|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU Bản án số: 465/2025/DS-PT Ngày 25-11-2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tiêu Hồng Phượng
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Cao Khánh
Bà Châu Minh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trung Biển - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 366/2025/TLPT-DS ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 91/2025/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 415/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Anh Nguyễn Thanh M, sinh năm 1978; CCCD số [...], cấp ngày 10/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
- Chị Vũ Thị Q, sinh năm 1981; CCCD số [...], cấp ngày 21/12/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp G, xã N, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh M và chị Q: Anh Trịnh Thái B, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Số A, đường H, khóm C, phường T, tỉnh Cà Mau (văn bản uỷ quyền ngày 17/11/2025) (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh M và chị Q: Ông Trịnh Thanh L là Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B1, sinh năm 1986;
CCCD số [...], cấp ngày 02/5/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hồ Hồng T, sinh năm 1989;
CCCD số [...], cấp ngày 20/5/2023, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người kháng cáo: Anh Nguyễn Thanh M và chị Vũ Thị Q là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn anh Nguyễn Thanh M và chị Vũ Thị Q trình bày:
Ngày 03/6/2019, anh chị được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 470039 với diện tích đất là 216 m² (ngang 6,02 m, dài 36 m) tọa lạc tại Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau nay thuộc Khóm A, xã C, tỉnh Cà Mau. Đến ngày 06/6/2024, anh chị đo đạc lại đất để xây dựng nhà thì phát hiện phần đất bị thiếu. Sau đó, anh chị nhờ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P đo đạc và định vị ranh giới, mốc giới thửa đất giữa anh chị với anh Nguyễn Văn B1. Kết quả đo đạc, định vị thể hiện phần đất của anh, chị bị anh B1 lấn chiếm với tổng diện tích 14,4 m² (ngang mặt tiền 0,48 m, ngang mặt hậu 0,32 m, dài 36 m). Do anh B1 và chị Hồ Hồng T là vợ chồng, phần đất tranh chấp là tài sản chung của vợ chồng anh B1 nên tại phiên tòa, anh M và chị Q yêu cầu Tòa án buộc anh B1, chị T có trách nhiệm trả lại cho anh chị phần đất lấn chiếm theo bản trích đo hiện trạng thực tế của Công ty TNHH Đ ngày 31/3/2025 có tổng diện tích là 15,6 m² và tháo dỡ một vách nhà tiền chế xây dựng trên đất lấn chiếm có diện tích 4,8 m² trả lại đất cho anh, chị.
Theo bị đơn anh Nguyễn Văn B1 trình bày:
Năm 2020, anh và chị T nhận chuyển nhượng của ông Ngô Minh C phần đất thuộc thửa số 127, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau nay thuộc Khóm A, xã C, tỉnh Cà Mau với diện tích 180 m² (ngang mặt tiền 5,01 m, ngang mặt hậu 5,02 m, dài 36 m) và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 02/3/2020. Đến ngày 28/02/2023, anh chị được cấp giấy phép xây dựng nhà trên phần đất nêu trên và tiến hành xây dựng đúng cột mốc ranh giới giữa anh chị với bà H hộ giáp ranh. Cũng vào năm 2023, anh và chị T tiếp tục nhận chuyển nhượng của ông Phạm Anh D phần đất liền kề thuộc thửa số 126, tờ bản đồ số 5, với diện tích 180 m² (ngang mặt tiền 5,02 m, ngang mặt hậu 5,01 m, dài 36 m) và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 26/9/2023. Khi chuyển nhượng và làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cơ quan đất đai có
đo đạc thực tế ranh giới thửa đất nên anh và chị T đã xây dựng gạch bó nền xung quanh thửa đất. Đến ngày 15/7/2024, anh và chị T được cấp giấy phép xây dựng căn nhà trên đất nhưng anh và chị T chỉ xây dựng căn nhà tiền chế dùng để xe ô tô, nhà có kết cấu mái lợp tol lạnh, vách dừng thiếc, cột, kèo, xiên, sạnh làm bằng kẽm, nền trán xi măng. Việc anh và chị T xây dựng nhà đúng theo giấy phép xây dựng và xây đúng ranh giới, mốc giới phần đất của anh chị đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Hơn nữa, từ khi khởi công xây dựng nhà cho đến khi hoàn thành, không có bất kỳ hộ giáp ranh nào tranh chấp với anh nên anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh M và chị Q.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hồ Hồng T trình bày:
Chị T thống nhất theo lời trình bày của anh B1 và không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh M và chị Q.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2025/DS-ST ngày 12/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Thanh M và chị Vũ Thị Q kiện đòi anh Nguyễn Văn B1, chị Hồ Hồng T trả phần đất có diện tích 15,6 m² tọa lạc tại Khóm A, xã C, tỉnh Cà Mau và tháo dỡ một phần căn nhà có diện tích 4,8 m² được xây dựng trong phần diện tích đất 15,6 m².
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 27/8/2025, nguyên đơn anh Nguyễn Thanh M và chị Vũ Thị Q có đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh M và chị Q.
Ngày 18/11/2025, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của anh M có trong bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất lập ngày 10/02/2020.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của anh M và chị Q thay đổi nội dung kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm nếu cấp phúc thẩm không đồng ý trưng cầu giám định chữ ký và chữ viết của anh M.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Luật sư Trịnh Thanh L tranh luận: Nguồn gốc đất của anh B1 và chị T đang quản lý, sử dụng là chuyển nhượng của ông Ngô Văn B2 nên cần phải trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của anh M tại thời điểm thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng của anh B1 và chị T; định vị lại các thửa đất số 59, 126, 127 để làm cơ sở giải quyết vụ án mà cấp sơ thẩm chưa thực hiện. Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm huỷ án sơ thẩm.
Ông Trịnh Thái B tranh luận: Yêu cầu Toà án phúc thẩm chấp nhận yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của anh M, nếu không chấp nhận thì yêu cầu cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm.
Bị đơn anh Nguyễn Văn B1 yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Chị Hồ Hồng T tranh luận: Vợ chồng mua 02 phần đất của hai người khác nhau, được cấp quyền sử dụng, được phép xây dựng nhà ở theo quy định, không có lấn chiếm đất của anh M, chị Q nên không đồng ý với trình bày của Luật sư và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng quy định của pháp luật tố tụng; các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Ngày 27/8/2025, nguyên đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, tại phiên toà phúc thẩm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm để định vị lại vị trí đất tại thửa 59, 126 là không có căn cứ; việc yêu cầu trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký của anh M tại thủ tục cấp đất thửa 127 là không cần thiết vì thửa 127 không liên quan đến phần đất tranh chấp. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh M và chị Vũ Thị Q, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 91/2025/DS-ST ngày 12/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh M, chị Vũ Thị Q:
[1] Đối với yêu cầu của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh M và chị Vũ Thị Q về việc trưng cầu giám định chữ ký và chữ viết mang tên “Nguyễn Thanh M” xuất hiện trong Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất lập ngày 10/02/2020. Người ký giáp ranh: Nguyễn Thanh M và chữ ký là “Mạc” (ghi tại dòng số 1). Hội đồng xét xử xét thấy: Đối tượng mà người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn đề nghị trưng cầu giám định là chữ viết và chữ ký tên của anh Nguyễn Thanh M là người ký giáp ranh trong bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất lập ngày 10/02/2020 thuộc thửa đất số 127, tờ bản đồ số 5 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 917702 cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng tên vào ngày 02/3/2020 có diện tích 180m². Hội đồng xét xử nhận thấy không liên quan đến phần đất đang tranh chấp trong vụ án; mặt khác trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm các đương sự đều xác định không tranh chấp thửa đất này nên đơn đề nghị về việc trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[2] Phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế của Công ty TNHH Đ đo vẽ ký ngày 31/3/2025 có diện tích 15,6 m² thuộc thửa số 2, tọa lạc tại Khóm A, xã C, tỉnh Cà Mau.
[3] Về nguồn gốc đất tranh chấp: Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực P cung cấp thể hiện cả hai thửa đất số 59, 126 (bản trích đo hiện trạng là các thửa số 1, số 3) hiện đang
tranh chấp là do các đương sự nhận chuyển nhượng từ người khác, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã hoàn thành và các đương sự đã được cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
[4] Xét thời gian quản lý, sử dụng đất: Nguyên đơn là người có thời gian quản lý, sử dụng đất lâu hơn so với bị đơn bởi thời gian nguyên đơn nhận chuyển nhượng đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 03/6/2019 còn bị đơn cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhận chuyển nhượng đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 26/9/2023. Quá trình sử dụng đất, bị đơn cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tiến hành xây hàng gạch bó nền, đổ đá bụi, trán nền xi măng và xây dựng nhà trên đất nhưng nguyên đơn không có ngăn cản hay có xảy ra tranh chấp, mặt khác việc xây dựng nhà của bị đơn cũng được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng theo quy định. Trong khi đó, nguyên đơn khi nhận chuyển nhượng đất không đo đạc thực tế, không yêu cầu cơ quan quản lý đất cắm ranh giới, mốc giới thửa đất, riêng phần đất tiếp giáp liền kề giữa nguyên đơn với hộ bà Lữ Thị T1 đã có cắm cột mốc (trụ đá) và cột mốc được bà T1 khai nhận do gia đình bà T1 cùng với người chủ đất trước đây đã chuyển nhượng đất cho nguyên đơn cắm làm ranh và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn cũng đã thống nhất với ranh đất đã cắm, không tranh chấp với bà T1 (hộ giáp ranh). Nguyên đơn cho rằng năm 2024, nguyên đơn có yêu cầu Chi nhánh Văn phòng Đ đo đạc, định vị lại ranh giới, mốc giới thửa đất của nguyên đơn với bị đơn và được Chi nhánh Văn phòng Đ cho biết bị đơn đã lấn chiếm phần đất giáp ranh nhưng nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thể hiện việc Chi nhánh Văn phòng Đ và xác định phần ranh giới thửa đất của nguyên đơn bị phía bị đơn lấn chiếm. Trong quá trình giải quyết vụ án, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đã có văn bản với nội dung: “Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với bị đơn và hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn không thể hiện tọa độ đỉnh thửa nên không có cơ sở cung cấp tọa độ theo yêu cầu” và “do phần đất tranh chấp được Công ty TNHH Đ đo vẽ chỉ thể hiện theo hiện trạng các thửa đất tranh chấp chưa được kiểm tra hiện trạng các thửa đất liền kề trên cùng tuyến đường nên không xác định được vị trí các thửa đất 1, 2, 3, 4 nằm cùng vị trí trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ai” (Bút lục 46, 51). Mặt khác, tại bản trích đo hiện trạng của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ đo vẽ ký ngày 31/3/2025 thể hiện diện tích đất của bị đơn quản lý, sử dụng đúng với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử cho định vị lại vị trí của hai thửa đất số 59 và 126 và cho trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký của anh M, nếu không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu này thì đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại nhằm đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm để định vị lại vị trí đất tại thửa 59, 126 là không có căn cứ và việc yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của anh M tại thủ tục cấp đất thửa 127 là không cần thiết
vì thửa 127 không liên quan đến phần đất tranh chấp như đã phân tích, nên đề nghị này không được chấp nhận.
[6] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh M và chị Vũ Thị Q, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2025/DS-ST ngày 12/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.
[8] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của anh M và chị Q không được chấp nhận nên anh M và chị Q phải chịu án phí theo quy định, đã dự nộp được chuyển thu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh M, chị Vũ Thị Q.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2025/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Thanh M, chị Vũ Thị Q kiện đòi anh Nguyễn Văn B1, chị Hồ Hồng T trả phần đất có diện tích 15,6 m² tọa lạc tại Khóm A, xã C, tỉnh Cà Mau (nay là Ấp A, xã C, tỉnh Cà Mau) và tháo dỡ một phần căn nhà có diện tích 4,8 m² được xây dựng trên phần diện tích đất 15,6 m².
- Về chi phí tố tụng: Anh Nguyễn Thanh M, chị Vũ Thị Q phải chịu số tiền là 11.491.200 đồng; anh M và chị Q đã nộp xong.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Thanh M và chị Vũ Thị Q phải chịu 300.000 đồng. Ngày 30/9/2024, anh M và chị Q đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003853 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Cà Mau), được chuyển thu.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Thanh M và chị Vũ Thị Q phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm anh M và chị Q đã nộp tạm ứng 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011682 ngày 27/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được chuyển thu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Tiêu Hồng Phượng |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Đỗ Cao Khánh | Châu Minh Nguyệt | Tiêu Hồng Phượng |
Bản án số 465/2025/DS-PT ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 465/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
