|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 465/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 9 - 2024 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Mai Khanh
Bà Nguyễn Thị Quế Anh.
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án, Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 142/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 385/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị D, sinh ngày 10/7/1992. Nơi ĐKHKTT: khối C, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú hiện nay: Block E C, unit # 06-62, S, vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: anh Nguyễn Hữu H, sinh ngày 01/9/1993. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú hiện nay: Nước ngoài, vắng mặt lần thứ hai.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Trần Duy P và bà Trịnh Thị H1. Địa chỉ: K, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An, vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
- Người được nguyên đơn ủy quyền giao, nhận tài liệu, chứng cứ: anh Trần Văn T. Địa chỉ: Văn phòng L, Đoàn luật sư tỉnh N.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày, nguyên đơn - chị Trần Thị D trình bày như sau:
Chị Trần Thị D và anh Nguyễn Hữu H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An ngày 22 tháng 02 năm 2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc năm đầu. Sau đó thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn, bất hòa. Năm 2019, chị D đi xuất khẩu lao động tại Singapore. Năm 2020, anh H sang Đài Loan làm việc. Do khoảng cách xa, vợ chồng không thường xuyên gặp nhau. Kể từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và không thể dung hòa được. Vợ chồng không còn tình cảm nữa nên đã ly thân từ đó đến nay. Hiện nay chị D làm việc tại Singapore, còn anh H làm việc tại Đài Loan, chị D không biết anh H làm gì và ở đâu. Vì vậy, chị D đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh Nguyễn Hữu H.
Về con chung: chị D, anh H có 01 người con chung là Nguyễn Trần Khánh H2, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2017. Hiện nay cháu H2 đang ở cùng bố mẹ đẻ chị D là ông Trần Duy P và bà Trịnh Thị H1 (ông bà ngoại cháu), tại khối C, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Nếu ly hôn, chị D có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, hiện nay chị D đang ở Singapore nên chị nhờ ông P, bà H1 chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H2 cho tới khi chị D về Việt Nam. Chị D không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: Quá trình từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện niêm yết thông báo thụ lý, Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định, nhưng bị đơn là anh Nguyễn Hữu H vắng mặt, do đó không có ý kiến. Chị Trần Thị D không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh H cư trú, chị chỉ biết hiện nay anh H đang sinh sống tại Đài Loan. Theo Công văn số 11190/QLXNC-P3 ngày 30/5/2024 của Cục Q - Bộ C thì anh Nguyễn Hữu H xuất cảnh qua cửa khẩu N1 ngày 11/12/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Tòa án đã tiến hành gửi văn bản yêu cầu bà Trần Thị D1 (bà nội anh H), trú tại xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu bà D1 thông báo với anh H để gửi lời khai về cho Tòa án. Tòa án đã trực tiếp gặp bà D1 tại nhà riêng xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An để tiến hành xác minh thông tin của anh H. Bà D1 cho biết: bố anh H là ông Nguyễn Hữu H3 (đã chết), mẹ là Trần Thị N đang đi làm ăn xa. Anh H, chị D lấy nhau và chung sống cùng bà tại xóm P. Sau một thời gian chunhg sống thì chị D, anh H đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, chị D đi Singapore trước khoảng 8 tháng, anh H đi Đài Loan, đến nay được khoảng 05 năm. Kể từ đó đến nay anh H chưa về Việt Nam lần nào, nhưng cũng thường xuyên điện thoại về hỏi thăm sức khỏe và cũng nói với bà vợ chồng không sống được với nhau nữa, nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Còn địa chỉ của anh H tại Đài Loan thì bà D1 không biết.
Xét thấy, anh H đã biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị D và anh H, nhưng đến nay Tòa án vẫn không nhận được văn bản nào thể hiện ý kiến của anh H liên quan đến nội dung giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Duy P và bà Trịnh Thị H1 trình bày:
Chị Trần Thị D, anh Nguyễn Hữu H có 01 người con chung Nguyễn Trần Khánh H2, sinh ngày 29/10/2017. Từ khi chị D, anh H đi nước ngoài đến nay, thì gửi cháu H2 cho vợ chồng chúng tôi chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy ở xa, nhưng chị D vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình để hỏi thăm sức khỏe bố mẹ và nói chuyện với cháu H2.
Về chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng: hàng tháng chị D gửi tiền về để chi phí cho cháu H2 ăn, học. Còn anh H không quan tâm gì đến con, trước đây anh H có gửi về 500.000đ/tháng cho chúng tôi chăm sóc cháu H2, một năm trở lại nay thì không gửi tiền về cho con và cũng không liên lạc về cho con.
Việc ly hôn của chị D, anh H chúng tôi không có ý kiến. Tuy nhiên, về con chung của chị D, anh H là cháu H2 thì chúng tôi chăm sóc cháu từ nhỏ đến nay, chúng tôi đề nghị Tòa án giao cháu H2 cho chị D chăm sóc, chúng tôi đồng ý chăm sóc cháu H2 đến khi chị D về Việt Nam. Về chi phí nuôi dưỡng, công sức chăm sóc cháu từ trước đến nay và sau này, chúng tôi không yêu cầu anh H, chị D phải hoàn trả.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Trần Thị D được ly hôn anh Nguyễn Hữu H; giao con chung là Nguyễn Trần Khánh H2, sinh ngày 29/10/2017 cho chị Trần Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con do chị D chưa yêu cầu; về tài sản chung, nợ chung: chị D chưa yêu cầu, nên không xem xét.
- Về án phí: chị Trần Thị D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng
- Về thủ tục hòa giải: vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì hiện anh H đang ở Đài Loan, chị D đang ở Singapore và có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, là phù hợp khoản 2 và khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của đương sự:
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 17/2017 ngày 22/02/2017 của Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thì quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị D và anh Nguyễn Hữu H là hợp pháp. Sau khi kết chị D, anh H sống chung với nhau thời gian ngắn thì xẩy ra mâu thuẫn. Năm 2019, chị D đi xuất khẩu lao động tại Singapore, năm 2020 anh H đi lao động tại Đài Loan thì chị D, anh H xẩy ra mâu thuẫn do vợ chồng sống xa nhau, nhưng lại không quan tâm đến nhau.
- Về con chung: chị Trần Thị D và anh Nguyễn Hữu H có 01 con chung là Nguyễn Trần Khánh H2, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2017.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị Trần Thị D không yêu cầu và anh Nguyễn Hữu H cũng chưa có ý kiến, nên miễn xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí sơ thẩm: chị Trần Thị D phải chịu án phí theo quy định.
Về thẩm quyền: chị Trần Thị D, đang cư trú tại: Block E C, unit # 06-62, S, đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Hữu H có địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh là xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.
Đối với nguyên đơn: chị Trần Thị D hiện đang cư trú tại Singapore, chưa có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Chị Trần Thị D đã ủy quyền cho anh Trần Văn T nộp đơn khởi kiện, bản tự khai, tài liệu (có xác nhận của Đ tại Singapore) cho Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An và chị đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn: anh Nguyễn Hữu H, đã biết Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết việc ly hôn giữa chị D và anh H, nhưng anh H không cung cấp địa chỉ và không có ý kiến về vụ án, thể hiện anh H cố tình dấu địa chỉ. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Anh H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2.
Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Trần Duy P và bà Trịnh Thị H1, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ. Ông P, bà H1, đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vắng mặt những người này là đúng quy định.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Xét thấy: tình trạng tình cảm vợ chồng giữa chị Trần Thị D và anh Nguyễn Hữu H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị D được ly hôn anh H là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Xét thấy: việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là trách nhiệm của chị D, anh H. Hiện tại anh H đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ, không có điều kiện trực tiếp nuôi con chung và cũng không có ý kiến đề nghị đối với Tòa án; chị D cũng đang làm việc tại Singapore, có địa chỉ cụ thể, có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc con chung nên cần chấp nhận. Hiện nay chị D đang ở nước ngoài, chị đã nhờ ông P, bà H1 thay chị chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H2 cho đến khi chị về Việt Nam. Ông P, bà H1 cũng tự nguyện đồng ý chăm sóc cháu H2 thay chị D, cần ghi nhận sự tự nguyện của ông P, bà H1. Anh H có thể khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung khi có điều kiện.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị Trần Thị D chưa yêu cầu, anh Nguyễn Hữu H cũng chưa có ý kiến nên không xem xét.
Về chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Khánh H2: ông Trần Duy P, bà Trịnh Thị H1 không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều: 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 104, 122, 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; 37, 38, 39 Điều 147; khoản 2, 4 Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật tố dụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T1 về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Trần Thị D.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị D được ly hôn anh Nguyễn Hữu H.
- Về con chung:
- Giao con chung là Nguyễn Trần Khánh H2, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2017 cho chị Trần Thị D chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Ông Trần Duy P, bà Trịnh Thị H1 có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị D, anh H là cháu Nguyễn Trần Khánh H2 trong thời gian chị D ở nước ngoài cho đến khi chị D về Việt Nam.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Người không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: chị Trần Thị D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0012756 ngày 09/4/2024.
- Về quyền kháng cáo:
- Chị Trần Thị D, anh Nguyễn Hữu H đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ.
- Ông Trần Duy P, bà Trịnh Thị H1 vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được niên yết hợp lệ./.
- Chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H2: ông Trần Duy P, bà Trịnh Thị H1 không yêu cầu.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hồ Ngọc Tiếp |
Bản án số 465/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 465/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
