|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 465/2024/HS-PT Ngày: 25/9/2024. |
————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Kim Liên
Các Thẩm phán:
ông Lê Tự
ông Nguyễn Tấn Long
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Quách Đức Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa trực tuyến xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 340/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Mai Quý N về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 21/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk.
* Bị cáo có kháng cáo:
Mai Quý N (tên gọi khác: Chín) - sinh ngày 01/3/1987; nơi sinh: huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: thôn C, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 8/12; giới tính: Nam; con ông Mai C (sinh năm 1935) và bà Nguyễn Thị Â (sinh năm 1942); có vợ Nguyễn Thị T (sinh năm 1990) và 02 con (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giam ngày 30/12/2020 đến ngày 09/02/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh. Ngày 21/4/2023, bị bắt tạm giam lại. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo:
- + Luật sư Nguyễn Thị Kiều D - Luật sư của Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ. Có mặt.
- + Ông Phan Thanh S - Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Có mặt.
Ngoài ra, vụ án còn có 02 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 11/8/2020, Mai Quý N điều khiển xe môtô biển kiểm soát 47L1-238.22 về nhà. Khi đến ngã ba đèo C, thuộc thôn E, xã Q, huyện K thì dừng xe đi vệ sinh. Lúc này, Nguyễn Thanh D1 điều khiển xe môtô biển kiểm soát 47L1-198.72 chở Trần Đức H đi chơi về, thấy N đứng tại ngã ba thì D1 điều khiển xe đến gần chỗ N và hỏi “xe anh có bị làm sao không, có cần em giúp không”. N không trả lời mà đi tới trước đầu xe của D1, đặt một tay lên trên đầu xe thì D1 nói “nếu anh không cần tụi em giúp thì anh bỏ tay ra cho bọn em đi” và dùng tay hất tay của N ra khỏi đầu xe thì N chụp, giữ tay D1 lại. Thấy vậy, D1 và H dùng tay đấm vào mặt của N. N bỏ chạy về hướng UBND xã Q.
Sau khi N bỏ chạy, D1 lấy chìa khóa xe xe môtô của N bỏ vào túi quần của mình rồi cùng với H đi về hướng thôn S, xã D. Thấy H và D1 bỏ đi, N điện thoại cho H1, Nguyễn Văn T1 và Trương Quang V nhờ ra đường chặn xe của H và D1 lại. N tiếp tục gọi điện thoại cho Mai Quý N1 nói "em bị đánh ở đèo C, anh ra nhanh còn kịp". Ngân nhờ Mai Thanh Y điều khiển xe môtô chở N1 đến ngã ba đèo C. Khi đến nơi thì thấy N đang cởi trần đứng tại ngã ba, bị thương ở mặt, N nói với N1 và Y “tụi nó đánh em và lấy chìa khóa xe, tụi nó chạy về hướng thôn S, có người chặn lại rồi” rồi Y chở N và N1 chạy đuổi theo.
Khi H chở D1 chạy đến khu vực trước nhà bà Lê Thị H2 thì gặp H1 lúc này yêu cầu H dừng xe lại và đi đến đứng trước đầu xe của H hỏi "sao tụi mày đánh em tao". H và D1 không trả lời. Cùng lúc này, V cũng vừa đi xe máy đến, trên tay cầm theo một thanh sắt hình hộp, kích thước khoảng (2 x 3 x 100)cm, vừa dừng xe Viên chạy lại hỏi "sao tụi mày đánh anh tao và còn lấy chìa khóa xe". H trả lời “không có” nên V vung thanh sắt đánh theo hướng từ trên xuống trúng mũ bảo hiểm H đang đội trên đầu, V tiếp tục đánh phát thứ hai thì trúng vào đầu D1 làm D1 bị ngã từ trên xe máy xuống lề đường. Ngay lúc này, Y chở N và N1 đến. Khi Y dừng xe thì N chạy đến chỗ H, dùng tay đấm vào mặt H một cái, sau đó lao đến chỗ D1, dùng tay chân đấm, đá liên tiếp nhiều cái vào người D1. N1 đến chỗ H dùng tay chân đấm, đá vào mặt của H. Lúc này, N vừa đánh D1 vừa hỏi “chìa khóa xe máy tao đâu” và đưa tay lục trong túi quần của D1 tìm thấy chìa khóa xe và nói “chìa khoá đây rồi” N tiếp tục dùng tay, chân đấm, đá vào người D1 thì được can ngăn, còn N1 chạy đến dùng chân đá vào chân D1 một cái. Sau đó tất cả đi về nhà, D1 được đưa đi cấp cứu.
Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 1024/TgT-TTPY ngày 20/10/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận đối với Nguyễn Thanh D1: tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 42%. Vật tác động: vật tày, cứng và vật tày cứng có bề mặt không bằng phẳng.
Cơ chế hình thành thương tích: vết thương để lại sẹo vùng niêm mạc môi trên bên phải, bờ nham nhở là do tác động trực tiếp của vật tày, cứng hướng từ trước ra sau; xây xát nhiều vùng mặt; gãy xương gò má cung tiếp phải; vỡ xoang hàm bên phải; vỡ xoang hàm bên trái do tác động trực tiếp với vật tày từ trước ra sau; chấn thương đỉnh trái; tụ máu dưới màng cứng trán trái; xuất huyết khoang dưới nhện là do tác động trực tiếp với vật tày từ trước ra sau, từ trên xuống dưới; xây xát vùng bụng; dập gan là do tác động trực tiếp với vật tày hướng từ trước ra sau.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm 48/2024/HS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2024
của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk đã quyết định:
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 15; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Mai Quý N 09 (chín) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/4/2023, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 30/12/2020 đến ngày 09/02/2021.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với Mai Quý N1, Trương Quang V; quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/5/2024, bị cáo Mai Quý N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì cho rằng án sơ thẩm xử nặng.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- - Bị cáo Mai Quý N giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Mai Quý Nhựt về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, mức án 09 năm tù là thoả đáng, không nặng. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo N không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo N, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.
- - Luật sư Nguyễn Thị Kiều D cho rằng bị cáo không phạm tội có tính chất côn đồ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 123 xử bị cáo về tội “Giết người” và điểm e khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án 07 năm tù là phù hợp.
- - Luật sư Phan Thanh S đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại tội danh, xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” mới đúng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Mai Quý N khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 21 giờ ngày 11/8/2020, do trước đó xảy ra mâu thuẫn xô xát giữa N với anh D1 và anh H tại khu vực đèo C thuộc xã Q, huyện K nên N đã điện thoại cho V, N1, H1, T1 chặn xe của anh D1, anh H với mục đích để đánh trả thù và lấy chìa khóa xe. Viên tiếp nhận ý chí của N nên chuẩn bị hung khí là cây sắt, điều khiển xe môtô đi. Khi gặp anh D1 và anh H, V dùng gậy sắt đánh về phía anh D1 trúng vào đầu làm anh D1 ngã từ trên xe máy xuống bên lề đường. Ngay lúc đó N và N1 đuổi tới nơi, mặc dù biết anh D1 vừa bị đánh ngã xuống đường, không còn khả năng chống đỡ nhưng N vẫn lao vào dùng tay chân đấm, đá nhiều cái vào người anh D1. N1 cũng lao vào đánh anh H, đồng thời dùng chân đá vào người anh D1. Anh D2 được mọi người đưa đi cấp cứu. Hậu quả: anh D2 bị tổn thương cơ thể 42% sức khỏe. Xét án sơ thẩm xử bị cáo N về tội “Giết người” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Mai Quý N, Hội đồng xét xử thấy: chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt xảy ra trước đó nhưng bị cáo N đã gọi điện cho các bị cáo V, N1 đến. V đã dùng cây sắt đánh vào đầu anh D2 làm anh D2 ngã từ trên xe máy xuống lề đường. N và N1 tiếp tục dùng tay, chân đấm đá nhiều cái vào vùng trọng yếu trên cơ thể anh D2. Tuy nhiên, hậu quả chết người chưa xảy ra là do có người can ngăn và anh D2 được đưa đi cấp cứu kịp thời nên các bị cáo phạm vào điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo N là đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo, đồng thời xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo N được hưởng quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo N mức án 09 năm tù là dưới xa mức khởi điểm của khung hình phạt, mức án này là không nặng. Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo N cũng như quan điểm bào chữa của các Luật sư; chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.
[3] Do nội dung kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Mai Quý N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[4] Các quyết định khác còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Quý N; giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 21/5/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk đối với bị cáo Mai Quý N.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 15; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: M (chín) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/4/2023, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 30/12/2020 đến ngày 09/02/2021.
2. Về án phí: bị cáo Mai Quý N phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Liên |
Bản án số 465/2024/HS-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về hình sự phúc thẩm (giết người)
- Số bản án: 465/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Giết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Quý N; giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 21/5/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk đối với bị cáo Mai Quý N
