|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 464/2024/HS-PT Ngày: 30- 5- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: ông Phạm Năng Thành
Các Thẩm phán: ông Hoàng Nhật Tân, ông Đinh Quốc Trí
Thư ký phiên toà: ông Đỗ Duy Trung- Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Thu Hương- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 358/2024/TLPT- HS ngày 17/4/2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn S và các bị cáo khác, do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS- ST ngày 07/3/2024 của Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
* Các bị cáo bị kháng nghị:
1. Nguyễn Văn S; sinh năm 1997, tại Nghệ An; nơi cư trú: xóm N, xã M, Y, Nghệ An; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; con bà Nguyễn Thị Q và chưa xác định được bố; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; chưa có vợ, con; chưa có tiền án, tiền sự; bị bắt và tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2023 tại Trại tạm giam số 1- Công an Thành phố H; có mặt.
2. Nguyễn Ngọc T; sinh ngày 07/02/2006, tại Ninh Thuận; khi phạm tội được 17 năm, 02 tháng và 06 ngày tuổi; nơi cư trú: xóm M, xã K, Y, Nghệ An; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; con ông Nguyễn Ngọc C và bà Lê Thị L; gia đình có 02 anh em (bị cáo là con thứ nhất); chưa có vợ, con; chưa có tiền án, tiền sự; bị bắt và tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2023 tại Trại tạm giam số 1- Công an Thành phố H; có mặt.
3. Nguyễn Văn T1; sinh năm 1995, tại Bắc Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn P, xã T, Y, Bắc Ninh; nơi ở: thôn Á, Y, Y, Bắc Ninh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do (thợ mộc); trình độ văn hóa: 09/12; con ông Nguyễn Văn T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T3; gia đình có 02 anh em (bị cáo là con thứ hai); chưa có vợ, con; chưa có tiền án, tiền sự; bị bắt và tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2023 tại Trại tạm giam số 1- Công an Thành phố H; có mặt.
4. Vy Văn Q1; sinh năm 1993, tại Lạng Sơn; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn N, xã L, L, Lạng Sơn; nơi ở: thôn B, xã T, V, Bắc Giang; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do (sửa chữa xe máy); trình độ văn hóa: 12/12; con ông Vy Văn T4 (đã chết) và bà Vy Thị H; gia đình có 04 chị em, (bị cáo là con thứ 3); có vợ là Trần Thị T5 (sinh năm 1994, ly hôn 2023) và có 02 con (sinh năm 2014 và 2016); chưa có tiền án, tiền sự; bị bắt và tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/8/2023 tại Trại tạm giam số 1- Công an Thành phố H; có mặt.
* Những người bào chữa:
- Bà Nguyễn Phương A; trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H; bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn S và Nguyễn Ngọc T; 0833 241 291; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H1; trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H; bào chữa cho bị cáo Vy Văn Q1; 0978 668 387; có mặt.
* Ngoài ra, còn có bị cáo Lường Văn V, những người bị hại (10 người bị hại) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17/8/2023, Công an quận B tiếp nhận đơn trình báo của anh Hoàng Đức Anh T6 về việc bị mất trộm xe máy (biển kiểm soát: 29B2-211.70) vào khoảng 01 giờ ngày 17/8/2023 tại số B đường Đ, phường Đ, B, Hà Nội; hiện đang định vị được chiếc xe trên tại thôn B, xã T, V, Bắc Giang.
Qua điều tra xác định: Vy Văn Q1 và Lường Văn V đã thực hiện hành vi tiêu thụ chiếc xe của anh T6; Q1 và V khai nhận biết rõ xe máy này do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn mua của Nguyễn Văn T1 để bán lại nhằm hưởng tiền chênh lệch; Nguyễn Văn T1 khai nhận thường mua xe máy do phạm tội mà có của Nguyễn Văn S và Nguyễn Ngọc T để bán cho Q1; Nguyễn Văn S và Nguyễn Ngọc T khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy Honda Wave, màu đen-bạc (biển kiểm soát: 29B2-211.70) tại số nhà B đường Đ và 04 vụ trộm cắp xe máy khác trên địa bàn các phường P, phường T (N, Hà Nội); bán 02 xe máy cho Nguyễn Văn T1.
Cơ quan điều tra thu giữ của Vy Văn Q1: 01 chiếc xe mô tô Honda Wave, hiện lắp vỏ màu trắng, không đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA3920NY239077, số máy: JA39E-2736028; 01 chiếc xe mô tô Honda Wave, hiện lắp vỏ màu xanh, không đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA3927NY445786, số máy: JA39E-2874825; 01 chiếc xe mô tô Honda Wave, hiện lắp vỏ màu xanh, không đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA3924NY515568, số máy: JA39E-3146848; 01 chiếc xe mô tô Honda Wave, hiện lắp vỏ màu trắng, không đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA3922NY432993, số máy: JA39E-2857240.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Vy Văn Q1 (thôn B, xã T, V, Bắc Giang), Cơ quan điều tra tiếp tục thu giữ: 01 chiếc xe mô tô Honda Wave, hiện lắp vỏ màu đen, biển kiểm soát: 29L1-831.16, số khung: RLHJA392XMY096024, số máy: JA39E-2213254; và 01 điện thoại di động iPhone XS Max, màu hồng, lắp số thuê bao số: 0345300993, đã qua sử dụng.
Thu giữ của Lường Văn V: 01 điện thoại kiểu dáng iPhone 8 plus màu hồng lắp sim số: 0374775716 và 01 điện thoại kiểu dáng iPhone 5S màu vàng lắp sim số: 0393476292.
Thu giữ của Nguyễn Văn T1: 01 chiếc điện thoại Redmi, lắp sim số thuê bao số: 0366953609, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Thu giữ của Nguyễn Văn S: 01 tuốc nơ vít màu xanh dài khoảng 20cm có chuôi vàng màu xanh hình trụ dài khoảng 10cm, có đầu hình lục giác, mũi nhọn dài khoảng 10cm, đã qua sử dụng; 01 chiếc cờ lê dài khoảng 12cm đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy M20, màu đen, lắp sim số thuê bao số: 0342986545, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Thu giữ của Nguyễn Ngọc T: 01 chiếc điện thoại kiểu dáng Nokia 1280, màu xanh, lắp sim số thuê bao số: 0392149171, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Thu giữ do anh Hoàng Văn D (sinh năm 1984; trú tại: số B, đường Đ, phường Đ, B, Hà Nội) tự nguyện giao nộp: 01 đoạn video trích xuất từ camera của nhà số B, với thời lượng 01 phút 18 giây liên quan đến vụ án trộm cắp tài sản, được lưu giữ trong 01 USB .
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lý Trọng K; nơi ở của Nguyễn Văn T1 tại thôn Á, xã Y, Y, Bắc Ninh; nơi ở của Nguyễn Văn S tại N, xã M, Y, Nghệ An; nơi ở của Nguyễn Ngọc T tại xóm M, xã K, Y, Nghệ An: Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật tài sản gì liên quan đến vụ án.
Kết luận định giá số 730 ngày 21/9/2023 (bút lục 224) kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, biển kiểm soát: 29L1-831.16, số khung: RLHJA392XMY096024, số máy: JA39E2213254 trị giá 12.000.000 đồng. 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng bạc, số khung: RLHJA3922NY432993, số máy: JA39E2857240 trị giá 13.000.000 đồng. 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, số khung: RLHJA3927NY445786, số máy: JA39E2874825 trị giá 13.000.000 đồng. Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, số khung: RLHJA3924PY515568, số máy: JA39E3146848 trị giá 14.000.000 đồng.
Kết luận định giá số 752 ngày 27/9/2023 (bút lục 227) kết luận: 01 xe máy Honda Wave, màu trắng, không đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA3920NY239077, số máy: JA39E2736028 trị giá 13.000.000 đồng.
Kết luận định giá số 856 ngày 10/11/2023 (bút lục 258) kết luận: Chiếc xe máy Honda wave màu đen, biển kiểm soát: 23K1- 11687, số khung: RLHHJA3926NY756562, số máy: JA39E2999656 (không thu hồi được vật chứng, có tài sản tương tự) trị giá 14.000.000 đồng. Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát: 18D1-545.66, số khung: 3908HY784818, số máy: JA39E0764987 (không thu hồi được vật chứng, có tài sản tương tự) trị giá 11.000.000 đồng. Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc, biển kiểm soát: 29M1-61904, số khung: 3907HY294807, số máy: JA39E0294856 (không thu hồi được vật chứng, có tài sản tương tự) trị giá 10.000.000 đồng. Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, biển kiểm soát: 36F5-19968, số khung: RLHJA3920NY038702, số máy: JA39E2535194 (không thu hồi được vật chứng, có tài sản tương tự) trị giá 13.000.000 đồng. Chiếc xe máy nhãn Honda Wave, màu trắng đen bạc, biển kiểm soát: 24B2-540.69, số khung: RLHJA3914KY042447, số máy: JA39E0898468 (không thu hồi được vật chứng, có tài sản tương tự) trị giá 13.000.000 đồng.
Kết luận giám định số 6083 ngày 14/9/2023 của Phòng K4- Công an Thành phố H kết luận (bút lục 229): Xe mô tô Honda Wave, màu đen bạc, biển kiểm soát 29L1-831.16, số khung: RLHJA392XMY096024, số máy: JA39E2213254 có số khung, số máy nguyên thủy. Xe mô tô Honda Wave, màu đen- bạc, số khung: RLHJA3920NY239077, số máy: JA39E-2736028 có số khung, số máy nguyên thủy. Xe mô tô Honda Wave, màu trắng bạc, số khung: RLHJA3922NY432993, số máy: JA39E2857240 có số khung, số máy nguyên thủy. Xe mô tô Honda Wave, màu xanh bạc, số khung: RLHJA3927NY445786, số máy: JA39E2874825 có số khung, số máy nguyên thủy. Xe mô tô Honda Wave, màu xanh bạc, số khung: RLHJA3924PY515568, số máy: JA39E3146848 có số khung, số máy nguyên thủy.
Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Văn S và Nguyễn Ngọc T là các đối tượng cùng quê Nghệ An, làm bốc xếp hàng hoá tại bến xe M và hay chơi game Internet. S và T bàn bạc rồi chuẩn bị 01 tuốc nơ vít, 01 cờ lê để đi trộm cắp xe máy, rao bán trong nhóm “Mua ban xe khong giay to Mien Bac” trên mạng xã hội Facebook; bán cho Nguyễn Văn T1 02 chiếc xe trộm cắp được, với giá từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng/xe; bán 03 chiếc xe máy còn lại cho những người không quen biết khác trên mạng. Sau khi mua được 02 xe máy nêu trên, T1 nâng giá thêm 500.000 đồng/xe, đăng trên mạng xã hội Facebook và bán cho Vy Văn Q1 (chủ cửa hàng sửa chữa xe máy Táo quân motor tại thôn B, xã T, V, Bắc Giang); T1 còn mua 03 chiếc xe máy của những người không quen biết khác và cũng bán cho Q1. Sau đó, Q1 đăng bài lên Facebook rao bán lại xe với giá cao hơn từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng/xe. Từ tháng 04 năm 2023 đến ngày 17/8/2023, Nguyễn Văn S và Nguyễn Ngọc T thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn các phường P và T (N), 01 vụ trộm cắp trên địa bàn phường Đ (B) như sau:
Vụ thứ nhất: vào khoảng 01 giờ ngày 13/4/2023, S và T đi bộ quanh khu vực đường L để trộm cắp xe máy. Khi đi qua số nhà B ngõ A đường L (phường T, N, Hà Nội) phát hiện chiếc xe máy Honda Wave, màu đen bạc, biển kiểm soát: 36F5-19968, số khung: RLHJA3920NY038702, số máy: JA39E2535194 của anh Đinh Quang T7 để ở vỉa hè và không có người trông giữ. S dùng tuốc nơ vít mở mặt nạ xe máy, lấy dây điện đấu nối mở khóa điện xe, ngồi lên xe máy cùng T đạp phá khóa cổ xe máy; S đề nổ và điều khiển xe chở T ngồi sau bỏ chạy về khu vực gần bến xe M (không nhớ địa chỉ cụ thể) và bán cho 01 người không quen biết với giá 4.000.000 đồng. S và T chia đôi số tiền trên và tiêu sài cá nhân hết. Hiện chưa thu giữ được chiếc xe trên, anh Đinh Quang T7 yêu cầu bồi thường là 13.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: vào khoảng 01 giờ ngày 16/6/2023, S và T đi bộ quanh khu vực đường L để trộm cắp xe máy. Khi đi qua khu tập thể Đ (phường T, N, Hà Nội), phát hiện chiếc xe máy Honda Wave, màu trắng đen bạc, biển kiểm soát: 29M1-61904, số khung: 3907HY294807, số máy: JA39E0294856 của anh Trần Quốc H2 để ở vỉa hè, không có người trông giữ. S dùng tuốc nơ vít mở mặt nạ xe máy, lấy dây điện đấu nối mở khóa điện của xe, ngồi lên xe máy đề nổ, điều khiển xe chở T ngồi sau bỏ chạy về khu vực gần bến xe M (không nhớ địa chỉ cụ thể), bán cho 01 người không quen biết với giá 4.000.000 đồng. S và T chia đôi số tiền trên và sử dụng vào việc tiêu sài cá nhân hết. Hiện chưa thu giữ được tài sản, anh Trần Quốc H2 yêu cầu bồi thường là 10.000.000 đồng.
Vụ thứ ba: vào khoảng 01 giờ 21/6/2023, S và T đi bộ quanh khu vực phường P để trộm cắp xe máy. Khi đi qua số nhà A đường X (phường P, N, Hà Nội), phát hiện cửa cổng dãy trọ không khóa, không có người trông giữ, không có người qua lại. T đứng ngoài cảnh giới để S đi vào phát hiện chiếc xe Honda Wave, màu trắng đen bạc, biển kiểm soát: 24B2-540.69, số khung: RLHJA3914KY042447, số máy: JA39E0898468 của anh Đặng Ngọc K1 để ở sân dãy trọ, không có người trông giữ. S dùng tuốc nơ vít mở mặt nạ xe máy, lấy dây điện nối mở khóa điện của xe dắt ra ngoài đưa cho T đề nổ xe máy đi ra ngoài đầu ngõ đợi. S tiếp tục quay lại dùng tuốc nơ vít mở mặt nạ chiếc xe máy Honda Wave, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát: 18D1-545.66, số khung: 3908HY784818, số máy: JA39E0764987 của chị Ngô Thị H3 để ở trong sân dãy trọ. Sau khi đấu nối dây điện S nổ máy đi ra đầu ngõ gặp T; mỗi đối tượng điều khiển 01 xe, đi về khu vực gần khu bến xe M (không nhớ địa chỉ cụ thể) và bán cho 01 người không quen biết với giá 9.000.000 đồng. S và T chia đôi số tiền trên và sử dụng vào việc tiêu sài cá nhân hết. Hiện chưa thu giữ được tài sản, anh Đặng Ngọc K1 yêu cầu bồi thường là 13.000.000 đồng, chị Ngô Thị H3 yêu cầu bồi thường là 11.000.000 đồng.
Vụ thứ tư: khoảng 01 giờ ngày 17/8/2023, S cùng T đi bộ lang thang quanh khu vực phường X để trộm cắp tài sản. Khi đi đến số nhà B đường X (phường P, N, Hà Nội), phát hiện nhà đang xây dựng không có cửa cổng rào chắn, gần cửa vào có 01 chiếc xe máy Honda wave màu đen, biển kiểm soát: 23K1- 11687, số khung: RLHHJA3926NY756562, số máy: JA39E2999656 của anh Nông Văn D1 không có người trông giữ nên T ở ngoài cảnh giới; S vào trộm cắp chiếc xe máy trên, dắt ra ngoài; S dùng tuốc nơ vít mở mặt nạ xe máy, đấu dây điện, nổ máy và điều khiển chở T tẩu thoát theo hướng Cầu T.
Khi đi ngang qua số nhà B đường Đ (phường Đ, B) thì phát hiện cửa cuốn mở, bên trong có 01 chiếc xe máy Honda Wave, màu đen- bạc, biển kiểm soát: 29B2-211.70, số khung: RLHJA3920NY239077, số máy: JA39E-2736028 của ông Hoàng Đức Đ (do anh Hoàng Đức Anh T6- con trai ông Đ đi) không có người trông giữ nên S dừng xe lại; T ở bên ngoài cảnh giới; S đi bộ vào trong nhà, dùng tay kéo dây điện ở phía trước, dưới mặt nạ xe máy rồi đấu nối để mở khóa điện, dắt xe ra ngoài; S ngồi lên yên, dùng chân phải đạp phá khóa cổ xe máy, nổ máy và phóng xe cùng T bỏ chạy về hướng cầu T; khi đi lên tầng 1 cầu T, S dừng xe, tháo biển kiểm soát và ném xuống Sông H. Cả hai điều khiển xe máy đến chân cầu vượt S1 (thuộc Y, Bắc Ninh) bán cho Nguyễn Văn T1 cả 02 xe được 9.500.000 đồng.
Sau khi mua 02 xe máy nêu trên, T1 liên lạc và bán lại 02 xe máy cho Vy Văn Q1 với giá là 11.500.000 đồng tại chân cầu vượt S2. Q1 điều khiển 01 xe máy Honda Wave (không biển kiểm soát) đến khu Công nghiệp V (Bắc Giang) bán cho một người không quen biết được 6.500.000 đồng (nên không thu giữ được tài sản). Q1 điều khiển chiếc xe Honda Wave màu đen về cửa hàng T10, cùng Lường Văn V (là thợ sửa xe tại cửa hàng) thay vỏ nhựa xe máy và ổ khóa điện rồi mang đến nhà trọ của Lý Trọng K (thôn C, T, V, Bắc Giang) gửi nhờ và sau đó, Cơ quan điều tra đã thu giữ được tài sản.
Ngoài hành vi tiêu thụ tài sản là 02 xe máy do S và T trộm cắp mà có ngày 17/8/2023 thì T1, Q1 và V còn tiêu thụ 04 xe máy khác của tài khoản Facebook “H4” (không rõ nhân thân lai lịch) cụ thể như sau:
- Vào khoảng chiều tối ngày cuối tháng 07 tháng 2023, “H4” liên hệ với T1 qua mạng Facebook và rao bán chiếc xe máy Honda Wave, màu đen bạc, biển kiểm soát: 29L1-831.16, số khung: RLHJA392XMY096024, số máy: JA39E2213254 (của anh Phan Công T8 bị trộm cắp vào khoảng 12 giờ ngày 22/07/2023 tại trước cửa nhà số B T, N, Đ, Hà Nội); T1 không nhớ mua với giá bao nhiêu tiền và đã bán lại cho Q1 tại chân cầu vượt S2; Quyết chỉ đạo Lường Văn V thay vỏ nhựa từ màu trắng sang màu đen; Cơ quan điều tra đã thu giữ được chiếc xe máy trên.
- Khoảng chiều tối ngày từ 11/8/2023 đến ngày 15/8/2023, T1 đã mua của tài khoản Facebook “H4” 03 chiếc xe máy khác rồi bán lại cho Q1 để hưởng lợi từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng/xe (không nhớ số tiền mua, bán cụ thể); các bên giao nhận xe tại chân cầu vượt S2, cụ thể:
+ 01 chiếc xe máy Honda Wave, màu xanh bạc, biển kiểm soát: 29E2-98418, số khung: RLHJA3924PY515568, số máy: JA39E3146848 (của anh Trần Trung H5 bị trộm cắp vào khoảng 09 giờ ngày 15/8/2023 tại trước cửa nhà số G ngách A H, L, Đ, Hà Nội). Cơ quan điều tra đã thu giữ được chiếc xe máy trên.
+ 01 chiếc xe máy Honda Wave, màu trắng bạc, biển kiểm soát: 29E2-903.20, số khung: RLHJA3922NY432993, số máy: JA39E2857240 (của anh Đỗ Duy A1 bị trộm cắp vào khoảng 13 giờ ngày 11/8/2023 tại trước cửa nhà số I Đê L, N, B, Hà Nội). Cơ quan điều tra đã thu giữ được chiếc xe máy trên.
+ 01 chiếc xe máy Honda Wave, màu xanh bạc, biển kiểm soát: 14Y1-36363, số khung: RLHJA3927NY445786, số máy: JA39E2874825 (của anh Nguyễn Văn H6 bị trộm cắp vào khoảng 13 giờ ngày 15/08/2023 tại trước số nhà A ngách C ngõ C, Ngô Xuân Q2, thị trấn C, G, Hà Nội). Cơ quan điều tra đã thu giữ được chiếc xe máy trên.
Nguyễn Văn S và Nguyễn Ngọc T, mỗi đối tượng hưởng lợi khoảng 13.000.000 đồng. Nguyễn Văn T1, Lường Văn V và Vy Văn Q1 tham gia vào hội mua bán xe máy cũ, không giấy tờ trên mạng xã hội Facebook (hội chuyên buôn bán các loại xe máy không rõ nguồn gốc, xe máy do phạm tội mà có...): khi mua các xe máy thì thấy xe không có giấy tờ, không có chìa khóa, đấu điện nổ và giá rẻ nên biết là tài sản do phạm tội mà có nhưng vì hám lời nên vẫn tiêu thụ; T1 hưởng lợi khoảng 5.000.000 đồng; Q1 được hưởng lợi 1.000.000 đồng; V được trả lương là 3.000.000 đồng/tháng. Lường Văn V khai nhận đến cửa hàng “Moto T” học việc sửa chữa xe máy từ tháng 10 năm 2022; thấy Q1 mang về những chiếc xe Wave, có xe có BKS, có xe không có BKS, đều không chìa khoá và đấu điện nổ nên V biết là xe do phạm tội mà có; đến tháng 08 năm 2023, Q1 mang về khoảng 18 xe, tự làm và không cho Vũ động vào; V có đi cùng Q1 đến chân cầu vượt S1 mua xe 02 lần vào giữa và cuối tháng 07 năm 2023; V giúp sức cho Q1 thay vỏ xe của 02 xe máy vào ngày 17/8/2023.
Đối với 01 xe máy Honda Wave, số khung: RLHJA3920NY239077, số máy: JA39E-2736028: kết quả điều tra xác định là tài sản của ông Hoàng Đức Đ (bố anh Hoàng Đức Anh T6) mua lại của anh Nguyễn Duy K2 hợp pháp; tra cứu xe không có trong dữ liệu cơ sở xe máy vật chứng; anh T6 khai nhận tự ý lấy xe đi mà ông Đ không biết; ông Đ khai nhận để xe tại nhà và T6 tự ý lấy đi. Ngày 14/11/2023, Cơ quan điều tra đã trao trả ông Đ chiếc xe máy này; ông Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.
Đối với anh Hoàng Đức Anh T6: ngày 09/11/2023 (bút lục 566), Công an phường Đ quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo hình thức Cảnh cáo đối với Hoàng Đức Anh T6 về hành vi Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô.
Đối với 01 xe máy Honda Wave, biển kiểm soát: 29L1-831.16, số khung: RLHJA392XMY096024, số máy: JA39E2213254: kết quả điều tra xác định là tài sản của anh Phan Công T8 mua lại của anh Ngô Phương T9 hợp pháp; tra cứu xe không có trong dữ liệu cơ sở xe máy vật chứng. Ngày 14/11/2023, Cơ quan điều tra đã trao trả anh Phan Công T8 chiếc xe máy trên, anh T8 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.
Đối với 01 xe máy Honda Wave, số khung: RLHJA3924PY515568, số máy: JA39E3146848: kết quả điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Trần Trung H5. Ngày 14/11/2023, Cơ quan điều tra đã trao trả anh H5 chiếc xe máy trên; anh H5 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.
Đối với 01 chiếc xe máy Honda Wave, biển kiểm soát: 29E2-903.20, số khung: RLHJA3922NY432993, số máy: JA39E2857240: Cơ quan điều tra- Công an quận B đã ra Quyết định chuyển vật chứng là chiếc xe máy trên cùng hồ sơ liên quan đến Cơ quan điều tra- Công an quận B để tiếp tục điều tra theo Công văn đề nghị cung cấp tài liệu điều tra số 2722 ngày 17/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận B.
Đối với chiếc xe máy Honda Wave, số khung: RLHJA3927NY445786, số máy: JA39E2874825: Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận B đã ra Quyết định chuyển vật chứng là chiếc xe máy trên cùng hồ sơ liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện G để điều tra theo Công văn đề nghị cung cấp tài liệu điều tra số 3948 ngày 17/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện G.
Đối với 02 vụ việc Trộm cắp tài sản trên địa bàn quận Đ: các bị hại là anh Trần Trung H5 và anh Phan Công T8 có đến Công an phường trình báo sự việc; ngày 14/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận B đã ra quyết định tách tài liệu liên quan, chuyển 02 vụ trộm cắp xe máy, xảy ra ngày 15/8/2023 tại trước cửa nhà số G ngách A Huỳnh Thúc K3 và xảy ra ngày 22/7/2023 tại trước cửa nhà số B T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận Đ để điều tra theo thẩm quyền.
Đối với 04 vụ việc trộm cắp tài sản tại các phường P và T (N, Hà Nội): Ngày 09/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận B đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với 04 vụ trộm cắp tài sản trên; ngày 09/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận B quyết định quyết định nhập chung vào vụ án trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có xảy ra ngày 17/8/2023 tại 25 đường Đ, phường Đ, B, Hà Nội theo đề nghị tại Công văn số 2485 ngày 25/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận N nhằm đảm bảo nguyên tắc có lợi cho các bị cáo.
Đối với hành vi Tiêu thụ tài sản của các bị cáo đều giao xe tại chân cầu vượt S thuộc xã L (Y, Bắc Ninh): ngày 30/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh có Công văn số 1211 đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận B tiếp tục giải quyết theo thẩm quyền và theo quy định của pháp luật.
Đối với Lý Trọng K và Hoàng Văn H7: K đã cho Vy Văn Q1 để nhờ xe máy tại phòng trọ, H7 mới đến học việc sửa chữa xe máy và đều không biết nguồn gốc những chiếc xe máy liên quan nêu trên là do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý đối với K và H7.
Đối với “H5” (bán 04 xe máy cho Nguyễn Văn T1): Ngoài lời khai của Nguyễn Văn T1 khai nhận liên lạc qua Facebook, không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh nên đủ căn cứ để Cơ quan điều tra mở rộng điều tra, làm rõ và xử lý đối với đối tượng “Hiếu” nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Đinh Quang T7 yêu cầu bồi thường là 13.000.000 đồng; anh Trần Quốc H2 yêu cầu bồi thường là 10.000.000 đồng; anh Đặng Ngọc K1 yêu cầu bồi thường là 13.000.000 đồng; chị Ngô Thị H3 yêu cầu bồi thường là 11.000.000 đồng; và anh Nông Văn D1 yêu cầu bồi thường là 14.000.000 đồng.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS- ST ngày 07/3/2024, Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S và Nguyễn Ngọc T phạm tội Trộm cắp tài sản; các bị cáo Nguyễn Văn T1 và Vy Văn Q1 phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
+ Áp dụng các điểm b và c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 45 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2023.
+ Áp dụng các điểm b và c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 38, 90, 91 và 101 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2023.
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 323, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 38 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2023; xử phạt bị cáo Vy Văn Q1 38 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2023.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Lường Văn V 15 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự; quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp, các điều kiện thi hành án dân sự, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 07/QĐ- VKSHN, đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “có tính chất chuyên nghiệp” đối với các bị cáo trong vụ án và giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn T1 và Vy Văn Q1.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 07/QĐ- VKSHN ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội, đề nghị Hội đồng xét xử sửa Bản án sơ thẩm và giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; cụ thể như sau:
+ Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 38 và 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 36 tháng đến 40 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
+ Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 38, 58, 91, 98 và 101 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 24 tháng đến 26 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 38 và 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 32 tháng đến 36 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; xử phạt bị cáo Vy Văn Q1 từ 32 tháng đến 36 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
+ Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị và đã có hiệu lực pháp luật nên đề nghị không xem xét.
- Bà Nguyễn Thị H1 (bào chữa cho bị cáo Vy Văn Q1) lập luận: bị cáo Vy Văn Q1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị, sửa Bản án sơ thẩm và xử phạt bị cáo Vy Văn Q1 mức hình phạt thấp hơn quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa; đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
- Bà Nguyễn Phương A (bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn S và Nguyễn Ngọc T) gửi luận cứ bào chữa với nội dung đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về việc các bị cáo S và T đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt và gia đình thuộc hộ nghèo; bị cáo T là người phạm tội dưới 18 tuổi; đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo hưởng mức hình phạt thấp hơn quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và tạo cơ hội cho các bị cáo sửa chữa lỗi lầm, sớm hòa nhập cộng đồng, lao động và học tập để trở thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phù hợp quy định tại các Điều 336 và 337 Bộ luật Tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng nghị nên Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng nghị theo quy định của pháp luật.
[2] Lời khai nhận của các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn T1 và Vy Văn Q1 tại phiên tòa phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của các bị cáo tại cấp sơ thẩm, những người bị hại và những người làm chứng, phù hợp với các vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án- Đủ cơ sở kết luận:
[2.1] Từ tháng 04 năm 2023 đến ngày 17/8/2023, tại địa bàn các quận B và N của Thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn S và Nguyễn Ngọc T đã 04 lần lén lút lấy trộm được 06 chiếc xe máy (bao gồm: 01 xe máy trị giá 13.000.000 đồng của anh Đinh Quang T7; 01 xe máy trị giá 10.000.000 đồng của anh Trần Quốc H2; 01 xe máy trị giá 13.000.000 đồng của anh Đặng Ngọc K1; 01 xe máy trị giá 11.000.000 đồng của chị Ngô Thị H3; 01 xe máy trị giá 14.000.000 đồng của anh Nông Văn D1 và 01 xe máy trị giá 13.000.000 đồng của ông Hoàng Đức Đ), với tổng trị giá tài sản đã chiếm đoạt là 74.000.000 đồng.
[2.2] Sau đó, Nguyễn Văn S và Nguyễn Ngọc T bán 02 chiếc xe máy đã trộm cắp được của anh Nông Văn D1 và ông Hoàng Đức Đ cho Nguyễn Văn T1 với giá là 9.500.000 đồng; S và T bán 04 chiếc xe máy còn lại cho các đối tượng khác (nên không thu giữ được vật chứng); S và T, mỗi đối tượng được hưởng lợi khoảng 13.000.000 đồng và đã chi tiêu hết cho bản thân.
[2.3] Nguyễn Văn T1 biết rõ 02 chiếc xe máy do Nguyễn Văn S và Nguyễn Ngọc T phạm tội mà có nhưng T1 vẫn mua với giá 9.500.000 đồng rồi bán lại bán lại cho Vy Văn Q1 với giá 11.500.000 đồng; Q1 biết rõ 02 chiếc xe máy này do phạm tội mà có nhưng vẫn cố ý mua rồi bán lại cho người khác nhằm hưởng lợi bất chính. Ngoài ra, từ tháng 07 năm 2023 đến ngày 15/08/2023, T1 đã mua của đối tượng “Hiếu” 04 chiếc xe máy khác, đều là tài sản do phạm tội mà có rồi bán lại cho Q1. Sau khi mua được các xe máy của T1, Vy Văn Q1 mang xe về cửa hàng sửa chữa xe máy của mình (cửa hàng T10; địa chỉ: thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang) rồi cùng Lường Văn V sửa chữa, thay thế phụ tùng và bán lại cho các đối tượng khác. Tổng cộng, Nguyễn Văn T1 và Vy Văn Q1 đã tiêu thụ 06 chiếc xe máy do phạm tội mà có, với tổng trị giá tài sản là 79.000.000 đồng, T1 đã hưởng lợi là 5.000.000 đồng và Q1 đã hưởng lợi là 1.000.000 đồng.
[2.4] Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn S và Nguyễn Ngọc T đã phạm tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T1 và Vy Văn Q1 đã phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự; Bản án sơ thẩm đã quy kết các bị cáo theo các tội danh đã viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo S, T, T1 và Q1 đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân và đồng phạm, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
[3] Trong đồng phạm về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo Nguyễn Văn S là đối tượng chỉ huy, tích cực và chủ động thực hành hành vi phạm tội, là người trưởng thành và có đầy đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi nên bị cáo S có vai trò chính và chịu trách nhiệm cao nhất trong đồng phạm; bị cáo Nguyễn Ngọc T tích cực thực hành hành vi phạm tội, là người dưới 18 tuổi phạm tội nên bị cáo T có vai trò thấp hơn trong đồng phạm. Các bị cáo Nguyễn Văn T1 và Vy Văn Q1 có vai trò ngang nhau trong đồng phạm về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, đều tích cực thực hành hành vi phạm tội nhằm thu lợi bất chính. Các bị cáo S, T, T1 và Q1 đều “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; các bị cáo đều “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “có nhân thân tốt” và “là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn” là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bản án sơ thẩm đã đánh giá, xem xét và áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo trong vụ án.
[4] Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa thể hiện các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn T1 và Vy Văn Q1 đều có việc làm và thu nhập ổn định; các bị cáo đều phạm tội nhiều lần nhưng chưa đủ căn cứ chứng minh các bị cáo đã sử dụng tài sản có được từ việc phạm tội để làm nguồn thu nhập chính; nên hành vi của các bị cáo chưa thỏa mãn dấu hiệu “có tính chất chuyên nghiệp” là tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 và điểm b khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Quyết định kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị không áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “có tính chất chuyên nghiệp” đối với các bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị; Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội trình bày tại phiên tòa phúc thẩm, sửa Bản án sơ thẩm về điều luật áp dụng và giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo; đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Các bị cáo không kháng cáo nên đều không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị quyết về án phí.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 07/QĐ- VKSHN ngày 08/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội và sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS- ST ngày 07/3/2024 của Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội đối với các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn T1 và Vy Văn Q1; cụ thể như sau:
* Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 38 và 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 40 (bốn mươi) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/10/2023.
* Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 38, 58, 91, 98 và 101 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/10/2023.
* Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 38 và 58 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 32 (ba mươi hai) tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/10/2023.
- Xử phạt bị cáo Vy Văn Q1 32 (ba mươi hai) tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/8/2023.
2. Các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn T1 và Vy Văn Q1 đều không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Lường Văn V; về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp, án phí sơ thẩm và các điều kiện thi hành án dân sự không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM NĂNG THÀNH |
Bản án số 464/2024/HS-PT ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 464/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn S & ĐP
