|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
|
Bản án số: 466/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 9 - 2024 Về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”. |
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Thúy Quỳnh
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Mai Khanh và bà Bùi Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 141/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 378/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Phạm Thị H, sinh ngày 11/01/1994. Địa chỉ: xóm T, xã L, huyện H, tỉnh Nghệ An, vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt)
- Bị đơn: anh Trần Văn H1, sinh ngày 16/6/1991. Địa chỉ: xóm T, xã L, huyện H, tỉnh Nghệ An, vắng mặt lần thứ hai.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Trần Văn C và bà Đinh Thị N. Địa chỉ: xóm T, xã L, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày của nguyên đơn - chị Phạm Thị H như sau:
Chị Phạm Thị H và anh Trần Văn H1 tìm hiểu, yêu thương nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An ngày 21 tháng 3 năm 2012. Sau vợ chồng sống chung 11 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính cách nhau, hay xẩy ra cãi vã, dẫn đến tình cảm ngày càng phai nhạt. Năm 2023 anh H1 đi lao động tại Đài Loan, từ khi anh H1 đi nước ngoài đến nay thỉnh thoảng có gọi điện về, nhưng vợ chồng không nói chuyện được với nhau, sống xa nhau nhưng thiếu sự tin tưởng, cuộc sống của ai người đó lo. Nay chị H không còn tình cảm với anh H1 nữa, nên đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Trần Văn H1.
Về con chung: chị H, anh H1 có 02 người con chung là Trần Văn T, sinh ngày 01 tháng 02 năm 2013 và Trần Thị Khánh L, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2014. Từ khi anh H1 đi nước ngoài, hai con chung do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, đến tháng 12.2023 thì hai con chung về ở với ông Trần Văn C và bà Đinh Thị N (ông bà nội các cháu). Ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: Quá trình từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cho thân nhân và niêm yết theo quy định, nhưng bị đơn là anh Trần Văn H1 vắng mặt, do đó không có ý kiến.
Chị Phạm Thị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh H1 cư trú, chị chỉ biết hiện nay anh H1 đang sinh sống tại Đài Loan. Theo Công văn số 3322/QLXNC(Đ1) ngày 12/8/2024 của Phòng Q - Công an tỉnh N, anh Trần Văn H1 xuất cảnh qua cửa khẩu N1 ngày 05/12/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Tòa án đã tiến hành gửi văn bản yêu cầu ông Trần Văn C và bà Đinh Thị N (bố mẹ đẻ anh H1), địa chỉ: xóm T, xã L, huyện H, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu ông C, bà N thông báo với anh H1 để gửi lời khai về cho Tòa án, Tòa án đã trực tiếp lấy lời khai bà N để tiến hành xác minh thông tin của anh H1. Bà N cho biết: năm 2022, anh H1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ khi anh H1 đi nước ngoài đến nay chưa về Việt Nam lần nào. Tuy ở xa, nhưng anh H1 vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình để hỏi thăm sức khỏe bố mẹ và các con của anh H1. Anh H1 cũng đã biết việc chị H làm đơn ly hôn và Tòa án tỉnh đang giải quyết vụ án. Còn địa chỉ của anh H1 tại nước ngoài thì bà N không biết.
Xét thấy, anh H1 đã biết Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị H và anh H1, nhưng đến nay Tòa án vẫn không nhận được văn bản nào thể hiện ý kiến của anh H1 liên quan đến nội dung giải quyết vụ án.
Nguyện vọng của cháu Trần Văn T, Trần Thị Khánh L trình bày: hai cháu là con của bố Trần Văn H1 và mẹ Phạm Thị H. Hiện nay hai cháu đang sinh sống cùng ông Trần Văn C và bà Đinh Thị N (ông bà nội), bố mẹ ly hôn, hai cháu có mong muốn được ở với ông bà nội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn C và bà Đinh Thị N trình bày: chị H, anh H1 có 02 người con chung Trần Văn T, sinh ngày 01 tháng 02 năm 2013 và Trần Thị Khánh L, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2014. Từ khi bố các cháu (H1) đi nước ngoài đến nay, hai cháu do chúng tôi chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu chị H, anh H1 ly hôn đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết để đảm bảo cho các cháu được đi học và phát triển tốt thể thể chất.
Về chi phí chăm sóc nuôi dưỡng hai con chung của anh H1, chị H thì do bố các cháu ở nước ngoài gửi về, ông bà chỉ có công sức chăm sóc giúp. Còn chị H đi làm ăn ở đâu bà cũng không rõ, cũng không quan tâm hỏi han tới các con, là người mẹ nhưng không có trách nhiệm. Công sức chăm sóc hai cháu từ trước đến nay và sau này bà không yêu cầu anh H1, chị H hoàn trả. Nếu chị H có nguyện vọng được nuôi hai cháu, thì đề nghị chị H có trách nhiệm và đón hai con cháu về nhà chăm sóc. Nếu chị H không chăm sóc được, thì đề nghị một tháng đóng góp cho chúng tôi mỗi tháng 3.000.000đ để chúng tôi chăm sóc thay chị H.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Trần Văn H1. Về con chung: Đề nghị giao con chung Trần Văn T, sinh ngày 01 tháng 02 năm 2013 và Trần Thị Khánh L, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2014 cho chị Phạm Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên không xem xét; Về tài sản chung, nợ chung: Chị H chưa yêu cầu, nên không xem xét; Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: bị đơn anh Trần Văn H1 có địa chỉ cư trú tại xã L, huyện H, tỉnh Nghệ An. Anh H1 hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài (Đài Loan), nên vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38, Điều 39 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về thủ tục hòa giải: vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì hiện nay anh Trần Văn H1 vắng mặt tại nơi cư trú và hiện nay đang ở nước ngoài, chị Phạm Thị H có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải là phù hợp khoản 2 và khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:
Đối với nguyên đơn: chị Phạm Thị H đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và chị H có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị H là đúng quy định pháp luật.
Đối với bị đơn – anh Trần Văn H1, đã biết Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết việc ly hôn giữa chị H và anh H1, nhưng anh H1 không cung cấp địa chỉ và không có ý kiến về vụ án, thể hiện anh H1 cố tình dấu địa chỉ. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Anh H1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Trần Văn C, bà Đinh Thị N, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ. Ông C, bà N vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử vắng mặt những người này là đúng quy định.
Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.
[2] Về nội dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 17/2012 quyển số 01/2007 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An thì hôn nhân giữa chị Phạm Thị H và anh Trần Văn H1 là hợp pháp. Sau khi kết hôn chị H, anh H1 sống chung hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính cách nhau, hay xẩy ra cãi vã, dẫn đến vợ chông không còn tình cảm. Năm 2023 anh H1 đi lao động tại Đài Loan, anh H1 đi nước ngoài có thi thoảng gọi điện về, nhưng chị H, anh H1 không nói chuyện được với nhau, sống xa nhau nhưng thiếu sự tin tưởng lẫn nhau.
Xét thấy: chị H và anh H1 sống xa nhau, nhưng lại không quan tâm đến nhau. Do vợ chồng sống cách xa nhau, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh H1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị H được ly hôn anh H1 là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
2.2. Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Trần Văn H1 có 02 con chung là Trần Văn T, sinh ngày 01 tháng 02 năm 2013 và Trần Thị Khánh L, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2014. Hiện nay hai cháu đang được ông C, bà N (ông bà nội cháu) chăm sóc, nuôi dưỡng.
Xét thấy: việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là trách nhiệm của chị H, anh H1. Hiện tại anh Trần Văn H1 đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ, không có điều kiện trực tiếp nuôi con chung và cũng không có ý kiến đề nghị đối với Tòa án; chị H ở Việt Nam và có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cần chấp nhận. Anh H1 có thể khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung khi có điều kiện.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị H chưa yêu cầu, anh Trần Văn H1 cũng chưa có ý kiến nên không xem xét.
Về chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu hai con chung của anh H1, chị H: ông Trần Văn C, bà Đinh Thị N không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không được ai cản trở. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H chưa yêu cầu và anh H1 cũng chưa có ý kiến, nên Hội đồng xét xử chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
3] Về án phí sơ thẩm: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; 37, 38, 39 Điều 147; khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật tố dụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T1 về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H.
- Về hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Trần Văn H1.
- Về con chung:
- Giao con chung Trần Văn T, sinh ngày 01 tháng 02 năm 2013 và Trần Thị Khánh L, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2014 cho chị Phạm Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 10/2024 đến khi các con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung của anh H1, chị H: ông Trần Văn C, bà Đinh Thị N không yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0013057 ngày 30/7/2024.
- Về quyền kháng cáo:
- Chị Phạm Thị H, ông Trần Văn C, bà Đinh Thị N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ.
- Anh Trần Văn H1 đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy Quỳnh |
Bản án số 466/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 466/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
