|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 464/2023/DS-PT
Ngày: 27-12-2023
V/v tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
| Các Thẩm phán: | Bà Trịnh Thị Phúc |
| Ông Đặng Văn Những |
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 13 tháng 11, ngày 20 tháng 12 và ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 261/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2023/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 627/2023/QĐ-PT ngày 02 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm 1967.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1972.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị N1, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Trần Hữu T, sinh năm 1971. Địa chỉ: Số A, khu phố T, phường E, thành phố T, tỉnh Long An (văn bản ủy quyền ngày 10 tháng 7 năm 2023).
Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Minh H.
(Các đương sự có mặt; Bà N1 có đơn xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 09/02/2023 và lời khai tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Văn N trình bày như sau:
Giữa ông và ông H có mối quan hệ là bạn bè thân thiết. Vào năm 2018, ông có nhận thầu công làm nhà ở cấp 4 cho vợ chồng ông Nguyễn Minh H, bà Ngô Thị N1 và hai bên thỏa thuận tiền công làm nhà với đơn giá là 1.200.000 đồng/m2.
Sau khi hai bên thỏa thuận thống nhất về tiền công, ông đã đưa nhóm thợ do ông quản lý đến xây dựng nhà ở cho vợ chồng ông H, bà N1. Trong quá trình xây dựng nhà, vợ chồng ông H, bà N1 thay đổi ý kiến không làm nhà cấp 4 nữa mà làm sang kiểu nhà mái thái nên ông yêu cầu thỏa thuận lại tiền công làm nhà thì ông H đề nghị ông làm nhà đến khi hoàn thiện thì ông H sẽ trả tiền công luôn một lần.
Đến khi làm nhà xong và ông bàn giao nhà vào ngày 29/12/2018 thì vợ chồng ông H, bà N1 còn nợ lại ông số tiền công làm nhà là 657.000.000 đồng. Do chưa có tiền để thanh toán cho ông nên ông H có viết giấy nhận nợ với ông số tiền 657.000.000 đồng và trong giấy nhận nợ ông H có hứa trả thêm cho ông số tiền 100.000.000 đồng để bù lỗ vì đã chậm trả tiền công và hẹn đến ngày 30/02/2020 (ÂL) là hoàn tất số nợ 757.000.000 đồng. Nhưng khi đến hạn trả nợ, vợ chồng ông H, bà N1 không thanh toán tiền nên ông có đến gặp vợ chồng ông H, bà N1 để đòi tiền nhiều lần nhưng vợ chồng ông H, bà N1 cứ hứa hẹn hoài không trả.
Do đó, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông H, bà N1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho ông số tiền công xây dựng nhà ở còn nợ là 757.000.000 đồng.
Bị đơn ông Nguyễn Minh H trình bày như sau:
Vào năm 2018 khi ông cất nhà ở thì có thuê nhóm thợ do ông N quản lý đến thi công xây dựng nhà. Do là chỗ bạn bè thân thiết nên ông có đề nghị ông N làm cho đến khi hoàn thiện căn nhà sẽ thanh toán tiền công một lần và ông N cũng đồng ý làm nhà cho ông. Đến ngày 29/12/2018 (ÂL) khi ông N bàn giao nhà thì ông có ký giấy nhận nợ với ông N số tiền công làm nhà là 657.000.000 đồng đồng thời ông có hứa trả thêm cho ông N 100.000.000 đồng để bù lỗ cho việc chậm thanh toán tiền công, tổng cộng ông nợ của ông N số tiền công làm nhà là 757.000.000 đồng. Tuy nhiên trong quá trình từ năm 2018 đến nay ông đã trả tiền cho ông N nhiều lần tổng cộng số tiền là 550.000.000 đồng nhưng ông không yêu cầu ông N khấu trừ tiền đã trả vào trong giấy nhận nợ và ngoài các đoạn ghi âm ông đã nộp cho Tòa án thì ông không có chứng cứ nào khác chứng minh cho việc đã trả nợ tiền công làm nhà. Nay ông N khởi kiện yêu cầu ông trả tiền công làm nhà số tiền 657.000.000 đồng và trả số tiền 100.000.000 đồng mà ông đã hứa hỗ trợ thêm thì ông đồng ý trả nợ nhưng ông yêu cầu được khấu trừ số tiền 550.000.000 đồng mà ông đã trả cho ông N và ông chỉ phải trả tiếp cho ông N số tiền còn nợ lại là 207.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị N1 trình bày:
Vợ chồng bà có nợ tiền công làm nhà của ông N số tiền 657.000.000 đồng và chồng bà là ông Nguyễn Minh H có hứa hỗ trợ thêm cho ông N số tiền 100.000.000 đồng. Nhưng trong thời gian từ năm 2018 đến nay chồng bà đã trả tiền cho ông N nhiều lần tổng cộng số tiền là 550.000.000 đồng nên nay ông N khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà trả tiền công làm nhà số tiền 757.000.000 đồng thì bà đồng ý chịu trách nhiệm liên đới với ông H trả nợ nhưng bà yêu cầu khấu trừ số tiền 550.000.000 đồng mà ông H đã trả và vợ chồng bà chỉ phải trả tiếp cho ông N số tiền nợ còn lại là 207.000.000 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2023/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An đã căn cứ các Điều 26; Điều 35; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 513, Điều 515, Điều 519 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn N về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” đối với ông Nguyễn Minh H.
Buộc ông Nguyễn Minh H và bà Ngô Thị N1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho ông Lê Văn N số tiền 757.000.000 đồng (Bảy trăm năm mươi bảy triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
Về án phí: Ông Nguyễn Minh H, bà Ngô Thị N1 phải chịu trách nhiệm liên đới nộp 34.280.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
H1 lại cho ông Lê Văn N 17.140.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại biên lai thu số 0004989 ngày 13/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn về quyền và nghĩa vụ thi hành án của đương sự.
Ngày 10/7/2023 ông Nguyễn Minh H kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa bản án dân sự sơ thẩm, ông chỉ đồng ý trả cho ông N số tiền còn nợ là 207.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, ông H không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.
Ông Lê Văn N là nguyên đơn trình bày: Ông không đồng ý kháng cáo của bị đơn, yêu cầu ông H và bà N1 phải trả số tiền 757.000.000 đồng theo bản án dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Minh H là bị đơn trình bày: Trong thời gian xây nhà, ông đã tạm ứng cho ông N số tiền 550.000.000 đồng, ông không có vay tiền ông N nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm, ông đồng ý trả cho ông N số tiền còn nợ là 207.000.000 đồng.
Ông Trần Hữu T là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn thống nhất lời trình bày của ông Nguyễn Minh H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của ông Nguyễn Minh H đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.
Về yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Minh H:
Căn cứ theo lời trình bày trong hồ sơ, ông Nguyễn Minh H kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm cải sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác một phần yêu cầu khởi kiện của ông N. Thấy rằng vợ chồng ông H bà N1 thừa nhận có nợ tiền công xây dựng nhà ở của ông N tổng cộng là 757.000.000 đồng và cũng đồng ý chịu trách nhiệm liên đới trả nợ cho ông N. Ông H có trình bày, từ năm 2018 ông H có trả tiền nhiều lần cho ông N được tổng cộng 550.000.000 đồng việc trả tiền nhiều lần này không có ký giấy tờ với nhau. Tại phiên toà sơ thẩm phía ông H cung cấp đoạn ghi âm để chứng minh việc trả tiền này nhưng cấp sơ thẩm xem xét lại nội dung trong các đoạn ghi âm, ông N xác nhận ông H có trả được hơn 500.000.000 đồng cho ông N nhưng không có nội dung nào đề cập đến khoản nợ tiền công làm nhà, thấy rằng đây là chứng cứ quan trọng trong vụ án.
Ngày 20/12/2023 Toà án tỉnh Long An đã công bố bản lược âm và cho hai bên đối chất. Kết quả: Nguyên đơn ông N thừa nhận giọng nói của mình, trong đó có thể hiện nhận của ông H “năm trăm năm trăm mấy mà ..”. Ông N xác định có nhận nhưng cho rằng số tiền đó là tiền ông H kêu ông vay dùm và ông đã trả cho người ta. Tuy nhiên ông H không thừa nhận việc này bản thân ông N cũng không có căn cứ chứng minh. Hơn nữa việc vay tiền và hợp đồng dịch vụ xây dựng phía ông H chỉ đồng ý có thuê ông N xây nhà và có ghi giấy còn thiếu là 757.000.000 đồng. Phía ông N thừa nhận trong bản ghi âm nên có căn cứ xác định ông H đã trả là 500.000.000 đồng, khấu trừ số tiền đã trả 500.000.000 đồng nên số tiền ông H phải trả thêm cho ông N là 257.000.000 đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Minh H. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Minh H thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Về thủ tục xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị N1 đã được Tòa án triệu tập hợp nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà N1.
- Xét kháng cáo của ông Nguyễn Minh H, thấy rằng:
[3.1] Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự trình bày thống nhất: Vào năm 2018, ông H có thuê ông N làm nhà, hai bên thống nhất tiền công ông N xây dựng nhà ở cho ông H là 657.000.000 đồng và tiền ông H hứa hỗ trợ thêm cho ông N là 100.000.000 đồng, tổng cộng số tiền là 757.000.000 đồng nhưng hai bên không thống nhất số tiền đã trả.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Lê Văn N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Nguyễn Minh H, bà Ngô Thị N1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông số tiền là 757.000.000 đồng. Ông H yêu cầu khấu trừ số tiền 550.000.000 đồng ông H đã trả cho ông N, ông H chỉ đồng ý trả số tiền 207.000.000 đồng.
[3.2] Ông H, bà N1 cho rằng trong thời gian xây nhà và sau khi xây xong, ông bà đã trả tiền cho ông N nhiều lần được tổng cộng số tiền hơn 550.000.000 đồng, ông H không có yêu cầu ông N viết giấy nhận tiền nhưng ông H có cung cấp cho Tòa án nội dung ghi âm thể hiện ông N đã nhận số tiền hơn 500.000.000 đồng.
Tại biên bản đối chất ngày 08/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An: Ông N thừa nhận là giọng nói của ông, ông có nhận số tiền hơn 500.000.000 đồng nhưng tiền này không phải là tiền ông H trả tiền xây nhà mà là trả tiền ông H nhờ ông N đi vay của người khác tổng cộng 250.000.000 đồng (một lần 100.000.000 đồng có giấy nợ, một lần 70.000.000 đồng và một lần 80.000.000 đồng không có giấy nợ).
[3.3] Thấy rằng, trong nội dung các cuộc hội thoại và tại phiên tòa phúc thẩm ông N thừa nhận ông H có trả tiền cho ông N được hơn 500.000.000 đồng, mặc dù nội dung ghi âm không đề cập đến việc số tiền này ông H trả cho khoản nợ tiền công làm nhà, ông N cho rằng ông H trả tiền vay nhưng trong quá trình giải quyết vụ án ông N chỉ cung cấp được giấy vay tiền với số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 04/12/2021, ngoài ra không có giấy nợ nào khác, ông H cũng không thừa nhận việc vay tiền như ông N trình bày nên việc ông N cho rằng số tiền 500.000.000 đồng ông H trả tiền vay là không phù hợp, vì vậy có căn cứ xác định số tiền ông H đã trả là trả tiền xây nhà. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng nội dung ghi âm không thể hiện việc ông H trả tiền xây nhà cho ông N nên không đồng ý khấu trừ số tiền ông H đã trả là chưa phù hợp.
- Ông H yêu cầu cấn trừ số tiền đã trả 550.000.000 đồng, nhưng trong các nội dung ghi âm chỉ có thể hiện ông N thừa nhận nhận hơn 500.000.000 đồng, không có chứng cứ nào thể hiện ông N đã nhận số tiền 550.000.000 đồng nên thấy kháng cáo của ông H có phần phù hợp, Hội đồng xet xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông H, khấu trừ số tiền 500.000.000 đồng ông H đã trả, buộc vợ chồng ông H, bà N1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông N số tiền công xây dựng nhà ở còn nợ là 257.000.000 đồng.
- Đối với việc ông N cho rằng ông H có nhờ ông vay tiền của người khác số tiền 250.000.000 đồng thì ông N được quyền khởi kiện giải quyết bằng một vụ án khác.
- Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không phù hợp, nên cần sửa bản án dân sự sơ thẩm.
- Xét kháng cáo của ông Nguyễn Minh H có phần phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Minh H là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Minh H, bà Ngô Thị N1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của ông N được Tòa án chấp nhận, cụ thể: 257.000.000 đồng x 5% = 12.850.000 đồng.
Ông Lê Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận, cụ thể: 500.000.000 đồng = 20.000.000 đồng + (4% x 100.000.000 đồng) = 24.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Nguyễn Minh H được chấp nhận nên ông H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Minh H.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2023/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Căn cứ các Điều 26; Điều 35; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 513, Điều 515, Điều 519 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn N đối với ông Nguyễn Minh H, bà Ngô Thị N1 về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn N về việc yêu cầu ông Nguyễn Minh H, bà Ngô Thị N1 phải trả số tiền xây nhà là 500.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Minh H, bà Ngô Thị N1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 12.850.000 đồng.
Ông Lê Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 24.000.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.140.000 đồng theo biên lai thu số 0004989 ngày 13/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Ông Lê Văn N phải nộp tiếp số tiền 6.860.000 đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Minh H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Minh H số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0005731 ngày 10 tháng 7 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Buộc ông Nguyễn Minh H và bà Ngô Thị N1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho ông Lê Văn N số tiền xây nhà còn nợ là 257.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi bảy triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 464/2023/DS-PT ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Số bản án: 464/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
