp.
[7] Xét thấy kháng cáo của ông Lê Văn C và bà Trần Thị T có căn cứ nên chấp nhận.
[8] Xét thấy kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[9] Về chi phí đo đạc, định giá và thẩm định tại chỗ là 31.500.000 đồng. Bà Nguyễn Thị L phải chịu toàn bộ (đã nộp xong).
[10] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, tuy nhiên bà L là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí nên miễn cho bà L án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Lê Văn C và bà Trần Thị T được chấp nhận nên không phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn C và bà Trần Thị T.
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tỉnh Long An.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 86/2024/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 147; Khoản 1 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 100; Điều 166; Điều 170; Điều 203 Luật Đất đai 2013; Áp dụng Điều 166, 175, 176, 357, 468 Bộ luật Dân sự 2015; Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu buộc ông Lê Văn C và bà Trần Thị T liên đới trả cho bà Nguyễn Thị L phần đất tại khu B diện tích 1.608,1m² thuộc một phần thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 134-2023 do Công ty TNHH Đ1 đo vẽ ngày 02/8/2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ phê duyệt ngày 17/8/2023.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lê Văn C.
- Công nhận phần đất tại khu B diện tích 1.608,1m² thuộc một phần thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 134-2023 do Công ty TNHH Đ1 đo vẽ ngày 02/8/2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ phê duyệt ngày 17/8/2023 thuộc quyền sử dụng đất của ông Lê Văn C.
- Ông Lê Văn C được tiếp tục sử dụng đối với phần đất tại khu B diện tích 1.608,1m² thuộc một phần thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 134-2023 do Công ty TNHH Đ1 đo vẽ ngày 02/8/2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ phê duyệt ngày 17/8/2023.
- Ông Lê Văn C có quyền, nghĩa vụ liên hệ các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để lập thủ tục kê khai, đăng ký, điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường, Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự cho phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L đối với ông Lê Văn C về việc đòi lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An (phần còn lại).
- Về chi phí đo đạc, định giá và thẩm định tại chỗ ở Tòa án cấp sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L phải chịu toàn bộ số tiền 31.500.000 đồng (đã nộp xong).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn cho bà Nguyễn Thị L án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho ông Lê Văn C số tiền tạm ứng án phí đã nộp 31.230.000 đồng theo biên lai thu số 0005673 ngày 15/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Lê Văn C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông C số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004773 ngày 05/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Bà Trần Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà T số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004774 ngày 05/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 466/2024/DS-PT ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 466/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
