|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 465/2023/DS-PT Ngày 22-11-2023 V/v Tranh chấp yêu cầu mở lối đi qua bất đồng sản liền kề |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền. |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Trung Dũng |
| Bà Ngô Thị Bích Diệp. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ấn – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 376/2023/TLPT-DS ngày 19 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2023/DS-ST ngày 10/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 348/2023/QĐPT-DS, ngày 01 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị L, sinh năm 1977; địa chỉ: tổ B, ấp D, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ H, ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị Kiều D, sinh năm 1994; địa chỉ: tổ H, ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Chị Nguyễn Thị Kiều T1, sinh năm 1989; địa chỉ: tổ H, ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Cháu Nguyễn Thị Kiều T2, sinh năm 2006; địa chỉ: tổ H, ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Thị Kiều T2: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1967; cùng địa chỉ: tổ H, ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đoàn Thị L trình bày:
Vào cuối năm 2011, bà Đoàn Thị L nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 143, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương của ông Đàm Văn T3 nhưng thửa đất không có lối đi. Trước thời điểm nhận chuyển nhượng thửa đất trên thì bà L có đến gặp vợ chồng bị đơn (ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B) là chủ của các thửa đất số 136, 91, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện P (giáp ranh với thửa 143 của bà L và đường ĐH507) để mua một phần đất làm lối đi thì ông T, bà B đồng ý bán cho bà L phần đất làm lối đi xe hon đa, dài từ phần đất của ông T, bà B giáp với đường ĐH 507 đến hết đất để đi vào thửa đất 143 của bà L với giá 20.000.000 đồng (thể hiện tại Giấy mua bán đường đi ngày 01/9/2011). Ngày 19/12/2011, Ủy ban nhân dân huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 143, tờ bản đồ số 8, xã T, huyện P cho bà Đoàn Thị L. Từ khi bà L nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 143, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương thì bà L sử dụng phần đất đã mua của ông T, bà B làm lối đi vào đất từ năm 2011 đến nay ổn định. Đây là lối đi duy nhất và thuận tiện để đi vào thửa đất 143 của nguyên đơn. Đến cuối năm 2021, bà L làm thủ tục để đo đạc điều chỉnh lại quyền sử dụng đất thì ông T, bà B ngăn cản, không cho cán bộ địa chính đo đạc, không thống nhất được ranh mốc quyền sử dụng đất. Hiện tại phía ông T, bà B vẫn trừ lối đi cho bà L vào đất nhưng do thỏa thuận trước đây là lối đi xe hon đa nên ảnh hưởng cho bà L trong việc đi vào thửa đất 143 để sử dụng đất nông nghiệp như: Bón phân và chăm sóc cây cao su, thu hoạch mủ cao su cũng như thanh lý cây cao su sau này. Nay bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T, bà B phải mở lối đi cho bà L có diện tích 414,4m2, được đánh số hiệu từ 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, thuộc các thửa đất số 136, 91 tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương. Phần đất yêu cầu mở lối đi có tứ cận: Hướng Đông giáp các thửa 141, 169, 143; hướng Tây giáp các thửa 136, 91; hướng Nam giáp thửa 91, 143; hướng Bắc giáp đường đất.
Bà L đồng ý bồi thường giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích ông T, bà B mở lối đi cho bà L theo giá trị của diện tích đất đã được định giá. Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Giấy mua bán đường đi ngày 01/9/2011) và không yêu cầu giải quyết đối với số tiền 20.000.000 đồng đã giao cho ông T, bà B vào ngày 01/9/2011. Bà L tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và toàn bộ chi phí định giá, chi phí tố tụng liên quan đến quá trình giải quyết vụ án.
2. Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Ông Nguyễn Văn T thống nhất với diện tích đất, ranh giới đất sử dụng thực tế của 02 thửa đất số 136, 91 tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương đối với các thửa đất giáp ranh theo kết quả đo đạc ngày 12/01/2023 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P cung cấp.
Thửa đất số 136, 91 tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương, được Ủy ban nhân dân huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B. Hướng bắc giáp với đường ĐH507, hướng nam giáp với thửa đất số 143, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương của bà Đoàn Thị L. Ngày 01/9/2011, ông và vợ là bà Nguyễn Thị B có thỏa thuận với bà L là để cho bà L một lối đi bằng xe hon đa kéo dài qua các thửa số 136, 91 tờ bản đồ số 8 do ông và bà B đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đi vào thửa đất số 143, tờ bản đồ số 8 do bà L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hai bên lập Giấy mua bán đường đi ngày 01/9/2011, bà L trả cho ông và bà B 20.000.000 đồng. Sau khi hai bên thỏa thuận mở lối đi thì ông T, bà B đã trừ ra phần đất giáp ranh với các thửa đất số 141, 169, 143 tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại xã T để cho bà L đi vào đất. Từ năm 2011 đến nay, ông và bà B vẫn cho bà L đi qua phần đất của ông bà để vào đất của bà L. Tại mảnh trích đo địa chính thửa đất là thể hiện thực tế của lối đi bà L đi qua đất của ông và bà B để vào đất, ông và bà B không cản trở, không làm gì ảnh hưởng đến lối đi của bà L nhưng bà vẫn tranh chấp với ông và bà B. Theo thỏa thuận từ năm 2011 thì bà L chỉ được đi qua đất của ông và bà B lối đi bằng xe hon đa, không thỏa thuận diện tích cụ thể. Nếu bà L có nhu cầu mở rộng lối đi để thuận tiện cho việc bón phân và chăm sóc cây cao su, thu hoạch mủ cao su cũng như thanh lý cây cao su sau này thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết mở lối đi qua thửa đất khác, ở hướng khác. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L về việc yêu cầu mở lối đi qua thửa đất của ông và bà B có diện tích 414,4m2 thuộc các thửa đất số 136, 91 tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương.
3. Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị B trình bày:
Bà Nguyễn Thị B thống nhất với diện tích đất, ranh giới đất sử dụng thực tế của 02 thửa đất số 136, 91 tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương đối với các thửa đất giáp ranh theo kết quả đo đạc ngày 12/01/2023 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P cung cấp.
Bà thống nhất với phần trình bày của bị đơn ông Nguyễn Văn T. Ngày 01/9/2011, bà, ông T và bà L thỏa thuận về việc bà và ông T bán cho bà L một phần đất thuộc thửa số 136, 91 tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp F, xã T để cho bà L đi vào thửa đất số 143 của bà L, lối đi bằng xe hon đa. Hai bên lập Giấy mua bán đường đi ngày 01/9/2011, bà L trả cho bà và ông T 20.000.000 đồng, bà và ông T đã nhận tiền đầy đủ. Từ tháng 9/2011 đến nay bà và ông T đã trừ ra phần đất thuộc thửa số 136, 91 giáp ranh với các thửa đất số 141, 169, 143 tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại xã T để cho bà L đi vào đất. Tại mảnh trích đo địa chính thửa đất là thể hiện thực tế của lối đi bà L đi qua đất của bà và ông T để vào đất, bà không cản trở, không làm gì ảnh hưởng đến việc đi lại của bà L nhưng bà vẫn tranh chấp với bà và ông T. Theo thỏa thuận từ năm 2011 thì bà L chỉ được đi qua đất của bà và ông T lối đi bằng xe hon đa, không thỏa thuận diện tích cụ thể. Nếu bà L có nhu cầu mở rộng lối đi để thuận tiện cho việc bón phân và chăm sóc cây cao su, thu hoạch mủ cao su cũng như thanh lý cây cao su sau này thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết mở lối đi qua thửa đất khác, ở hướng khác. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L về việc yêu cầu mở lối đi qua thửa đất của bà và ông T có diện tích 414,4m2 thuộc các thửa đất số 136, 91 tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương.
4. Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Kiều D trình bày:
Chị D là con ruột của ông T, bà B. Vào năm 2011, khi ông T, bà B thỏa thuận cho bà L đi qua đất của ông T, bà B thì chị D đang sống cùng với ông T, bà B nên chị D có ký vào giấy thỏa thuận “Giấy mua bán đường đi ngày 01/9/2011”. Thửa đất số 136, 91 tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương là của ông T, bà B, hiện chị D đã có gia đình và sinh sống ở chỗ khác, không liên quan đến phần đất tranh chấp cũng như thửa đất số 136, 91 của ông T, bà B. Nay, chị D thống nhất với diện tích đất, ranh giới đất sử dụng thực tế của 02 thửa đất số 136, 91 tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương đối với các thửa đất giáp ranh theo kết quả đo đạc ngày 12/01/2023 do Chi nhánh Văn Phòng đăng ký đất đai huyện P cung cấp. Thống nhất với phần trình bày của bị đơn, không bổ sung ý kiến gì thêm.
5. Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Kiều T1 trình bày:
Chị T1 là con ruột của ông T, bà B. Vào năm 2011, khi ông T, bà B thỏa thuận cho bà L đi qua đất của ông T, bà B thì chị T1 đang sống cùng với ông T, bà B nên chị T1 có ký vào giấy thỏa thuận “Giấy mua bán đường đi ngày 01/9/2011”. Thửa đất số 136, 91 tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương là của ông T, bà B, hiện chị T1 đã sinh sống ở chỗ khác, không liên quan đến phần đất tranh chấp cũng như thửa đất số 136, 91 của ông T, bà B. Nay, chị T1 thống nhất với diện tích đất, ranh giới đất sử dụng thực tế của 02 thửa đất số 136, 91 tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương đối với các thửa đất giáp ranh theo kết quả đo đạc ngày 12/01/2023 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P cung cấp. Đối với tranh chấp của nguyên đơn và bị đơn chị thống nhất với phần trình bày của bị đơn, không bổ sung ý kiến gì thêm.
6. Tại biên bản hòa giải và tại phiên tòa đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Thị Kiều T2 là ông T, bà B trình bày:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Kiều T2 là con ruột của ông T, bà B. người đại diện hợp pháp của chị T2 thống nhất với diện tích đất, ranh giới đất sử dụng thực tế của 02 thửa đất 136, 91 tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương đối với các thửa đất giáp ranh theo kết quả đo đạc ngày 12/01/2023 do Chi nhánh Văn Phòng đăng ký đất đai huyện P cung cấp. Đại diện hợp pháp của chị T2 cũng thống nhất ý kiến với phần trình bày của bị đơn, không bổ sung ý kiến gì thêm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2023/DS-ST ngày 10/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị L đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B về “Tranh chấp yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề”.
1.1. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B mở lối đi có diện tích 414,4m2 được đánh số hiệu từ 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, thuộc các thửa đất số 136 (196,5m2) và thửa đất số 91 (217,9m2) tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương (có sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án).
1.2. Nguyên đơn bà Đoàn Thị L phải trả cho bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B số tiền 91.354.800 đồng (chín mươi mốt triệu ba trăm năm mươi bốn nghìn tám trăm đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 24/7/2023 bị đơn ông Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về phần bồi thường giá trị quyền sử dụng đất lối đi.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Cụ thể như sau:
- Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B tự nguyện mở lối đi có diện tích 414,4m2 được đánh số hiệu từ 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, thuộc các thửa đất số 136 (196,5m2) và thửa đất số 91 (217,9m2) tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương để làm lối đi chung.
- Nguyên đơn bà Đoàn Thị L có trách nhiệm bối thường cho bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B giá trị quyền sử dụng đất lối đi chung với số tiền 175.000.000 đồng (một trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Kháng cáo của đương sự là trong thời hạn quy định. Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Do các bên đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, nội dung thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu mở lối đi có tổng diện tích 414,4m2 qua các thửa 136 (196,5m2) và thửa 91 (217,9m2), tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương, được Ủy ban nhân dân huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B. Nguyên đơn cho rằng năm 2011, có thỏa thuận lối đi với bị đơn bằng xe hon đa nhưng việc đi xe hon đa sẽ không sử dụng đất nông nghiệp được như: Bón phân và chăm sóc cây cao su, thu hoạch mủ cao su cũng như thanh lý cây cao su sau này. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải mở lối đi cho nguyên đơn có diện tích 414,4m2, được đánh số hiệu từ 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, thuộc các thửa đất 136, 91 tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng trước đây bị đơn có thỏa thuận chừa lối đi cho nguyên đơn là một lối đi bằng xe hon đa đi qua các thửa 136, 91 để vào thửa đất 143 đứng tên nguyên đơn đồng thời nguyên đơn có trả cho vợ chồng bị đơn 20.000.000 đồng. Lối đi thực tế bị đơn vẫn để cho nguyên đơn đi qua để vào đất của bị đơn theo mảnh trích đo địa chính nhưng điều kiện là nguyên đơn chỉ được đi bằng xe hon đa chứ không được đi xe bốn bánh. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn mở lối đi có diện tích 414,4m2 qua các thửa 136 (196,5m2) và thửa 91 (217,9m2), tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương thì bị đơn không đồng ý vì ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng cùng thống nhất với ý kiến của bị đơn.
[2] Nhận thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự tự nguyện thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, cụ thể như sau:
- Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B tự nguyện mở lối đi có diện tích 414,4m2 được đánh số hiệu từ 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, thuộc các thửa đất số 136 (196,5m2) và thửa đất số 91 (217,9m2) tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương để làm lối đi chung.
- Nguyên đơn bà Đoàn Thị L có trách nhiệm bồi thường cho bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B giá trị quyền sử dụng đất lối đi chung với số tiền 175.000.000 đồng (một trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
Xét thấy, sự thỏa thuận giữa các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận trên của các đương sự và sửa lại phần án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn.
[4] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp.
[5] Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 148, Điều 300, khoản 2 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 5, 95, 100, 166, 170, 171 và 203 của Luật Đất đai 2013; các Điều 136, 155, 245, Điều 246, 247, 248, 249 và Điều 254 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T.
2. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2023/DS-ST ngày 10/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương như sau:
2.1. Công nhận sự thỏa thuận giữa nguyên đơn bà Đoàn Thị L đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B về việc “Tranh chấp yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề”.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B tự nguyện mở lối đi có diện tích 414,4m2 được đánh số hiệu từ 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, thuộc các thửa đất số 136 (196,5m2) và thửa đất số 91 (217,9m2) tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương để làm lối đi chung.
- Phần đất lối đi chung có tứ cận: Hướng Đông giáp các thửa 141, 169, 143; hướng Tây giáp các thửa 136, 91; hướng Nam giáp thửa 91; hướng Bắc giáp đường đất (có sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án).
- Nguyên đơn bà Đoàn Thị L có trách nhiệm bồi thường cho bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B giá trị quyền sử dụng đất lối đi chung với số tiền 175.000.000 đồng (một trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02387 ngày 27/12/2007 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00707 ngày 19/12/2011 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho bà Đoàn Thị L để cấp lại theo nội dung phần quyết định của bản án này.
- Các đương sự có quyền và nghĩa vụ tự kê khai đăng ký quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề đối với phần diện tích đất lối đi chung nêu trên theo quy định tại Điều 95 của Luật Đất đai năm 2013, Điều 73 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.
2.2. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Đoàn Thị L phải chịu số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp tại Tòa án.
2.3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Đoàn Thị L phải chịu số tiền 8.750.000 đồng (tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), được trừ vào số tiền 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2021/0008661 ngày 25 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo. Nguyên đơn bà Đoàn Thị L phải nộp thêm số tiền 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Văn T phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005380 ngày 07/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
4. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS huyện Phú Giáo; - TAND t huyện Phú Giáo; - Các đương sự; - Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thanh Tuyền |
Bản án số 465/2023/DS-PT ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề
- Số bản án: 465/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm
