TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 466/2024/DSPT
Ngày: 07/11/2024
V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gầm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Dung
- - Các thẩm phán: Ông Võ Bảo Anh
- Bà Hà Thị Phương Thanh
- - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Ban – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 290/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024, về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024.
Do Bản án sơ thẩm số 46/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt có kháng cáo, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á (A)
- Trụ sở: Số D -N, phường E, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thanh T – NV xử lý nợ. Có mặt.
- Địa chỉ: Số D- D- D, đường C, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. Theo Giấy ủy quyền ngày 19/5/2023 của Phó giám đốc Phòng quản lý nợ của A.
- * Bị đơn: Ông Đoàn Hiếu N - sinh năm 1976. Vắng mặt
- Cư trú: Khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông N: Ông Đặng Khải N1 – Sinh năm 1972.
- Địa chỉ: B, T, Chung cư F, 306 - C V, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Theo Giấy ủy quyền ngày 19/3/2024 của ông Đoàn Hiếu N. Xin vắng mặt
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bùi Hữu K – sinh năm 1967. Vắng mặt
- Bà Võ Thị Thanh N2 – sinh năm 1971. Có mặt
- Anh Bùi Minh T1 – sinh năm 1994. Vắng mặt
- Chị Bùi Thị Kim T2 – sinh năm 1997. Vắng mặt
- Chị Nguyễn Hồng Thúy L – sinh năm 1979. Có mặt
- Ông Nguyễn Mạnh Bảo S – sinh năm 1979. Vắng mặt
- Đăng ký thường trú: Số A - đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Địa chỉ liên hệ: Số nhà B - Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Ông Phạm Văn Đ – sinh năm 1989. Vắng mặt
- Cư trú: Ấp L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Bùi Hữu K: Luật sư: Nguyễn Văn T3 – thuộc Văn phòng L2 - Đoàn Luật sư thành phố C. Có mặt.
- Người kháng cáo: Ngân hàng TMCP Á (A).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn trình bày như sau:
Ngân hàng TMCP Á (A) có cho ông Đ1 Hiếu Nghĩa vay tiền, theo Hợp đồng cấp tín dụng Số ANT.CN.2513.230222 ngày 24/02/2022:
- Số tiền vay gốc: 4.500.000.000 đồng;
- Thời hạn vay: 180 tháng kể từ ngày kế tiếp ngày bên được cấp tín dụng nhận tiền vay lần đầu. Phương thức cho vay từng lần;
- Mục đích vay: Mua nhà, đất- có thế chấp tài sản mua Mua nhà, đất – đã hoàn thành, Mua nhà đất.
- Lãi suất trong hạn: Theo khế ước nhận nợ.
- Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn.
- Lãi phạt chậm trả lãi: 10%/ năm.
A đã giải ngân cho ông N nhận tiền vay 02 lần:
- - Khế ước nhận nợ Số [...] ngày 02/3/2022: giải ngân 2.500.000.000 đồng.
- - Khế ước nhận nợ Số [...] ngày 10/3/2022: giải ngân 2.000.000.000 đồng.
Để đảm bảo cho hợp đồng vay tiền, giữa A với ông N đã ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản Số ANT.BĐCN.371.230222 ngày 09/3/2022. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa số 727 – tờ bản đồ số 12, loại đất ODT, tọa lạc địa chỉ số B - Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ, ông Bùi Hữu K đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS03144 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 06/4/2021; được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận N chỉnh lý chuyển nhượng cho ông Đ1 Hiếu Nghĩa ngày 09/3/2022.
Quá trình vay, ông N đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng, A đã nhiều lần thông báo đòi nợ nhưng ông N vẫn không thực hiện. Kể từ ngày 29/12/2022, khoản vay của ông N bị chuyển sang nợ quá hạn. Vì vậy, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:
- - Ngân hàng TMCP Á khởi kiện yêu cầu ông Đoàn Hiếu N phải có trách nhiệm trả số nợ vay gồm nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 18/6/2024, là:
- Nợ gốc: 4.463.547.899 đồng;
- Lãi trong hạn: 69.437.291 đồng;
- Lãi quá hạn: 719.127.867 đồng;
- Phạt chậm trả lãi: 44.003.549 đồng;
- Tổng cộng: 5.296.116.606 đồng.
- Và đồng thời phải trả lãi phát sinh sau ngày 18/6/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ cho A.
- - Trường hợp bị đơn không trả được nợ vay thì A có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất Số ANT.BĐCN.371.230222 ngày 09/3/2022, để thanh toán nợ cho A.
Qúa trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Đoàn Hiếu N, người đại diện theo ủy quyền là ông Đặng Khải N1 trình bày:
Ông Đoàn Hiếu N thừa nhận có ký kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản như phía Ngân hàng TMCP Á trình bày trên đây là đúng. Nay ông N đồng ý để A phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Ông N cho rằng ông thỏa thuận ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 727 – tờ bản đồ số 12, loại đất ODT, tọa lạc địa chỉ số B - Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ với ông Nguyễn Mạnh Bảo S diễn ra từ ngày 22/02/2022 đến ngày 09/3/2022 thì hoàn thành. Trong quá trình đó, ông S có liên hệ nhờ cán bộ địa chính ở N tiến hành đo đạc, kiểm tra lại đất. Khi đó ông S nói là ông cho người khác thuê lại nhà để ở, nên ông N tin tưởng như vậy, chứ ông N không biết gia đình ông Bùi Hữu K đang ở trên đất, nếu có người tranh chấp thì ông đã không mua.
Ông N nhận chuyển nhượng nhà đất tổng cộng với giá 5.650.000.000 đồng, đặt cọc lần đầu 200.000.000 đồng vào ngày 15/02/2022 (ông S có viết biên nhận và ký tên), đặt cọc lần hai số tiền 1.250.000.000 đồng vào ngày 22/02/2022 (ông S có viết biên nhận và ký tên). Ngoài ra, ông S kêu ông N thanh toán cho Ngân hàng C (Ngân hàng X) số tiền 1.700.000.000 đồng để lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ra để làm hợp đồng chuyển nhượng, ông N đã thanh toán cho C. Còn lại lần cuối ông N chuyển khoản cho ông S số tiền 2.500.000.000 đồng (có giấy chuyển tiền ngày 02/3/2022 qua tài khoản tại A). Như vậy, ông N đã thanh toán đủ số tiền nhận chuyển nhượng. Đến ngày 09/3/2022, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận N xác nhận chỉnh lý chuyển nhượng cho ông Đ1 Hiếu Nghĩa thửa đất số 727 – tờ bản đồ số 12, loại đất ODT, tọa lạc địa chỉ số B - Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. Sau đó, ông N ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản Số ANT.BĐCN.371.230222 ngày 09/3/2022 để đảm bảo vay tiền tại Ngân hàng TMCP Á là hoàn toàn phù hợp pháp luật.
* Qúa trình giải quyết, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Hữu K và những người trong gia đình ông trình bày:
Ông Bùi Hữu K trình bày:
Năm 2021, do kẹt vốn và đang bị mắc nợ xấu không thể đứng ra vay tiền tại các ngân hàng, nên thông qua người làm việc ở ngân hàng có giới thiệu ông Nguyễn Mạnh Bảo S làm việc trong Ngân hàng Q1 cho ông K biết. Từ đó, giữa ông K và ông S thống nhất với nhau là ông K làm giấy ủy quyền cho ông S đứng tên vay hộ ngân hàng bằng tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 727 – tờ bản đồ số 12, loại đất ODT, tọa lạc địa chỉ số B - Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ, do ông Bùi Hữu K đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS03144 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 06/4/2021. Giữa ông K và ông S có lập “Giấy ủy quyền” ngày 18/5/2021 có người làm chứng là ông Nguyễn Đình Q. Theo đó:
Lần thứ 1: Năm 2021, ông S nói vay tiền Ngân hàng X – CN Cần Thơ, số tiền vay là 1.600.000.000 đồng, trong đó ông K hùn vay 600.000.000 đồng. Ông K cùng ông S thực hiện trả nợ ngân hàng theo thỏa thuận xong. Đến ngày 02/3/2022 thì tất toán cho Ngân hàng và lấy giấy đất ra.
Lần thứ 2: Năm 2022, ông S nói vay tiền Ngân hàng TMCP Á số tiền vay 2.500.000.000 đồng, trong đó ông K hùn vay 1.000.000.000 đồng. Ông K đã thực hiện đóng lãi hàng tháng đầy đủ thông qua ông S.
Cho đến khi được phía A và ông Đoàn Hiếu N đến thông báo về vi phạm nợ quá hạn thì ông K mới biết rằng ông S đã có hành vi lừa gạt để sang tên quyền sử dụng đất. Ông K cho rằng ông có ra phòng công chứng ký tên các giấy tờ vay tiền chứ không biết rằng ký tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông S, ông N. Phía A cũng không có đến nhà để thẩm định xác minh nhà đất.
Nay qua yêu cầu khởi kiện của A đối với ông Đoàn Hiếu N, ông K thừa nhận có hùn vay tiền ngân hàng nên đồng ý góp tiền vào để những người hùn vay cùng trả nợ ngân hàng, lấy giấy đất ra. Ông K không đồng ý để ngân hàng xử lý tài sản thế chấp.
Những người trong gia đình ông K: Bà Võ Thị Thanh N2, chị Bùi Thị Kim T2 thống nhất theo ý kiến trình bày của ông K; những người còn lại không có ý kiến gì.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Mạnh Bảo S trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết với nhau trước, nên ông Bùi Hữu K có nhờ ông Nguyễn Mạnh Bảo S đứng ra vay tiền Ngân hàng cho ông K với số tiền khoảng 1.600.000.000 do ông K không đứng vay được (nợ xấu). Nên ngày 18/5/2021, ông K có làm Giấy ủy quyền cho ông S đứng tên vay hộ ngân hàng bằng tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 727 – tờ bản đồ số 12, loại đất ODT, tọa lạc địa chỉ số B - Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. Nhưng do thủ tục vay tiền tại Ngân hàng đòi hỏi phải theo quy định, nên ông K và ông S ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 18/5/2021 được công chứng tại Văn phòng C1, chứ thực chất không có việc chuyển nhượng. Khi đó ông S có giải thích vấn đề này cho ông K biết và ông K đồng ý thực hiện. Ông S làm thủ tục và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận N xác nhận chỉnh lý chuyển nhượng cho ông Nguyễn Mạnh Bảo S ngày 25/5/2021. Sau đó, ông S đứng ra vay tiền, cụ thể như sau:
Lần thứ 1: Ông S đứng tên vay tiền tại Ngân hàng X – CN. Cần Thơ, vay số tiền là 1.600.000.000 đồng, ông S đã đưa ông K 600.000.000 đồng, còn phần ông S nhận vay là 1.000.000.000 đồng. Ông S và ông K cùng thực hiện trả nợ ngân hàng theo thỏa thuận. Đến ngày 02/3/2022 thì tất toán cho Ngân hàng và lấy giấy đất ra xong.
Lần thứ 2: Sau khi tất toán xong khoản vay tại Ngân hàng X – CN. Cần Thơ, ông S được ông Phạm Văn Đ đang công tác tại Ngân hàng TMCP Á, giới thiệu cho ông Đoàn Hiếu N đứng ra vay tiền tại Ngân hàng TMCP Á – Chi nhánh C2 – P1 (B). Theo đó, lần này được sự đồng ý của ông K, ông S và ông N có ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 727 – tờ bản đồ số 12, loại đất ODT, tọa lạc địa chỉ số B - Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ, có công chứng và sau đó tiến hành đăng ký và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận N xác nhận chỉnh lý chuyển nhượng cho ông Đ1 Hiếu Nghĩa ngày 09/3/2022. Lần này, theo thỏa thuận ông Đ đứng ra làm thủ tục để ông N đứng ra vay dùm thì cho tiền “huê hồng” ông Nghĩa L1 50.000.000 đồng, ông Đ có thông báo với ông S và ông K là chỉ vay tối đa trong hạn mức 2.500.000.000 đồng. Ông S và ông K đã nhận đủ số tiền vay 2.500.000.000 đồng, trong đó phần ông S vay 1.500.000.000 đồng, phần ông K vay 1.000.000.000 đồng.
Riêng khoản tiền vay 2.000.000.000 đồng phát sinh thêm thì ông S và ông K hoàn toàn không biết. Sau khi vay, ông S và ông K có chuyển khoản cho ông Đ vài lần và sau đó chuyển khoản cho ông N để đóng tiền A thu hàng tháng đầy đủ theo yêu cầu của ông Đ. Đến khi A thông báo nợ quá hạn thì ông K và ông S mới biết là ông N không thực hiện đóng tiền lãi hàng tháng đầy đủ. Ngoài ra, ông N và ông Đ còn tự ý vay thêm 2.000.000.000 đồng để chia nhau.
Qua yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Á đối với ông N, ông S thừa nhận ông và ông K có nợ tiền vay của Ngân hàng TMCP Á đối với khoản vay gốc 2.500.000.000 đồng như đã trình bày trên đây, ông S và ông K sẽ cùng có trách nhiệm đối với khoản vay này. Riêng khoản vay 2.000.000.000 đồng là do ông N và ông Đ tự ý vay thêm nên ông N và ông Đ phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ này.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn Đ trình bày:
Vào năm 2022, do có quen biết từ trước nên ông Đoàn Hiếu N có nói với ông Phạm Văn Đ là có nhu cầu vay tiền ngân hàng để làm ăn, nên ông Đ làm thủ tục hồ sơ cho ông N vay tiền tại Ngân hàng TMCP Á – Chi nhánh C2 – P2 (T). Theo Hợp đồng cấp tín dụng Số ANT.CN.2513.230222 ngày 24/02/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Á Chi nhánh C2 với ông Đoàn Hiếu N; số tiền gốc là 4.500.000.000 đồng. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 727 – tờ bản đồ số 12, loại đất ODT, tọa lạc địa chỉ số B - Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
Khi đó, ông Đ cũng có nhu cầu cần vốn để làm ăn nên có kêu ông N cho mượn tiền, ông N đồng ý cho mượn 1.500.000.000 đồng trong khoản vay 4.500.000.000 đồng. Hình thức mượn tiền là sau khi ông N được nhận tiền vay, ông N đưa tiền mặt lại cho ông Đ, và đến kỳ hạn trả nợ hàng tháng ông Đ sẽ chuyển khoản cho ông N số tiền gốc và lãi tương ứng với khoản vay 1.500.000.000 đồng theo quy định trong Hợp đồng cấp tín dụng.
Theo đó, trong khoảng thời gian từ 07 đến 09 tháng sau ngày giải ngân, ông Đ có chuyển khoản cho ông N đóng tiền gốc và lãi cho A, tuy không có đóng liên tục nhưng các lần chuyển khoản ông Đ vẫn còn chứng từ. Thời gian đó, ông N không thực hiện đóng tiền gốc và lãi đầy đủ cho Ngân hàng nên phát sinh nợ xấu. Ngân hàng thấy tình hình ông N như vậy mới gây áp lực và cho ông Đ nghỉ việc. Tiếp đến là do tình hình dịch bệnh Covid 19 nên ông Đ không làm ăn được và không có tiền đóng trả cho ông N.
Ông Đ cho rằng ông không biết việc ông K, ông S có nhờ ông N đứng ra vay tiền dùm tại A hay không, bởi không nghe ai nói. Quá trình ông K, ông S, ông N thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 727 – tờ bản đồ số 12, loại đất ODT, tọa lạc địa chỉ số B - Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ, thì ông Đ không biết và không có tham gia. Ngoài ra, dù ông Đ là người lập hồ sơ cấp tín dụng cho ông N, nhưng việc thẩm định tài sản thế chấp do bộ phận khác tiến hành, nên ông Đ không nắm tình hình tài sản thế chấp như thế nào.
Qua yêu cầu khởi kiện của A, ông Đ thừa nhận có mượn tiền ông Đoàn Hiếu Nghĩa L1 1.500.000.000 đồng trong khoản vay 4.500.000.000 đồng nói trên. Nên ông Đ đồng ý chịu trách nhiệm trả nợ cho ông N.
Tại phiên tòa, các đương sự có mặt vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày và yêu cầu như trên. Phía A có cung cấp Giấy đặt cọc có chữ ký Đoàn Hiếu N và Nguyễn Mạnh Bảo S (photo); Biên bản thẩm định hiện trạng bất động sản ngày 15/02/2022 (photo); và Ảnh chụp BĐS thẩm định (ảnh màu).
Tại Bản án sơ thẩm số 46/2024 ngày 18/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt tuyên xử:
- Buộc ông Đoàn Hiếu N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (A) số nợ vay theo Hợp đồng cấp tín dụng Số ANT.CN.2513.230222 ngày 24/02/2022, tạm tính đến ngày 18/6/2024, gồm:
- Nợ gốc: 4.463.547.899 đồng;
- Lãi trong hạn: 69.437.291 đồng;
- Lãi quá hạn: 719.127.867 đồng;
- Phạt chậm trả lãi: 6.943.729 đồng;
- Tổng cộng: 5.259.056.786 đồng.
(Bằng chữ: năm tỷ, hai trăm năm mươi chín triệu, không trăm năm mươi sáu ngàn, bảy trăm tám mươi sáu đồng).
Và phải trả số tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng cấp tín dụng kể từ ngày 19/6/2024 cho đến khi thanh toán xong hết nợ cho A.
- Hủy Hợp đồng thế chấp tài sản Số ANT.BĐCN.371.230222 ngày 09/3/2022 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Á với ông Đoàn Hiếu N.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Á phải giao trả lại ông Đ1 Hiếu Nghĩa 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS03144 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 06/4/2021; được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận N chỉnh lý chuyển nhượng cho ông Đ1 Hiếu Nghĩa ngày 09/3/2022.
- Ngoài ra Bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, án phí và quyền kháng cáo theo qui định.
Ngày 01/7/2024 Ngân hàng A có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm. Ngày 05/11/2024 Ngân hàng A có đơn sửa đổi bổ sung đơn kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm về nghĩa vụ trả tiền phạt chậm trả lãi và về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.
Tại phiên tòa người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị đơn vẫn vắng mặt. Các người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt (bà N2, bà L có mặt).
Quan điểm của Viện kiểm sát:
- - Về tố tụng: Việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng qui định. Việc chấp hành của những người tham gia tố tụng là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Trên cơ sở tài liệu chứng cứ cho thấy cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện buộc ông Đoàn Hiếu N phải trả số nợ gốc và lãi theo yêu cầu của A là phù hợp. Tuy nhiên không chấp nhận phần phạt lãi quá hạn mà chỉ chấp nhận phần phạt lãi trong hạn với số tiền là 10% x 69.437.291 đồng = 6.943.729 đồng;
- Về Hợp đồng thế chấp tại thời điểm thẩm định có trước khi chuyển nhượng cho ông N, có tài sản của người liên quan trên đất chưa có ý kiến của họ, ông S thừa nhận làm thủ tục chuyển nhượng để đảm bảo cho việc vay nợ thực chất không có chuyển nhượng... nên cấp thẩm đã hủy hợp đồng thế chấp tài sản. Các vấn đề khác đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
- Ngân hàng A kháng cáo không cung cấp thêm chứng cứ mới nào khác, nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng A về lãi suất và hợp đồng thế chấp. Đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn là ông Đoàn Hiếu N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số nợ vay theo Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết, nếu không trả được nợ vay thì có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp thể thu hồi nợ. Đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.
[2] Về tố tụng:
Qúa trình giải quyết vụ án, ông Bùi Hữu K khai rằng những người trong gia đình hiện đang sinh sống cùng ông tại căn nhà số B - Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ, tọa lạc trên thửa đất số 727 – tờ bản đồ số 12, đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP Á, gồm có cha là ông Bùi Hữu T4, vợ là bà Võ Thị Thanh N2 cùng các người thân là Bùi Minh T1, Bùi Thị Kim T2 và Nguyễn Hồng Thúy L.
Do đó, Tòa án xác định ông K và những người nói trên tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ngày 17/6/2024, ông K cung cấp Trích lục khai tử ông Bùi Hữu T4 chết ngày 31/5/2024. Hội đồng xét xử thấy rằng ông Bùi Hữu K là người đứng tên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn liền với đất, nên về mặt pháp lý căn nhà và đất là tài sản hợp pháp của ông K (trước khi chuyển nhượng cho người khác). Còn ông T4 là cha ông K, sống cùng nhà với ông K, và trong quá trình giải quyết vụ án ông T4 cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì liên quan đến thửa đất 727 và tài sản gắn liền với đất. Vì thế, nay ông T4 chết không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này. Do đó, không cần thiết phải đưa người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông T4 vào tham gia tố tụng, bởi cũng không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án.
Qúa trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành đúng các thủ tụng tố tụng, các bên đương sự không thể thoả thuận được nên vụ án được đưa ra xét xử. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn có người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Mạnh Bảo S, ông Bùi Hữu K và những người trong gia đình ông K tiếp tục vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do chính đáng; ông Phạm Văn Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt những người này là phù hợp.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về quan hệ hợp đồng tín dụng:
Bị đơn ông Đoàn Hiếu N đã thừa nhận có vay tiền của Ngân hàng TMCP Á như phía nguyên đơn trình bày. Cụ thể theo Hợp đồng cấp tín dụng Số ANT.CN.2513.230222 ngày 24/02/2022 được hai bên ký kết. Nội dung và các điều khoản cụ thể được ghi trong hợp đồng cấp tín dụng. Sau khi vay tiền, ông N không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán như đã thoả thuận trong hợp đồng. Phía A đã nhiều lần thông báo yêu cầu thanh toán nhưng ông N vẫn không thực hiện.
Do đó, Ngân hàng TMCP Á khởi kiện yêu cầu ông Đoàn Hiếu N có nghĩa vụ trả nợ vay, tạm tính đến ngày 18/6/2024 thì ông N còn nợ A các khoản tiền như sau:
- Nợ gốc: 4.463.547.899 đồng;
- Lãi trong hạn: 69.437.291 đồng;
- Lãi quá hạn: 719.127.867 đồng;
- Phạt chậm trả lãi: 44.003.549 đồng;
- Tổng cộng: 5.296.116.606 đồng.
Và đồng thời phải trả lãi phát sinh sau ngày 18/6/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ cho A.
Xét thấy, Hợp đồng cấp tín dụng này tuân thủ quy định pháp luật về nội dung và hình thức và đã được thực hiện, nên phát sinh hiệu lực. Ông N thừa nhận số nợ trên là của riêng ông vay, không có vay dùm người khác. Nên việc ông K, ông S nói nhờ ông N đứng ra vay dùm là chưa có cơ sở. Theo bảng kê nợ nốc và lãi tạm tính đến ngày 18/6/2024 mà phía A cung cấp là phù hợp, bị đơn không phản đối, bị đơn chỉ yêu cầu không tính lãi kể từ ngày gửi Thông báo đề nghị A xử lý tài sản thế chấp.
Tuy nhiên, Thông báo ngày 18/4/2023 do người đại diện theo ủy quyền của ông N (là ông Đặng Khải N1) gửi Ngân hàng TMCP Á – Chi nhánh C2 để yêu cầu Ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp là sau ngày A khởi kiện và tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án, cho nên Thông báo này không phải thuộc trường hợp A phải thực hiện. Vì thế, nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả số nợ gốc và lãi chưa thanh toán nói trên là phù hợp. Tuy nhiên, theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không tính khoản tiền phạt chậm trả lãi đối với lãi quá hạn (lãi trên nợ gốc quá hạn) mà chỉ tính tiền phạt chậm trả lãi đối với lãi trong hạn theo lãi suất thỏa thuận là 10% x 69.437.291 đồng (lãi trên nợ gốc trong hạn) = 6.943.729 đồng, là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Ngoài ra, buộc bị đơn còn phải trả lãi phát sinh theo Hợp đồng cấp tín dụng cho đến khi nào trả xong hết nợ cho A.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về quan hệ hợp đồng thế chấp:
Theo các tài liệu trong hồ sơ thể hiện, để đảm bảo cho Hợp đồng cấp tín dụng, giữa Ngân hàng TMCP Á với ông Đoàn Hiếu N đã ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản Số ANT.BĐCN.371.230222 ngày 09/3/2022. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa số 727 – tờ bản đồ số 12, loại đất ODT, tọa lạc địa chỉ số B - Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ, ông Bùi Hữu K đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS03144 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 06/4/2021; được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận N chỉnh lý chuyển nhượng cho ông Đ1 Hiếu Nghĩa ngày 09/3/2022.
Xét thấy, vào thời điểm các bên ký Hợp đồng thế chấp tài sản, trên thực tế đang tồn tại căn nhà gia đình ông K sinh sống. Ông K cho rằng gia đình ông không hề biết việc thế chấp này, nên ông và gia đình không đồng ý để A tiến hành xử lý tài sản thế chấp. Lẽ ra, để đề phòng và hạn chế rủi ro khi cho vay, phía A phải thẩm định, xác minh và hỏi ý kiến của người đang ở trên đất trước khi nhận thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, bởi sự tồn tại của người liên quan ở trên đất là quá rõ ràng. Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án có ra thông báo yêu cầu và ấn định thời hạn cho phía A cung cấp các tài liệu chứng minh việc thẩm định, xác minh tài sản thế chấp (Bút lục A, 122), nhưng phía A vẫn không thực hiện đúng hạn. Tại phiên tòa, phía A có cung cấp Biên bản thẩm định hiện trạng bất động sản ngày 15/02/2022 (photo); và Ảnh chụp BĐS thẩm định, nhưng các tài liệu này được lập trước thời điểm chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông N, và cũng chưa thể hiện ý kiến của người liên quan ở trên đất. Vấn đề này cho thấy A thiếu trách nhiệm trong việc thẩm định tài sản thế chấp để cho vay.
Mặt khác, theo hồ sơ tín dụng A cung cấp, ngày giải ngân lần 1 với số tiền 2.500.000.000 đồng (hai tỷ, năm trăm triệu đồng) là ngày 02/3/2022, tức trước ngày Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận N chỉnh lý chuyển nhượng cho ông Đ1 Hiếu Nghĩa ngày 09/3/2022 (cũng là ngày ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản Số ANT.BĐCN.371.230222 ngày 09/3/2022). Vấn đề này cho thấy A có dấu hiệu chủ quan thiếu sự thận trọng cần thiết trong quy trình xét duyệt cho vay có thế chấp tài sản đảm bảo.
Do đó, không thể xem Ngân hàng TMCP Á là bên thứ ba ngay tình trong trường hợp này, nên phải chịu hậu quả pháp lý. Vì vậy cần hủy Hợp đồng thế chấp tài sản Số ANT.BĐCN.371.230222 ngày 09/3/2022 giữa Ngân hàng TMCP Á với ông Đoàn Hiếu N.
Theo đó, Ngân hàng TMCP Á phải giao trả lại ông Đ1 Hiếu Nghĩa 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS03144 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 06/4/2021; được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận N chỉnh lý chuyển nhượng cho ông Đ1 Hiếu Nghĩa ngày 09/3/2022.
[5] Về yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng A đối với số tiền lãi phạt chậm trả lãi do án sơ thẩm không chấp nhận như trên nhận định tại mục 3 là phù hợp. Đối với yêu cầu công nhận hợp đồng thế chấp và được quyền phát mãi tài thế chấp như nhận định đánh giá chứng cứ của cấp sơ thẩm là có căn cứ. Tại giai đoạn phúc thẩm Ngân hàng A không cung cấp thêm chứng cứ mới nào khác, do vậy không có cơ sở để xem xét kháng cáo của Ngân hàng A. Bản án sơ thẩm xử là có căn cứ được giữ nguyên.
[6] Đối với các quan hệ tranh chấp khác có liên quan:
Trong vụ án này, theo các tài liệu trong hồ sơ và lời khai của các đương sự là ông Bùi Hữu K, ông Nguyễn Mạnh Bảo S, ông Đoàn Hiếu N thì giữa các ông có mối quan hệ giao dịch quyền sử dụng đất với nhau, cụ thể là: quan hệ ủy quyền giữa ông Bùi Hữu K với ông Nguyễn Mạnh Bảo S theo “Giấy ủy quyền” ngày 18/5/2021; quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Bùi Hữu K với ông Nguyễn Mạnh Bảo S; quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Nguyễn Mạnh Bảo S với ông Đoàn Hiếu N. Các quan hệ tranh chấp này cần phải được làm sáng tỏ để giải quyết đồng thời, toàn bộ. Trong quá trình giải quyết vụ án này, các đương sự không có đơn yêu cầu độc lập về việc giải quyết các quan hệ tranh chấp liên quan, nên tòa án không có cơ sở xem xét. Tại phiên tòa, phía ông K, ông S, ông Đ cũng tiếp tục vắng mặt. Xét thấy, việc tách các quan hệ tranh chấp này cũng như quan hệ vay mượn tiền (nếu có) giữa ông N, ông Đ, ông S, ông K để giải quyết trong vụ kiện khác là cần thiết, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên theo quy định pháp luật.
[7] Về chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản và lệ phí trích đo địa chính:
Lỗi làm phát sinh vụ kiện là do bị đơn, nên bị đơn phải chịu toàn bộ khoản chi phí, lệ phí với số tiền tổng cộng là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Nguyên đơn đã nộp tạm ứng trước, nên bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả số tiền này cho nguyên đơn.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Yêu cầu khởi kiện về hợp đồng tín dụng của nguyên đơn được chấp nhận, nên Ngân hàng TMCP Á được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.256.000 đồng (năm mươi sáu triệu, hai trăm năm mươi sáu ngàn đồng).
Bị đơn ông Đoàn Hiếu N phải chịu án phí giá ngạch là 113.259.000 đồng.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do yêu cầu kháng cáo của A không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm.
[10] Quan điểm của Viện kiểm sát:
Nhận xét và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát như trên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: - Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
- - Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của Ngân hàng TMCP Á.
- - Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng TMCP Á.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm;
- Buộc ông Đoàn Hiếu N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (A) số nợ vay theo Hợp đồng cấp tín dụng Số ANT.CN.2513.230222 ngày 24/02/2022, tạm tính đến ngày 18/6/2024, gồm:
- Nợ gốc: 4.463.547.899 đồng;
- Lãi trong hạn: 69.437.291 đồng;
- Lãi quá hạn: 719.127.867 đồng;
- Phạt chậm trả lãi: 6.943.729 đồng;
- Tổng cộng: 5.259.056.786 đồng.
(Bằng chữ: năm tỷ, hai trăm năm mươi chín triệu, không trăm năm mươi sáu ngàn, bảy trăm tám mươi sáu đồng).
Và phải trả số tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng cấp tín dụng kể từ ngày 19/6/2024 cho đến khi thanh toán xong hết nợ cho A.
- Hủy Hợp đồng thế chấp tài sản Số ANT.BĐCN.371.230222 ngày 09/3/2022 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Á với ông Đoàn Hiếu N.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Á phải giao trả lại ông Đ1 Hiếu Nghĩa 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS03144 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 06/4/2021; được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận N chỉnh lý chuyển nhượng cho ông Đ1 Hiếu Nghĩa ngày 09/3/2022.
- Về chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản và lệ phí trích đo địa chính: Ông Đoàn Hiếu N phải chịu chi phí, lệ phí tổng cộng là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Nguyên đơn đã nộp tạm ứng trước, nên ông N có nghĩa vụ hoàn trả số tiền này cho nguyên đơn.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Á được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.256.000 đồng (năm mươi sáu triệu, hai trăm năm mươi sáu ngàn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án Số 0003827 ngày 30/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.
Ông Đoàn Hiếu N phải chịu án phí tương ứng số tiền phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á là: 113.259.000 đồng (một trăm mười ba triệu, hai trăm năm mươi chín ngàn đồng).
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng A phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0005497 ngày 26/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt thành án phí (nộp xong)
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 07/11/2024.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điêu 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hồng Dung |
Bản án số 466/2024/DSPT ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 466/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
