Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 465/2024/DS-ST

Ngày: 19/7/2024

V/v: “Tranh chấp về thừa kế”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Hoàng Thị Thanh Mai

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Đình Thức
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh Trang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Diệu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 130/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 3 năm 2023 về: “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 556/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 655/2024/QÐST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Quách Văn T, sinh năm 1966; Địa chỉ: G T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Thế B - Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.

- Bị đơn: Ông Quách Văn T1, sinh năm 1962; Địa chỉ: 4 Đ, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn D, sinh năm 1967; Địa chỉ: F Ông Í, phường A, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền số 00001627 quyển số 04/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/4/2023 tại Văn phòng C)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Trương Văn T2 - Luật sư Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Quách Hoàng Đ, sinh năm 1990; Địa chỉ: 1 T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • + Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1961;
  • + Bà Quách Ngọc Thanh T3, sinh năm 1991
  • + Ông Quách Đại P, sinh năm 1997
  • + Ông Quách Trần Thanh T4, sinh năm 1998

Bà B1, bà T3, ông P, ông T4 cùng trú tại địa chỉ: 4 Đ, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  • + Bà Trần Thị H, sinh năm 1980; Địa chỉ thường trú: ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  • + Ông Trần Văn Q, sinh năm 1951; Địa chỉ: C D, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • + Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1970; Địa chỉ: 1 T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Tại phiên tòa: ông T, ông D, ông T4, ông Đ có mặt; Ông Q, bà L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; Bà B1, ông P, bà T3, bà H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện:

Ông Quách Văn R và bà Bùi Thị M chung sống có 05 (năm) người con chung là:

  • - Ông Quách Văn L1, sinh năm 1960 (chết ngày 14/02/2003 theo trích lục khai tử số 72/TLKT-BS ngày 04/3/2021, đã được đăng ký khai tử tại Ủy ban nhân dân phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh số: 12/2021 ngày 04/3/2021). Ông L1 sống độc thân, không có con.
  • - Ông Quách Văn T1, sinh năm 1962
  • - Ông Quách Văn T, sinh năm 1966
  • - Ông Quách Minh H1, sinh năm 1968 (chết ngày 24/8/2008 theo Trích lục khai tử số 447/TLKT-BS ngày 14/12/2017, đã được đăng ký khai tử tại Ủy ban nhân dân phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh số: 37/2008 ngày 25/8/2008). Ông H1 có vợ là bà Nguyễn Thị Kim L và con là Quách Hoàng Đ
  • - Ông Quách Văn T5, sinh năm 1974 (chết ngày 28/02/2015 theo Trích lục khai tử số 445/TLKT-BS ngày 14/12/2017, đã được đăng ký khai tử tại Ủy ban nhân dân phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh số: 12/2015 ngày 02/3/2015). Ông T5 có vợ là bà Trần Thị H và con là ông Quách Trần Thanh T4.

Cha mẹ của ông Quách Văn R là ông Quách Văn K, sinh năm 1910 và bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1915. Ông K, bà D1 chết trước năm 1975. Các đương sự cùng thống nhất trình bày do chiến tranh nên gia đình không làm Giấy khai tử cho ông K, bà D1.

Cha mẹ của bà Bùi Thị M là ông Bùi Văn T6, sinh năm 1910 và bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1912. Ông T6 chết năm 1985, bà M1 chết năm 1982. Các đương sự cùng thống nhất trình bày do hoàn cảnh khó khăn, không hiểu biết pháp luật nên gia đình không làm giấy chứng tử cho ông T6, bà M1.

Trong quá trình chung sống, ông RM tạo lập tài sản chung là nhà đất tọa lạc tại số D (số cũ 1/75/1) Đ, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là nhà số D Đ) theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 5554/2004 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/10/2004.

Ông RM chết không để lại di chúc. Ngày 02/10/2017, ông Quách Văn T nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản thừa kế do ông RM để lại.

Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã thụ lý số vụ án 343/2017/TLST-DS ngày 16/10/2017. Trong quá trình giải quyết, các đương sự có ý kiến, yêu cầu sau:

Phía nguyên đơn ông Quách Văn T trình bày: Yêu cầu Tòa án xác định di sản thừa kế do ông RM để lại là nhà đất số D Đ Ông đồng ý chia di sản thừa kế thành 04 phần bằng nhau, được chia cho ông, ông T1, phần của ông Quách Minh H1 do Quách Hoàng Đ đại diện nhận và phần của ông Quách Văn T5 do ông Quách Trần Thanh T4 đại diện nhận.

Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá do Tòa án nhân dân quận Tân Phú thành lập thì giá trị nhà đất số D Đ có giá trị là 5.587.740.000 đồng. Ông T đồng ý nhận 1/4 giá trị, thành tiền là 1.396.935.000 đồng. Ông T1 phải thanh toán cho ông giá trị suất thừa kế trong thời hạn 01 tháng. Trường hợp ông T1 không đồng ý thì yêu cầu bán nhà chia, trường hợp không thỏa thuận bán nhà được thì yêu cầu Tòa án tuyên phát mãi để chia cho các đồng thừa kế.

Phía bị đơn ông T1 trình bày: Ông đồng ý chia di sản thừa kế do ông RM để lại là nhà đất số D Đ Đỗ Nhuận thành 04 phần bằng nhau như ông T yêu cầu. Tuy nhiên, hiện nay ông không có khả năng thanh toán tiền lại cho các bên nên ông đề nghị ghi giấy nợ cho các đồng thừa kế, mỗi người 1.396.935.000 đồng, theo đó các đồng thừa kế sẽ làm thủ tục từ chối nhận di sản thừa kế để ông được đứng tên sở hữu nhà, sau đó ông sẽ thế chấp vay Ngân hàng lấy tiền để thanh toán cho các đồng thừa kế là ông T, ông Đ và ông T4 nhưng ông T không đồng ý.

Phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Quách Hoàng Đ trình bày: Ông là con duy nhất của ông Quách Minh H1 và bà Nguyễn Thị Kim L. Khi cha ông chết thì cha mẹ ông chưa ly hôn. Nay các bác (ông T, ông T1) yêu cầu chia di sản thừa kế của ông bà nội (ông R, bà M) để lại là căn nhà số D Đ Đỗ Nhuận thành 04 phần thừa kế bằng nhau, chia cho 04 thừa kế là ông T, ông T1, ông T4 và ông thì ông xin nhận phần thừa kế của cha ông (Quách Minh H1), đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, ngoài ra ông không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Quách Trần Thanh T4 trình bày: Ông là con duy nhất của ông Quách Văn T5 và bà Trần Thị H. Khi cha ông chết thì cha mẹ ông chưa ly hôn. Nay các bác (ông T, ông T1) yêu cầu chia di sản thừa kế của ông bà nội (ông R, bà M) để lại là căn nhà số D Đ Đỗ Nhuận thành 04 phần thừa kế bằng nhau, chia cho 04 thừa kế là ông T, ông T1, ông Đ và ông thì ông đại diện nhận phần thừa kế của cha ông (Quách Văn T5). Do mẹ ông (bà H) đã bỏ đi, ông không liên lạc được nên ông sẽ nhận và quản lý cho bà H, khi nào bà H trở về thì ông

cam kết sẽ giao lại cho bà H. Ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, ngoài ra ông không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B1 trình bày: Bà là vợ ông T1. Đây là tranh chấp thừa kế giữa chồng bà (ông T1) và các em chồng nên bà không có ý kiến gì, vấn đề tiền bỏ ra để xây dựng, sửa chữa căn nhà thì bà cũng không có ý kiến gì và trao toàn quyền cho ông T1 quyết định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Quách Ngọc Thanh T3 và ông Quách Đại P cùng trình bày: Bà T3 và ông P là con của ông T1 và bà B1. Bà T3, ông P cùng khai đây là tranh chấp thừa kế giữa cha (ông T1) và chú (ông T) nên bà T3, ông P không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Q trình bày: Ông là con riêng của bà Bùi Thị M. Tuy nhiên ông không có Giấy khai sinh để chứng minh ông là con của bà M. Do đó, ông từ chối nhận phần thừa kế đối với di sản của bà M để lại đối với nhà đất số D Đ Việc chia thừa kế này các anh em tự quyết định, ông không có ý kiến hay bất kỳ yêu cầu gì, vụ án không liên quan đến ông, ông cam kết không thắc mắc hay tranh chấp gì đối với di sản thừa kế do bà M để lại.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim L trình bày: Bà là vợ của ông Quách Minh H1. Cha mẹ chồng bà là ông Quách Văn R và bà Bùi Thị M. Bà và ông H1 có một con chung là Quách Hoàng Đ. Bà và ông H1 không có ly hôn. Ông RM có để lại di sản thừa kế là nhà đất số D Đ Nay trong gia đình có tranh chấp thừa kế thì bà có ý kiến: Trong trường hợp bà được nhận thừa kế (suất thừa kế của ông H1) thì bà đồng ý giao lại cho con trai là Quách Hoàng Đ nhận, bà không tranh chấp gì. Trong trường hợp bà không được nhận thì bà cũng không ý kiến, yêu cầu gì.

Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã đưa vụ án ra xét xử theo Bản án sơ thẩm số 193/2022/DS-ST ngày 21/7/2022. Phía bị đơn ông T1 đã kháng cáo bản án trên.

Tại Bản án phúc thẩm số 05/2023/DS-PT ngày 03/01/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã hủy Bản án sơ thẩm số 193/2022/DS-ST ngày 21/7/2022 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân quận Tân Phú để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Ngày 27/3/2023, Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã thụ lý vụ án số 130/2023/TLST-DS để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Trong quá trình giải quyết, ngày 28/8/2023, các bên gồm ông T, ông T1, ông Đ, ông T4 đã có Văn bản thỏa thuận giải quyết tranh chấp, cụ thể: Các bên cùng thống nhất nhà đất số D Đ được chia thành 04 kỷ phần cho 04 đồng thừa kế là ông Quách Văn T, Quách Văn T1, Quách Hoàng ĐQuách Trần Thanh T4. Ông Quách Trần Thanh T4 có nghĩa vụ chia kỷ phần của mình được hưởng cho mẹ ông là bà Trần Thị H (Điều 1); Về phân chia kỷ phần: Sau khi trừ đi các chi phí sửa chữa, tôn tạo di sản thì các đồng thừa kế thống nhất nhà đất 46/1 Đỗ N giao cho ông T1 quản lý, sử dụng, định đoạt. Ông T1 có nghĩa vụ thanh toán cho 03 đồng thừa kế còn lại mỗi suất thừa kế là 1.200.000.000 đồng (Điều 2). Về phương thức thanh toán: ông T1 sẽ thanh toán trước cho mỗi đồng thừa kế là 100.000.000 đồng. Sau khi có bản án của Tòa án

nhân dân quận Tân Phú thì các bên đồng ý tạo điều kiện để ông T1 đứng tên sở hữu nhà đất 46/1 Đỗ Nhuận. Ông T1 ủy quyền để ông T trực tiếp liên hệ cơ quan có thẩm quyền để ông T1 đứng tên sở hữu. Ngay sau khi có bản án thì ông T1 thế chấp nhà đất trên để vay tiền Ngân hàng hoặc bán căn nhà trên để thanh toán số tiền còn lại cho ông T, ông Đ và ông T4 trong thời hạn 2.5 tháng (Điều 3 và Điều 4). Thực hiện thỏa thuận, ông T1 đã thanh toán cho ông T, ông Đ, ông T4 mỗi người 100.000.000 đồng. Nay ông T, ông Đ, ông T4, bà H (do ông T4 đại diện) chỉ yêu cầu ông T1 thanh toán tiếp giá trị suất thừa kế còn lại là 1.100.000.000 đồng.

Phía người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà B1, bà T3, ông P, bà H: Vắng mặt trong quá trình giải quyết.

Phía người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà L, ông Q: vẫn giữ nguyên ý kiến như những lần làm việc trước đây và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nhận, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự giải quyết tranh chấp nhưng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà B1, bà T3, ông P và bà H vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Tại phiên tòa:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Các bên đã có sự thống nhất thỏa thuận tại Văn bản thỏa thuận ngày 28/8/2023 nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét công nhận sự thỏa thuận của các bên tại Văn bản thỏa thuận ngày 28/8/2023, cụ thể: Ông T1 thanh toán giá trị suất thừa kế là 1.100.000.000 đồng cho các hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của ông RM. Tuy nhiên để đảm bảo quyền và lơi ích của các bên thì phương pháp thực hiện có thay đổi so với Văn bản thỏa thuận ngày 28/8/2023, cụ thể: Ông T1 có nghĩa vụ thanh toán giá trị suất thừa kế cho các đồng thừa kế trong thời hạn là 06 tháng. Sau khi thanh toán xong thì ông T1 được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đứng tên sở hữu. Nếu quá 06 tháng mà ông T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì đề nghị phát mãi di sản thừa kế, sau khi trừ đi các chi phí phát mãi sẽ chia thành 04 phần bằng nhau cho ông T, ông T1, ông Đ, ông T4, bà H (ông Tú bà H mỗi người 1/2 suất thừa kế, phần của bà H sẽ do ông T4 quản lý).

- Nguyên đơn ông Quách Văn T: Thống nhất với lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, không bổ sung gì thêm. Ông T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết số tiền tiết kiệm 350.691.632 đồng của ông R để lại mà ông T1 đã sử dụng.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận sự thỏa thuận của các bên tại Văn bản thỏa thuận ngày 28/8/2023. Về phương pháp thực hiện thì ông T1 sẽ thanh toán cho các đồng thừa kế mỗi người 1.100.000.000 đồng trong thời hạn 06 tháng. Nếu quá 06 tháng mà ông T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì đồng ý phát mãi căn nhà 4 Đ như ông T yêu cầu.

Bị đơn ông Quách Văn T1 do ông Lê Văn D đại diện: Thống nhất với lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Tại phiên tòa, ông D xác định ông T1 không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết công sức của ông T1 trong

việc giữ gìn nhà, chăm sóc và chi phí ma chay cho người để lại di sản và số tiền bỏ ra sửa chữa nhà....vì những yêu cầu này đã được các bên xem xét giải quyết tại Văn bản thỏa thuận ngày 28/8/2023.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đ: Thống nhất với ý kiến của ông T

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông T4: Thống nhất với ý kiến của ông T, ông T1. Ông T4 đồng ý nhận và có nghĩa vụ quản lý phần thừa kế của bà H được nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B1, bà Quách Ngọc Thanh T3, ông Quách Đại P, bà Trần Thị H: Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị Kim L: Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án theo quy định tại các Điều 21, 26, 35, 39, 48, 51, 63, 68, 70, 71, 72, 171, 173, 177, 179, 220, 228, 234, 239, 248, 260 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của các đương sự, có cơ sở xác định ông R và bà M chết không để lại di chúc, ông R và bà M để lại di sản thừa kế là nhà và đất tọa lạc tại 4 Đ, phường S.

Xác định những người hưởng thừa kế của ông R, bà M gồm ông Quách Văn T, Quách Văn T1, Quách Hoàng Đ, bà Nguyễn Thị Kim L, Quách Trần Thanh T4, bà Trần Thị H.

Căn cứ Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 652, khoản 2 Điều 660 Bộ luật dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của các bên, cụ thể: Ông T1 có nghĩa vụ thanh toán giá trị còn lại của suất thừa kế là 1.100.000.000 đồng cho các hàng thừa kế của ông R, bà M, cụ thể: Ông T1 thanh toán cho ông T, ông Đ mỗi người 1.100.000.000 đồng, thanh toán cho ông T4 và bà H là 1.100.000.000 đồng (trong đó: ông T4 là 164.606.803 đồng, bà H là 935.393.179 đồng). Phần của bà H sẽ giao cho ông T4 quản lý. Ông T1 thanh toán trong thời hạn 06 tháng. Sau khi thanh toán xong cho những người được hưởng thừa kế thì ông T1 được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đứng tên sở hữu căn nhà trên. Nếu đến hạn thanh toán mà ông T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi nhà đất trên, chia làm 04 phần bằng nhau cho ông T, ông T1, ông Đ mỗi người 01 phần thừa kế, ông T4, bà H mỗi người nhận 1/2 phần thừa kế.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét Đơn khởi kiện đề ngày 02/10/2017 của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản. Bị đơn cư trú tại quận T do đó Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết vụ án dân sự là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt ông Trần Văn Q, bà Nguyễn Thị Kim L: ông Q, bà L cùng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về thủ tục xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị B1, bà Quách Ngọc Thanh T3, ông Quách Đại P, bà Trần Thị H: Toà án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng cho bà B1, bà T3, ông P, bà H theo quy định tại Điều 177, Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bà B1, bà T3, ông P, bà H vẫn vắng mặt. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà B1, bà T3, ông P, bà H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Về thời hiệu khởi kiện: Ông Quách Văn R (chết năm 2012 theo Trích lục khai tử số 273/TLKT-BS ngày 03/8/2017) và bà Bùi Thị M (chết năm 2002 theo Trích lục khai tử số 1181/TLKT-BS ngày 14/8/2017). Ngày 02/10/2017, ông T có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của ông R và bà M là đúng theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5] Về di sản thừa kế: Xét, Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 5554/2004 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/10/2004 và Quyết định về điều chỉnh số nhà số 14812/QĐ-UBND ngày 16/01/2006 của Ủy ban nhân dân quận T thì ông Quách Văn R và bà Bùi Thị M (chết năm 2002) là chủ sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tọa lạc tại số D Đ (số cũ 1/75/1 S), phường S, quận T. Do đó, căn cứ Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì di sản của ông R và bà M chết để lại là nhà đất tọa lạc tại số D Đ, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

[6] Về người được hưởng thừa kế:

[6.1] Căn cứ Giấy khai sinh của ông Quách Văn T, Quách Văn T5, Công văn số 557/BC-CAKV ngày 11/11/2020 của Công an phường S và lời trình bày của các đương sự thống nhất: Ông Quách Văn R và bà Bùi Thị M có 05 người con là Quách Văn L1 (chết năm 2003 độc thân), Quách Văn T1, Quách Văn T, Quách Minh H1 (chết năm 2008) và Quách Văn T5 (chết năm 2015).

[6.2] Xét, các bên cùng thống nhất xác nhận: Cha mẹ ông R là ông Quách Văn K và bà Nguyễn Thị D1. Ông K, bà D1 chết trước năm 1975. Như vậy, cha mẹ ông R chết trước ông R.

[6.3] Xét, các bên cùng thống nhất xác nhận: Cha mẹ bà B1 là ông Bùi Văn T6 (chết năm 1985) và bà Nguyễn Thị M1 (chết năm 1982). Như vậy, cha mẹ bà M đều chết trước bà M.

[6.4] Theo Bản sao Trích lục kết hôn số 610/2021/TLKH-BS ngày 14/5/2021 của Ủy ban nhân dân phường T, quận T thì bà Nguyễn Thị Kim L và ông Quách Minh H1 đăng ký kết hôn ngày 16/11/1988 tại Ủy ban nhân dân phường A, quận T. Theo bản sao Giấy khai sinh số 73/1990 quyển số 3/16 ngày 09/5/1990 của Ủy ban nhân dân phường A quận T thì ông Quách Hoàng Đ, sinh ngày 25/3/1990 có mẹ là bà Nguyễn Thị Kim L và cha là ông Quách Minh H1. Tại phiên tòa, các bên cùng thống nhất khi ông H1 chết thì ông H1 và bà L vẫn còn quan hệ hôn nhân.

[6.5] Theo bản sao Giấy chứng nhận kết hôn số 40/1998, quyển số 11/P16 ngày 06/5/1998 của Ủy ban nhân dân phường 16 quận A thể hiện bà Trần Thị H và ông Quách Văn T5 đăng ký kết hôn ngày 06/5/1998. Theo bản sao Giấy khai sinh ngày 31/8/1998 của Ủy ban nhân dân phường A quận T thể hiện ông Quách Trần Thanh T4, sinh ngày 28/6/1998 là con của bà H và ông T5. Tại phiên tòa, các bên cùng thống nhất khi ông T5 chết thì ông T5 và bà H vẫn còn quan hệ hôn nhân.

[6.6] Trong quá trình giải quyết, các bên cùng thống nhất bà M có con riêng là ông Trần Văn Q. Do không hiểu biết pháp luật nên ông Q không có giấy khai sinh. Tại bản tự khai ngày 12/6/2023 thì ông Q từ chối nhận phần thừa kế của bà M để lại.

[7] Về phân chia di sản thừa kế:

[7.1] Các bên cùng thống nhất xác nhận: Ông R, bà M, ông L1, ông H1 và ông T5 chết không để lại di chúc.

[7.2] Xét, Biên bản định giá ngày 23/5/2024 của Hội đồng định giá do Tòa án nhân dân quận Tân Phú thành lập thì giá trị nhà đất số D Đ là 7.280.898.400 đồng (giá trị đất là 6.401.358.400 đồng và giá trị xây dựng là 879.540.000 đồng).

[7.3] Phân chia di sản thừa kế do bà M để lại:

Xét, bà M chết ngày 13/02/2002, căn cứ khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời điểm mở thừa kế của bà M là ngày 13/02/2002. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của bà M là chồng và các con của bà M, gồm có: Ông Quách Văn R, ông Quách Văn L1, ông Quách Văn T1, ông Quách Văn T, ông Quách Minh H1 và ông Quách Văn T5, được hưởng 1/2 giá trị nhà đất số D Đ, tương ứng với số tiền 3.640.449.200 đồng. Di sản thừa kế của bà M được chia thành 06 phần cho ông R, ông L1, ông T1, ông T, ông H1 và ông T5, tương ứng với số tiền 606.741.533 đồng.

Xét, ông Quách Văn L1 chết ngày 14/02/2003 (không vợ con). Căn cứ khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời điểm mở thừa kế của ông L1 là ngày 14/02/2003. Hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của ông L1 là ông R. Do đó, ông R là người được hưởng di sản của ông L1 để lại, tương ứng với số tiền 606.741.533 đồng.

Xét, ông Quách Văn H2 chết ngày 24/8/2008 nên thời điểm mở thừa kế của ông H2 là ngày 24/8/2008. Ông H2 có đăng ký kết hôn với bà L và có một con chung là ông Đ. Như vậy, những người thừa kế của ông H2 là ông R, bà L và ông Đ. Mỗi người được nhận 1/3 di sản thừa kế của ông H2 tương ứng với giá trị là 202.247.177 đồng. Do bà L có văn bản trình bày ý kiến nếu bà L được hưởng thừa kế từ ông H2

thì bà L đồng ý giao lại cho ông Đ. Vì vậy, ông Đ được nhận thêm phần thừa kế của ông H2 từ L là 202.247.177 đồng. Tổng số tiền ông Đ nhận thừa kế do ông H2 để lại là 404.494.354 đồng.

[7.4] Phân chia di sản thừa kế do ông R để lại:

Xét, ông Quách Văn R chết ngày 18/6/2012. Căn cứ khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời điểm mở thừa kế của ông R là ngày 18/6/2012. Di sản của ông R bao gồm ½ giá trị căn nhà 4 Đ, phần di sản nhận từ bà M, phần di sản nhận từ ông L1 và phần di sản nhận từ ông H2 nên tổng giá trị di sản của ông R là 5.056.179.443 đồng. Hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của ông R là ông Quách Văn T1, ông Quách Văn T, ông Quách Văn T5. Đồng thời, do ông Quách Văn H2 (là con của ông R) chết trước ông Quách Văn R, nên ông Quách Hoàng Đ là cháu của ông R (con của ông H2) là thừa kế thế vị được hưởng phần di sản của ông R theo quy định tại Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, những người thừa kế của ông R bao gồm ông T1, ông T, ông T5, ông Đ. Mỗi người thừa kế được hưởng ¼ di sản của ông R tương ứng giá trị suất thừa kế là 1.264.044.861 đồng.

Xét, ông Quách Văn T5 chung sống có đăng ký kết hôn với bà Trần Thị H và có một người con là ông Quách Trần Thanh T4. Ông T5 chết ngày 28/02/2015, thời điểm mở thừa kế của ông T5 là ngày 28/02/2015. Hàng thừa kế thứ nhất của ông T5 là bà Trần Thị H và ông T4. Di sản thừa kế của ông T5 để lại là phần ông T5 được hưởng thừa kế di sản từ bà M, phần thừa kế của ông R nên giá trị di sản của ông T5 là 1.870.786.394 đồng. Những người thừa kế của ông là bà H và ông T4. Mỗi người được nhận ½ di sản của ông T5, tương ứng 935.393.197 đồng.

Như vậy, với tài sản thừa kế có giá trị 7.289.898.400 đồng thì những người thừa kế được hưởng như sau:

  • - Ông T, ông T1 đều nhận được từ bà M, ông R nên tổng giá trị thừa kế mỗi người được hưởng là 1.870.786.394 đồng.
  • - Bà H, ông T4 nhận được từ ông T5 nên mỗi người được hưởng là 935.393.197 đồng.
  • - Ông Đ được nhận từ ông H2, ông R, bà L nên ông được hưởng 1.668.539.215 đồng.

[7.5] Xét, trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, các ông Quách Văn T, Quách Văn T1, Quách Hoàng Đ, Quách Trần Thanh T4 cùng thống nhất chia di sản thừa kế do ông Quách Văn R và bà Bùi Thị M chết để lại nhà và đất tọa lạc tại số D Đ, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, được chia thành 04 phần thừa kế bằng nhau. Đối với phần thừa kế của ông Quách Minh H1 do ông Quách Hoàng Đ nhận (bà Nguyễn Thị Kim L đồng ý giao cho ông Đ quản lý, sử dụng). Đối với phần thừa kế của ông Quách Thanh T7 do ông Quách Trần Thanh T4 và bà Trần Thị H nhận. Đối với phần của bà H sẽ tạm giao cho con đẻ là ông T4 quản lý. Quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị H sẽ được Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu. Hội đồng xét xử xét thấy thỏa thuận của các bên là tự nguyện và không trái pháp luật nên ghi nhận.

Xét, Văn bản thỏa thuận ngày 28/8/2023, các bên thống nhất thỏa thuận: Ông T1 sẽ thanh toán lại kỷ phần thừa kế cho ông T, ông Đ, ông T7 (do ông T4, bà H) mỗi phần là 1.200.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay, phía ông T, ông Đ đồng ý nhận giá trị suất thừa kế của ông RM là 1.200.000.000 đồng. Ông T1 đã thanh toán cho ông T, ông Đ mỗi người 100.000.000 đồng, nay chỉ yêu cầu thanh toán tiếp giá trị một suất thừa kế còn lại là 1.100.000.000 đồng. Xét thỏa thuận của các bên là tự nguyện và không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các bên.

Xét, đối với phần thừa kế của ông Quách Thanh T7 do ông RM để lại thì ông T4, bà H là hàng thừa kế thứ nhất được hưởng, do đó, ông T4, bà H mỗi người được hưởng ½ một suất thừa kế, tương ứng với số tiền là 935.393.197 đồng. Tuy nhiên tại Văn bản thỏa thuận ngày 28/8/2023 thì ông T4 đồng ý nhận giá trị suất thừa kế là 1.200.000.000 đồng, tương ứng ông T4, bà H mỗi người được hưởng 600.000.000 đồng là thấp hơn so với giá trị 01 suất thừa kế được hưởng theo quy định pháp luật, việc này gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H, do đó, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bà H thì cần đảm bảo cho bà H nhận giá trị suất thừa kế tương ứng với số tiền là 935.393.197 đồng. Tại phiên tòa, ông T4 đồng ý nhận giá trị suất thừa kế của ông T7 là 1.200.000.000 đồng. Ông T1 đã thanh toán cho ông T4 số tiền 100.000.000 đồng, còn lại 1.100.000.000 đồng, như vậy, giá trị suất thừa kế còn lại của ông T4 là 164.606.803 đồng, giá trị suất thừa kế của bà H là 935.393.197 đồng. Phần giá trị suất thừa kế của bà H sẽ tạm giao cho con đẻ là ông T4 quản lý. Quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị H sẽ được Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

[8] Về phương thức thanh toán:

Tại phiên tòa, các bên thống nhất ông T1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông T, ông Đ mỗi người 1.100.000.000 đồng, thanh toán cho bà H ông T4 số tiền 1.100.000.000 đồng (bà H là 935.393.197 đồng, ông T4 là 164.606.803 đồng) trong thời hạn là 06 tháng. Sau khi ông T1 thanh toán xong giá trị suất thừa kế cho ông T, ông Đ, ông T4, bà H thì ông T1 có quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với nhà đất số D Đ để ông T1 được trọn quyền sở hữu, sử dụng và ông T1 chịu mọi chi phí phát sinh. Nếu hết thời hạn trên mà ông T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì các bên có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi di sản thừa kế là nhà và đất tọa lạc tại số D (số cũ 1/75/1) Đ, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 5554/2004 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/10/2004) để chia 04 kỷ phần thừa kế bằng nhau cho ông Quách Văn T, ông Quách Văn T1, ông Quách Hoàng Đ, ông Quách Trần Thanh T4, bà Trần Thị H (ông Tú bà H mỗi người được hưởng 1/2 suất thừa kế) sau khi đã trừ đi các chi phí thi hành án. Hội đồng xét xử xét thấy thỏa thuận của các bên là tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.

Đối với số tiền 100.000.000 đồng mà ông T1 đã thanh toán cho ông T, ông Đ, ông T7 thì tại phiên tòa các bên thống nhất tự thỏa thuận giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về các chi phí tố tụng:

- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do các đương sự tự nguyện chịu và đã thanh toán xong nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Chi phí định giá tài sản: Đương sự tự nguyện chịu và đã thanh toán xong nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[10] Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông T chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần thừa kế được hưởng là 1.200.000.000 đồng, tương ứng với số tiền án phí là 48.000.000 đồng nhưng được trừ vào tạm ứng án phí 25.500.000 đồng ông T đã nộp theo Biên lai thu số 0009939 ngày 16/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú. Ông T còn phải nộp thêm án phí dân sự sơ thẩm là 22.500.000 đồng.

- Ông T1 là người cao tuổi và có Đơn yêu cầu miễn giảm án phí nên căn cứ điểm đ Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, ông T1 được miễn án phí.

- Ông Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần thừa kế được hưởng là 1.200.000.000 đồng, tương ứng với số tiền án phí là 48.000.000 đồng nhưng được trừ vào tạm ứng án phí 25.500.000 đồng ông Đ đã nộp theo Biên lai thu số 0010940 ngày 11/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú. Ông Đ còn phải nộp thêm án phí dân sự sơ thẩm là 22.500.000 đồng.

- Ông T4 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần thừa kế được hưởng là 264.606.803 đồng, tương ứng với số tiền án phí là 13.230.340 đồng nhưng được trừ vào tạm ứng án phí 5.000.000 đồng ông T4 đã nộp theo Biên lai thu số 0070867 ngày 14/9/2020 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú. Ông T4 còn phải nộp thêm án phí dân sự sơ thẩm là 8.230.340 đồng.

- Bà H chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần thừa kế được hưởng là 935.393.197 đồng, tương ứng với số tiền án phí là 40.061.796 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 177, Điều 179, Điều 180 Điều 201, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 652, khoản 2 Điều 660 Bộ luật dân sự năm 2015; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Điều 14, Khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Quách Văn T về yêu cầu chia thừa kế tài sản.

Xác định di sản thừa kế của ông Quách Văn R và bà Bùi Thị M tại thời điểm mở thừa kế là nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ số D (số cũ 1/75/1) Đ, phường S,

quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 5554/2004 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/10/2004).

- Xác định những người thừa kế theo pháp luật của ông Quách Văn R và bà Bùi Thị M là: Ông Quách Văn T, ông Quách Văn T1, ông Quách Hoàng Đ, ông Quách Trần Thanh T4 và bà Trần Thị H.

- Xác định phân chia di sản theo pháp luật như sau:

  • + Ông Quách Văn T1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Quách Văn T giá trị của suất thừa kế là 1.100.000.000 đồng.
  • + Ông Quách Văn T1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Quách Hoàng Đ giá trị của suất thừa kế là 1.100.000.000 đồng
  • + Ông Quách Văn T1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Quách Trần Thanh T4 giá của suất thừa kế là 164.606.803 đồng.
  • + Ông Quách Văn T1 có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị H giá trị của suất thừa kế là 935.393.197 đồng. Phần giá trị suất thừa kế của bà H sẽ tạm giao cho con đẻ là ông Quách Trần Thanh T4 quản lý. Quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị H sẽ được Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

Thời gian thanh toán: Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Địa điểm thi hành: Tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Sau khi thanh toán xong kỷ phần thừa kế cho các đồng thừa kế thì ông Quách Văn T1 được quyền liên hệ cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục công nhận quyền sở hữu, sử dụng của ông T1 đối với nhà đất số D (số cũ 1/75/1) Đ, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và chịu mọi chi phí phát sinh.

Nếu đến hạn thanh toán mà ông T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì những người được hưởng thừa kế được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi di sản thừa kế là nhà và đất tọa lạc tại số D Đ (số cũ 1/75/1), phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 5554/2004 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/10/2004 để chia 04 (bốn) kỷ phần thừa kế bằng nhau cho ông Quách Văn T, ông Quách Văn T1, ông Quách Hoàng Đ mỗi người 01 (một) kỷ phần thừa kế, ông Quách Trần Thanh T4 và bà Trần Thị H mỗi người được hưởng 1/2 kỷ phần thừa kế sau khi đã trừ đi các chi phí thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông T chịu án phí dân sự sơ thẩm là 48.000.000 đồng nhưng được trừ vào tạm ứng án phí 25.500.000 đồng ông T đã nộp theo Biên lai thu số 0009939 ngày 16/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú. Ông T còn phải nộp thêm án phí dân sự sơ thẩm là 22.500.000 đồng.

- Ông T1 là người cao tuổi và có Đơn yêu cầu miễn giảm án phí nên căn cứ điểm đ Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án nên ông T1 được miễn án phí.

Ông Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 48.000.000 đồng nhưng được trừ vào tạm ứng án phí 25.500.000 đồng ông Đ đã nộp theo Biên lai thu số 0010940 ngày 11/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú. Ông Đ còn phải nộp thêm án phí dân sự sơ thẩm là 22.500.000 đồng.

- Ông T4 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 13.230.340 đồng nhưng được trừ vào tạm ứng án phí 5.000.000 đồng ông T4 đã nộp theo Biên lai thu số 0070867 ngày 14/9/2020 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú. Ông T4 còn phải nộp thêm án phí dân sự sơ thẩm là 8.230.340 đồng.

- Bà H chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần thừa kế được hưởng là 935.393.197 đồng, tương ứng với số tiền án phí là 40.061.796 đồng.

Địa điểm thi hành: Tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Đương sự tự nguyện chịu và đã thanh toán xong nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Ông Quách Văn T; Ông Quách Văn T1; Ông Quách Hoàng Đ; Ông Quách Trần Thanh T4 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị B1, bà Quách Ngọc Thanh T3, ông Quách Đại P, ông Trần Văn Q, bà Nguyễn Thị Kim L, bà Trần Thị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - Lưu VP, hồ sơ (Vinh)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hoàng Thị Thanh Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 465/2024/DS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về thừa kế

  • Số bản án: 465/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp về thừa kế
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger