TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 465/2025/HS-PT Ngày: 24 - 6 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Vũ Đức Toàn |
| Các Thẩm phán: | Bà Phạm Thị Duyên |
| Ông Nguyễn Văn Hùng |
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 và 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 569/2023/TLPT- HS ngày 02 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng M do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 299/2023/HSST ngày 27/6/2023 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hoàng M; Sinh ngày 12 tháng 12 năm 1970 tại Hải Phòng; Thường trú: số I T, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Số C P, ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hoàng N và bà Nguyễn Bích P; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Lê N1 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đào Quang D, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Có đơn xin xét xử vắng mặt kèm bài bào chữa.
Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Hành vi của Nguyễn Hoàng M dùng Công ty TNHH MTV L2 xuất khẩu 27.510kg và 27.580kg phế liệu đồng.
Công ty TNHH MTV L2 (viết tắt là Công ty L2) được Sở K1 cấp giấy chứng nhận kinh doanh ngày 21/11/2018, ngành nghề kinh doanh: Khai thác, nuôi trồng thủy sản, buôn bán phế liệu các loại, người đại diện theo pháp luật là Phạm Thanh T (ngày 29/10/2019 đã thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty, từ Phạm Thanh T sang N).
Ngày 05/04/2019, Công ty L2 mở tờ khai hải quan điện tử xuất khẩu số [...]/B11/CTHANHBP, tại Chi cục hải quan C1, thuộc Cục Hải quan tỉnh B, hàng hóa khai báo bao gồm 9.109kg phôi nhôm phế liệu, 6029 kg phế liệu đồng và 512 cái két nước tản nhiệt cho ô tô đã qua sử dụng, trị giá 311.575.165 đồng, số tiền thuế phải đóng tương ứng là 55.509.116 đồng, hàng hóa đóng trong Container số TEMU8974802, xuất khẩu qua C, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy vậy, ngày 16/04/2019, Chi cục Hải quan cảng S1 Khu vực 1 phối hợp với Đội kiểm soát hải quan, nghi ngờ doanh nghiệp khai báo không đúng thực tế hàng hóa xuất khẩu nên đã tiến hành kiểm tra hàng hóa đóng trong Container nêu trên. Kết quả phát hiện toàn bộ hàng hóa chứa trong Container là 27.510 kg phế liệu đồng (trong đó có khối lượng 6.029 kg phế liệu đồng mà doanh nghiệp đã khai báo). Theo kết quả định giá trong tố tụng hình sự thì đơn giá 79.300đ/kg, nên trị giá hàng hóa vi phạm là: 1.703.443.300 đồng [(27.510 kg - 6.029 kg) x 79.300đ/kg = 1.703.443.300 đồng].
Tương tự, ngày 09/04/2019, Công ty L2 mở tờ khai hải quan điện tử xuất khẩu số [...]/B11/CTHANHBP, tại Chi cục hải quan C1, thuộc Cục Hải quan tỉnh B, hàng hóa khai báo là 25.104kg phôi nhôm phế liệu, trị giá 290.578.800 đồng, hàng hóa đóng trong Container số TEMU7847311 xuất khẩu qua cảng C, TP .. Tuy vậy, qua kết quả kiểm tra phát hiện hàng hóa chứa trong Container là 27.580kg phế liệu đồng. Theo kết quả định giá trong tố tụng hình sự thì đơn giá 79.300đ/kg, nên trị giá hàng hóa vi phạm là: 2.187.094.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định: Cuối tháng 11/2018, khi biết Phạm Thanh T dự định thành lập Công ty L2, chuyên về nuôi tôm sinh học, thì Nguyễn Hoàng M (M là anh rễ T) đề nghị T đăng ký thêm ngành nghề kinh doanh bán buôn phế liệu để M phụ trách và được T đồng ý. T chỉ làm về mảng nuôi tôm, việc buôn bán phế liệu là lĩnh vực hoạt động độc lập do M phụ trách, lợi nhuận và rủi ro trong kinh doanh không chia sẻ và không liên quan đến T. Sau khi thành lập Công ty L2, Nguyễn Hoàng M là người giữ con dấu, trực tiếp quản lý, chịu trách nhiệm cho mọi hoạt động của Công ty, đồng thời thực hiện việc khai báo nộp thuế.
Kết quả giám định hàng hóa tại Trung tâm Đ, TP ., xác định 02 lô hàng của Công ty L2 là phế liệu đồng các loại có trọng lượng lần lượt là 27.510kg và 27.580kg.
Kết quả xác minh tại Cục hải quan tỉnh B, xác định: Công ty L2 là đơn vị đã mở 02 tờ khai hải quan điện tử xuất khẩu số [...] và số [...], liên quan đến 02 lô hàng vi phạm (nêu trên) tại Cục hải quan tỉnh B, hàng hóa được xuất khẩu qua Cảng ICD Transime và Cảng C, TP .. Tại Phụ lục I Nghị định 69/2018/NĐ-CP, ngày 15/05/2018, của Chính Phủ hướng dẫn luật quản lý ngoại thương, quy định doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng phế liệu là mảnh vụn kim loại đồng, chì, kẽm, nhôm không thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu. Trước thời điểm ngày 05/04/2019, Công ty L2 đã xuất khẩu 13 lô hàng các loại, căn cứ tờ khai hải quan và hồ sơ do Cục hải quan tỉnh B cung cấp, xác định toàn bộ 13 lô hàng trên đều xuất phát từ hợp đồng ngoại HK-001, ngày 01/03/2019, đơn vị nhập khẩu là Công ty Y (H.K) Agent Co.,L, địa chỉ Unit3, 25/F, Multifield C 426 Sang Hai ST, Mongkok, KLN, H.
Kết quả xác minh tại Cục H1, xác định: Phế liệu và mảnh vụn của đồng thuộc phụ lục I biểu thuế xuất khẩu, theo danh mục mặt hàng chịu thuế ban hành theo Nghị định 125/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017, theo đó thuế suất quy định là 22%. Theo quy định tại Nghị định 69/2018/NĐ- CP, ngày 15/05/2018 của Chính Phủ, phế liệu đồng không thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, việc xuất khẩu không quy định phải có giấy phép.
Kết quả xác minh tại Ngân hàng S2, Phòng G2, xác định: Tài khoản số [...] mang tên Công ty L2, đại diện chủ tài khoản Phạm Thanh T, đăng ký mở ngày 06/03/2019, căn cứ sao kê giao dịch do ngần hàng cung cấp, đã xác định Công ty L2 không phát sinh giao dịch thanh toán tiền liên quan đến 02 lô hàng nêu trên.
Quá trình điều tra, Nguyễn Hoàng M đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đồng thời khai nhận: thời điểm cuối tháng 11/2018, khi biết Phạm Thanh T dự định thành lập Công ty L2, chuyên về nuôi tôm sinh học, M là anh rể của T nên đã yêu cầu T đăng ký thêm ngành nghề kinh doanh, trong đó có bán buôn phế liệu để M phụ trách và được T đồng ý. T không góp vốn với M để buôn bán phế liệu, đây là lĩnh vực hoạt động độc lập do M phụ trách, lợi nhuận và rủi ro trong kinh doanh không chia sẻ và không liên quan đến T. Công ty L2 chỉ có 03 người, bao gồm T, M và Lê Huy T1, trong đó M là người trực tiếp thuê và trả lương cho Lê Huy T1, để T1 phụ giúp M trong công việc buôn bán phế liệu, riêng lĩnh vực của T do chưa có nhu cầu nên T không thuê bất kỳ ai. Sau khi thành lập Công ty L2, M là người giữ con dấu, đồng thời thực hiện việc khai báo nộp thuế. Do là người đại diện theo pháp luật, quá trình hoạt động, M nhờ T ký các chứng từ liên quan đến việc mua bán phế liệu.
M khai 02 lô hàng nêu trên do Công ty L2 ủy thác xuất khẩu cho đối tượng tên K2 (tên phiên âm tiếng Việt là A S), do quen A S từ năm 2014, khi M làm Giám đốc Công ty cổ phần Đ1, địa chỉ tại Khu công nghiệp B, huyện Đ, tỉnh Bình Phước (hiện nay công ty đã tạm ngưng hoạt động do kinh doanh thua lỗ) thì A S là tổ trưởng kỹ thuật. Ngày 01/03/2019, sau thời điểm xuất cảnh về nước, K Zheng Gui liên lạc thỏa thuận, sau đó thống nhất ký Hợp đồng ủy thác số 288578/HDUTXK, về việc thuê Công ty L2 làm dịch vụ ủy thác xuất khẩu đồng, nhôm phế liệu...cho Công ty Y (PI.K) Agent co.Ltd, trụ sở địa chỉ Unit3, 25/F, Multifield C 426 Sang Hai ST, Mongkok, KLN, H, với phí 5.000.000 đồng/1 Container, còn các khoản thuế, phí do K2 thanh toán. Trên cơ sở thỏa thuận của họp đồng ủy thác, cùng ngày 01/03/2019, K2 đề nghị M soạn thảo Hợp đồng ngoại số HK-001, về việc thực hiện hợp đồng ủy thác nêu trên, đây là bản hợp đồng nguyên tắc, khi xuất/nhập khẩu 02 bên sẽ thỏa thuận từng đơn hàng cụ thể tại invoice (hóa đơn thương mại) và Packing L1 (phiếu đóng gói) mà không phải ký thêm bất kỳ họp đồng nào khác. Về nguồn gốc lô hàng, M khai nhận không biết hàng hóa thực tế, toàn bộ hàng hóa là do người của K2 thu mua tại Việt Nam, sau đó đóng hàng vào container và thuê phương tiện vận chuyển ra cảng.
Lời khai của các đương sự có liên quan:
- Phạm Thanh T khai giống nội dung Nguyễn Hoàng M khai, T cho biết do M là anh rể nên khi M nhờ ký tài liệu, T đã đã tin tưởng ký mà không hỏi. T cũng không biết M thỏa thuận mua bán phế liệu với ai, cụ thể như thế nào. Sau khi xảy ra sự việc, ngày 29/10/2019, M đã làm thủ tục thay đổi tên người đại diện theo pháp luật Công ty L2 sang cho M. Quá trình thành lập và hoạt động, T cho biết không nhớ có ký bổ nhiệm M giữ chức vụ gì trong Công ty L2 hay không.
- Lê Huy T1 thừa nhận Nguyễn Hoàng M có mối quan hệ họ hàng vợi vợ của T1, T1 được M tuyển dụng vào làm việc tại Công ty L2, với vai trò là nhân viên xuất nhập khẩu từ thời điểm tháng 11/2018, tiền lương hàng tháng 10.000.000 đồng do M trực tiếp chi trả. T1 là người trực tiếp mở và truyền 02 tờ khai hải quan điện tử liên quan đến 02 lô hàng vi phạm nêu trên của Công ty L2, tuy nhiên T1 cho biết việc mở tờ khai dựa trên các thông tin do M cung cấp, do vậy T1 không biết hàng hóa thực tế là gì, cũng như địa điểm đóng hàng vào container ở đâu.
- Tiến hành tríchxuấtdữliệu tại hộp thư điện tử “huytrung89@gmail.com" do Lê Huy T1 sử dụng phát hiện 02 file văn bản giải trình 02 lô hàng vi phạm của Công ty L2 nêu trên, theo T1 trình bày đây là file văn bản do Nguyễn Hoàng M soạn thảo gửi cho T1 để chỉnh sửa, sau đó in ra gửi cho cơ quan hải quan.
- Tại hộp thư điện tử “minhychaul@gmail.com” do Nguyễn Hoàng M sử dụng phát hiện 02 file văn bản giải trình, theo M trình bày file này do M trực tiếp soạn thảo sau đó gửi cho T1 để chỉnh sửa gửi cơ quan hải quan như kết quả trích xuất đối với Lê Huy T1. Ngoài dữ liệu trên, Cơ quan điều tra không phát hiện dữ liệu nào khác liên quan đến vụ án.
- Xác minh tại Cục Q - Bộ C2 xác định: Đối tượng tên Kang Zheng G, sinh ngày 24/07/1970, hộ chiếu số E01740230, xuất nhập cảnh vào Việt Nam tổng cộng 45 lần, lần nhập cảnh gần đây nhất là ngày 26/5/2018 và xuất cảnh vào ngày 18/09/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Ngày 28/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã Báo cáo đăng ký người chú ý nhập cảnh đối với Kang Zheng G theo quy định.
Ngày 11/11/2019, Cơ quan điều tra đã Yêu cầu tương trợ tư pháp thông qua Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hỗ trợ xác minh tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc), địa chỉ: (100726) B, D, B. 147 010-65209114, các nội dung yêu cầu liên quan đến vụ án, nhưng chưa có kết quả.
Liên quan tờ khai hải quan điện tử số [...]/B11/CTHANHBP, đăng ký ngày 05/04/2019, trong tổng số 27.510kg phế liệu đồng có 6.029 kg phế liệu đồng là danh mục hàng hóa mà Công ty L2 có khai báo theo đúng quy định, nên ngày 30/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an T3 đã có văn bản số 13218/PC03-Đ9, đề nghị Cục H1 và Chi cục hải quan cửa khẩu S1 khu vực 1 tiến hành giải tỏa, trả lại cho Công ty L2 6.029 kg phế liệu đồng mà đơn vị này đã khai báo tại tờ khai nêu trên theo quy định.
Ngày 28/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an T3 đã có Yêu cầu định giá tài sản số 948 - 48, đề nghị Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình tại TP ., tiến hành định giá 02 lô hàng của Công ty L2:
- Về lô hàng thuộc tờ hải quan số [...]/B11/CTHANHBP, kết quả giám định xác định 27.510kg phế liệu và mảnh vụn đồng (trong đó phế liệu đồng dạng khối 7.125kg và phế liệu đồng dạng mảnh vụn, phôi và dây mảnh 20.385kg). Trong 27.510kg phế liệu đồng trên có 6.029 kg phế liệu đồng mà Công ty L2 có khai báo hải quan, tuy nhiên do không xác định và không tách được 6.029 kg phế liệu này là phế liệu đồng dạng khối, dạng mảnh vụn, phoi, dây mảnh hay hỗn hợp cả 04 loại trên, từ đó chưa trừ 6.029 kg phế liệu đồng mà doanh nghiệp có khai báo hải quan. Do vậy, Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu định giá toàn bộ 27.510kg phế liệu và mảnh vụn đồng.
- Về lô hàng thuộc tờ khai số [...]/B11/CTHANHBP, Cơ uan điều tra tiến hành giám định toàn bộ 27.580kg phế liệu đồng mà Công ty L2 khai báo không đúng với tờ khai hải quan
Ngày 10/12/2020, Hội đồng định giá đã có Kết luận định giá số 7919/KL-HĐĐGTS, kết luận cả 02 lô hàng trên có tổng trị giá là: 4.368.637.000 đồng (các dạng phế liệu đồng có đơn giá 79.300đ/kg). Như vậy, sau khi trừ 6.029 kg mà Công ty L2 có khai báo hải quan, thì 49.061 kg phế liệu đồng các loại vi phạm có tổng trị giá là 3.890.537.300 đồng.
2. Hành vi của Nguyễn Hoàng M dùng Công ty TNHH MTV K3 nhập khẩu 250 bao và 248 thùng phân bón nhãn hiệu Hyponex.
Công ty TNHH MTV K3 (sau đây gọi tắt là Công ty K3) được Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh B cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 23/01/2017. Trụ sở tại số D, đường Đ, ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Ngành nghề hoạt động: Buôn bán phân phối phụ tùng ô tô, sản phẩm phục vụ nông nghiệp... do Nguyễn Hoàng G1 làm giám đốc, đại diện theo pháp luật.
Ngày 22/4/2019, Nguyễn Hoàng M dùng Công ty K3 mở tờ khai hải quan số [...]/A12 tại Chi cục hải quan huyện C1, tỉnh Bình Phước. Hàng hóa theo khai báo là: “đất sét chịu lửa dạng bột Hyponex-20kg/bao, dùng trong lò luyện kim, mới 100%; xuất xứ: Nhật Bản, số lượng 442 bao, mã số hàng hóa 2508.3000, thuế suất thuế nhập khẩu 3%, thuế suất thuế giá trị gia tăng 10%, trị giá tính thuế 116.648.220 đồng, tổng số thuế phải nộp 15.514.214 đồng. Toàn bộ hàng hóa được đóng trong container số EMCU3533850, được vận chuyển từ Nhật Bản về Việt Nam qua Chi cục hải quan cửa khẩu Cảng Sài Gòn khu vực S1, Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó vận chuyển về Chi cục Hải quan huyện C1, tỉnh Bình Phước, để làm thủ tục nhập khẩu.
Nghi ngờ hàng hóa nhập khẩu không đúng với khai báo hải quan, ngày 21/5/2019, Chi cục Hải quan cửa khẩu S1 khu vực 1 phối hợp với Đội kiểm soát thuộc Cục H1, tiến hành kiểm tra thực tế hàng hóa trong Container số EMCU 3533850. Kết quả kiểm tra, lấy mẫu phân tích, giám định xác định toàn bộ hàng hóa là phân bón các loại thuộc danh mục mặt hàng nhập khẩu kinh doanh có điều kiện. Và hàng hóa này khi làm thủ tục nhập khẩu phải được kiểm định chất lượng, kết quả phù hợp Bản công bố hợp quy theo quy định Thông tư số 55/2012/TT-BNNPTNT, ngày 31/10/2012 của Bộ N3 thì mới đủ điều kiện xin cấp giấy phép nhập khẩu.
Kết quả xác minh tại Công ty TNHH T4, xác định đơn vị này có tiếp nhận vận chuyển lô hàng trên cho Công ty K3, lô hàng có nguồn gốc từ Công ty H2, trụ sở tại Nhật Bản. Ngày 17/4/2019, đại diện Công ty K3 đã nhận lệnh giao hàng đồng thời thanh toán toàn bộ phí vận chuyển liên quan.
Kết quả xác minh tại Cục B - Bộ N4 thông, xác định: cho đến nay Công ty K3 không có sản phẩm là phân bón nào được Cục B thực vật cấp Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam, đồng thời Cục Bảo vệ thực vật cũng chưa cấp bất kỳ giấy phép nhập khẩu phân bón nào với Công ty K3.
Quá trình điều tra, Nguyễn Hoàng M đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, đồng thời khai nhận: M là người trực tiếp đăng ký và truyền tờ khai khai quan điện tử 102596203510/A12, mở ngày 22/4/2019 liên quan đến lô vi phạm của Công ty K3. Tháng 02/2019, Nguyễn Hoàng M đã bàn bạc với ông N2 quốc tịch Nhật Bản về việc nhập khẩu uỷ thác các mẫu phân bón nhãn hiệu Hyponex để bán cho đối tác tại Đ sử dụng trong việc trồng rau củ chất lượng cao. Do M biết việc nhập khẩu phân bón trên phải được cấp giấy phép nhập khẩu và đã thực hiện thủ tục xin giấy phép tại Cục B thuộc Bộ N3, mà Công ty K3 không có giấy phép nhập khẩu nên cả hai thống nhất khai báo phân bón nhập khẩu là đất sét chịu nhiệt nhãn hiệu Hyponex. Sau khi hàng hóa được thông quan thì M sẽ thông báo cho N2 biết để đến Chi cục Hải quan C1, tỉnh Bình Phước nhận hồ sơ nhập khẩu và hàng hóa. M khai làm thủ tục nhập khẩu cho N2 với giá 17 triệu đồng và đã nhận tiền nhưng không lập hợp đồng hay chứng từ thu tiền.
Các cá nhân liên quan trong vụ việc khai báo như sau:
- Nguyễn Hoàng G1 khai: G1 đã giao Công ty cho Nguyễn Hoàng M là em ruột là Phó giám đốc Công ty K3 phụ trách điều hành và quản lý mọi hoạt động của Công ty. Liên quan đến việc nhập khẩu lô hàng là phân bón nêu trên, G1 khai nhận M tự ý sử dụng pháp nhân Công ty K3 để nhập khẩu, G1 không biết M thỏa thuận mua bán hàng hóa với ai, cụ thể như thế nào.
- Ngô Trần Quốc K là người được M thuê làm nhân viên thời vụ để thực hiện việc nộp hồ sơ, cũng như làm thủ tục thông quan hàng hóa. K cho biết quá trình làm thủ tục, K biết hàng hóa khai báo là đất sét chịu lửa trên cơ sở thông tin do M cung cấp, K chỉ thực hiện công việc theo yêu cầu của M, do vậy K không biết M bàn bạc thỏa thuận mua bán với ai, hàng hóa cụ thể là gì.
Kết quả giám định tại Phòng K4, Công an T3, xác định hình dấu Công ty K3 trên tài liệu cần giám định so với mẫu so sánh là do cùng một con dấu đóng ra, chữ ký mang họ tên Nguyễn Hoàng M trên hợp đồng ủy thác so với mẫu so sánh do một người ký ra, chữ ký mang tên Nguyễn Hoàng G1 trên hợp đồng ngoại so với mẫu so sánh là do cùng một người ký ra. Do quá trình điều tra và điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra đã làm việc và cho Nguyễn Hoàng G1 và Nguyễn Hoàng M tiến hành đối chất, kết quả G1 không thừa nhận mình là người ký trên các tài liệu giám định nêu trên, Nguyễn Hoàng M (là em ruột của G1 là - Phó giám đốc Công ty K3) là nguời đã tự ý ký chữ ký của G1 trên các chứng từ nhập khẩu. Ngày 29/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an T3 đã có Quyết định trưng giám định lại tại P1 - Bộ C2. Ngày 14/02/2022, P1 - Bộ C2 Kết luận giám định lại, xác định: chữ ký đứng tên Nguyễn Hoàng G1 trên các tài liệu là Hợp đồng số HYKHG ngày 01/3/2019, Packing L1 và Invoice ngày 05/4/2019 so với chữ ký đứng tên Nguyễn Hoàng G1 trên các mẫu so sánh không phải do cùng một người ký ra; Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Nguyễn Hoàng G1 trên các tài liệu cần giám định (nêu trên) so với chữ ký đứng tên Nguyễn Hoàng M trên mẫu so sánh là do cùng một người ký ra hay không.
Ngày 28/8/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận B (nay trực thuộc TP .) kết luận lô hàng hóa vi phạm của Công ty K3 trị giá là 652.845.648 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 299/2023/HS-ST ngày 27/6/2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 188; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Nguyễn Hoàng M 08 (tám) năm tù về tội “Buôn lậu”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ngày 10/7/2023, bị cáo Nguyễn Hoàng M đã kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
1. Phần xét hỏi:
- Bị cáo Nguyễn Hoàng M giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Bị cáo đồng ý về tội danh mà bị cáo đã bị quy kết, nhưng mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là có phần nghiêm khắc. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp một số tài liệu, chứng cứ mới là hoàn cảnh khó khăn, neo đơn; bị cáo là người duy nhất chăm sóc mẹ bị cáo đang bệnh hiểm nghèo hoàn toàn không tự chủ động trong việc sinh hoạt và ăn uống; gia đình bị cáo đã nộp các sổ tiết kiệm để đảm bảo thi hành án cho bị cáo; bản thân bị cáo trước đây là quân nhân phục vụ nhiều năm trong quân ngũ; gia đình bị cáo có truyền thống cách mạng, có ông nội là Nguyễn Đình C, cha, mẹ đều là người có công cách mạng và đã được Nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng nhất, hạng nhì và nhiều bằng khen khác; bị cáo cũng có nhiều bằng khen trong quá trình công tác; Công ty của bị cáo có đơn xin xem xét khoan hồng cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo hoặc hưởng hình phạt chính là phạt tiền.
- Mẹ của bị cáo Nguyễn Hoàng M – bà Nguyễn Bích P trình bày: Bà mong muốn được nộp 05 sổ tiết kiệm với tổng số tiền có trong các sổ này là 2.300.000.000₫ là số tiền bà vay mượn của người thân và để dành dưỡng già. Tuy nhiên, hiện nay hoàn cảnh bệnh tình của bà hiểm nghèo đòi hỏi phải có người chăm sóc, bị cáo là người duy nhất chăm sóc cho bà. Vì vậy, bà tự nguyện đề nghị Tòa án phong tỏa số tiền trên để bảo đảm thi hành án trong trường hợp Tòa án áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo.
2. Phần tranh luận:
2.1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
2.1.1. Về việc chấp hành pháp luật của HĐXX, thư ký và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Đơn kháng cáo của các bị cáo là còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
2.1.2. Về nội dung: Qua đối chiếu hồ sơ vụ án, Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ và đúng pháp luật, hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có cung cấp được nhiều tài liệu chứng cứ mới để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
2.2. Chủ tọa công bố bản bào chữa của người bào chữa cho bị cáo và được tóm tắt như sau:
- Về tội danh: Thống nhất về tội danh mà bị cáo đã bị quy kết, tuy nhiên cần xem xét đến nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo chỉ vì tin người nên bị cáo đã đồng ý giúp đỡ A S mà không biết mình đã vi phạm pháp luật.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Ngoài các tình tiết đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã cung cấp các tình tiết mới là: Cha của bị cáo được huy chương kháng chiến hạng nhất; mẹ của bị cáo được huy chương kháng chiến hạng nhì. Cha, mẹ của bị cáo đều có nhiều bằng khen, giấy khen trong quá trình sản xuất, lao động. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, mẹ bị cáo đang bị bệnh hiểm nghèo và chỉ có một mình bị cáo sống chung, chăm sóc cho mẹ; bị cáo có được đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tập thể cán bộ, nhân viên Công ty TNHH MTV L2. Mẹ của bị cáo cũng đồng ý để giao nộp các sổ tiết kiệm để nộp khắc phục hậu quả thay bị cáo.
Từ đó, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng hình phạt chính là phạt tiền hoặc hưởng án treo.
2.3. Đại diện viện kiểm sát, luật sư bào chữa, bị cáo giữ nguyên quan điểm về phần tranh tụng của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
3. Phần bị cáo nói lời sau cùng Bị cáo đã biết lỗi của mình và kính mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng khoan hồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bị cáo Nguyễn Hoàng M thực hiện việc kháng cáo theo đúng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:
[2.1] Bị cáo Nguyễn Hoàng M đã sử dụng pháp nhân Công ty TNHH MTV L2 để mở 02 tờ khai hải quan xuất khẩu số [...]/B11/CTHANHBP vào ngày 05/4/2019 và tờ khai số [...]/B11/CTHANHBP vào ngày 09/4/2019 tại Cục hải quan tỉnh B. Hàng hóa khai báo trong Container số TEMU8974802 gồm 9.109 kg phôi nhôm phế liệu, 6029 kg phế liệu đồng và 512 cái két nước tản nhiệt cho ô tô đã qua sử dụng, trị giá 311.575.165 đồng, số tiền thuế phải đóng tương ứng là 55.509.116 đồng, nhưng qua kiểm tra thì toàn bộ hàng hóa chứa trong Container này là 27.510 kg phế liệu đồng, là loại hàng hóa không thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, có thuế suất là 22%. Và hàng hóa khai Container số TEMU7847311 là 25.104 kg phôi nhôm phế liệu, trị giá 290.578.800 đồng, nhưng qua kiểm tra hàng hóa trong Container này là 27.580 kg phế liệu đồng cũng là loại hàng hóa không thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, có thuế suất là 22%. Sau khi trừ 6029 kg phế liệu đồng đã khai hải quan thì tổng trị giá 02 lô hàng phạm pháp này là 3.890.537.300 đồng. Ngoài ra Công ty TNHH MTV K3 chưa được Cục Bảo vệ thực vật cấp giấy phép nhập khẩu phân bón nhưng M đã lập khai hải quan điện tử số [...]/A12 ngày 22/4/2019 tại Cục hải quan tỉnh B. Hoàng hóa khai báo là đất sét chịu lửa dạng bột Hyponex-20kg/bao, dùng trong lò luyện kim, mới 100%; xuất xứ: Nhật Bản, thuế suất thuế nhập khẩu 03%, thuế suất thuế giá trị gia tăng 10%, trị giá tính thuế 116.648.220 đồng và tổng số thuế phải nộp 15.514.214 đồng. Nhưng qua kiểm tra thì số hàng này gồm 250 bao và 248 thùng phân bón các loại, thuộc danh mục mặt hàng nhập khẩu kinh doanh có điều kiện. Theo kết quả định giá trong tố tụng thì lô hàng phạm pháp này có trị giá là 652.845.648 đồng.
Như vậy, đối với 02 lô hàng phế liệu đồng là loại hàng hóa không thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, có thuế suất là 22%, nhưng Nguyễn Hoàng M đã có hành vi khai báo gian dối về chủng loại và khối lượng hàng hóa xuất khẩu nhằm buôn bán trái quy định qua biên giới và đối với lô hàng phân bón là hàng hóa nhập khẩu có điều kiện, nhưng M đã khai báo gian dối về chủng loại hàng hóa để thông quan lô hàng phân bón từ Nhật Bản vào thị trường Việt Nam trái quy định. Tổng trị giá các lô hàng hóa vi phạm là: 4.543.382.948 đồng.
[2.2] Bị cáo Nguyễn Hoàng M nhận thức được hành vi buôn lậu, khai sai thông tin hàng hóa là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, quản lý hàng hóa qua biên giới.
[2.3] Với hành vi nêu tại mục [2.1] và nhận định tại mục [2.2], Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Hoàng M phạm tội “Buôn lậu” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng hình phạt chính là hình phạt tiền hoặc hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hoàng M
Tòa án cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét mức độ thực hiện hành vi phạm tội, xem xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo M là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo M là bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện nộp tiền để khắc phục hậu quả, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, từ đó xét xử bị cáo M 08 (tám) năm tù tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo M thực hiện.
Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo M kháng cáo xin hưởng án treo hoặc hình phạt chính là hình phạt tiền, bị cáo cung cấp các tình tiết mới là: Gia đình bị cáo có truyền thống tham gia cách mạng, ông nội của bị cáo Nguyễn Đình C là người có công cách mạng; cha của bị cáo được huy chương kháng chiến hạng nhất; mẹ của bị cáo được huy chương kháng chiến hạng nhì. Cha, mẹ của bị cáo đều có nhiều bằng khen, giấy khen trong quá trình sản xuất, lao động. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, mẹ bị cáo đang bị bệnh hiểm nghèo (có hồ sơ bệnh án kèm theo) không tự sinh hoạt và chăm sóc bản thân được và chỉ có một mình bị cáo sống chung, chăm sóc cho mẹ; bị cáo có được đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tập thể cán bộ, nhân viên Công ty TNHH MTV L2. Mẹ của bị cáo cũng tự nguyện đồng ý để giao nộp các sổ tiết kiệm để thi hành án trong trường hợp Tòa án áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền.
Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo M, áp dụng quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo M mức hình phạt thuộc khung hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 188 Bộ luật Hình sự; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đều không kháng nghị về mức hình phạt, khung hình phạt đối với bị cáo M. Xét thấy, theo quy định tại khoản 3 Điều 188 Bộ luật Hình sự, hình phạt được quy định là “phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 07 năm đến 15 năm”. Bị cáo M bị truy tố, xét xử về tội xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế; thời gian qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách đổi mới trong lĩnh vực kinh tế tư nhân, trong đó tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính T2 về Phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc Hội về Một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân đều đặt ra nguyên tắc xử lý đối với vi phạm đến mức xử lý hình sự thì ưu tiên các biện pháp khắc phục hậu quả kinh tế chủ động, kịp thời, toàn diện trước và là căn cứ quan trọng để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét khi quyết định khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và các biện pháp xử lý tiếp theo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo M cung cấp được nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới và gia đình bị cáo có tự nguyện giao nộp sổ tiết kiệm số tiền 2.300.000.000 (hai tỷ, ba trăm triệu) đồng để cơ quan Thi hành án kê biên nhằm bảo đảm thi hành án trong trường hợp Tòa án áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền. Hội đồng xét xử nhận thấy việc áp dụng hình phạt trừng phạt về kinh tế đối với bị cáo cũng đủ tác dụng trừng trị, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, bảo đảm ưu tiên khắc phục hậu quả kinh tế cho Nhà nước là phù hợp khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo, cũng như phù hợp với của chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong kỷ nguyên mới của đất nước. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo M, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền với mức phạt 2.500.000.000 (hai tỷ, năm trăm triệu) đồng là tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo thực hiện.
[4] Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có sở chấp nhận một phần kháng cáo của của bị cáo Nguyễn Hoàng M. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 299/2023/HSST ngày 27/6/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoàng M.
[5] Trên đây là lập luận của Hội đồng xét xử về việc chấp nhận một phần đối với quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát, cũng như lời bào chữa của luật sư bào chữa cho bị cáo và bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm.
[6] Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Bích P tự nguyện giao nộp số tiền 2.300.000.000 (hai tỷ, ba trăm triệu) đồng trong các Sổ tiết kiệm số:
- - 2708761 tài khoản 818010965870 mở ngày 26/5/2025, số tiền 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng.
- - 2708766 tài khoản 814011058208 mở ngày 02/6/2025, số tiền 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng.
- - 2708767 tài khoản 810011115294 mở ngày 05/6/2025, số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
- - 2708768 tài khoản 810011115306 mở ngày 05/6/2025, số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
- - 2708769 tài khoản 810011137994 mở ngày 06/6/2025, số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
Tất cả đều mở tại Ngân hàng TMCP Đ2 (B1) - Chi nhánh B2, phòng G3 đứng tên bà Nguyễn Bích P, CCCD số: [...], địa chỉ: I T, phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Giao Cơ quan Thi hành án phong tỏa các sổ tiết kiệm trên để bảo đảm thi hành án đối với hình phạt chính là hình phạt tiền của bị cáo Nguyễn Hoàng M.
[7] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[8] Án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo Nguyễn Hoàng M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b, khoản 1 Điều 355, khoản 1 Điều 357, của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng M; Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 299/2023/HSST ngày 27/6/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoàng M.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 188; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 35 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoàng M 2.500.000.000 (hai tỷ, năm trăm triệu) đồng về tội “Buôn lậu” để sung vào ngân sách Nhà nước.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Bích P tự nguyện giao nộp số tiền 2.300.000.000 (hai tỷ, ba trăm triệu) đồng trong các Sổ tiết kiệm số:
- - 2708761 tài khoản 818010965870 mở ngày 26/5/2025, số tiền 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng.
- - 2708766 tài khoản 814011058208 mở ngày 02/6/2025, số tiền 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng.
- - 2708767 tài khoản 810011115294 mở ngày 05/6/2025, số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
- - 2708768 tài khoản 810011115306 mở ngày 05/6/2025, số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
- - 2708769 tài khoản 810011137994 mở ngày 06/6/2025, số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
Tất cả đều mở tại Ngân hàng TMCP Đ2 (B1) - Chi nhánh B2, phòng G3 đứng tên bà Nguyễn Bích P, CCCD số: [...], địa chỉ: I T, phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Giao Cơ quan Thi hành án phong tỏa các sổ tiết kiệm trên để bảo đảm thi hành án đối với hình phạt chính là hình phạt tiền của bị cáo Nguyễn Hoàng M.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Hoàng M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; (1) - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; (1) - TAND TP. Hồ Chí Minh; (2) - VKSND TP. Hồ Chí Minh; (1) - Công an TP. Hồ Chí Minh; (1) - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh; (1) - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh; (1) - Bị cáo tại ngoại (1) - Lưu: VP, HS (ĐTM) (6) – 15b | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Toàn | ||||||
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM | |||||||
| |||||||
Bản án số 465/2025/HS-PT ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - buôn lậu
- Số bản án: 465/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Buôn lậu
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng M; Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 299/2023/HSST ngày 27/6/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoàng M.
