|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 464/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05-11-2024
V/v ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quang Minh
Ông Huỳnh Văn Tới
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Linh. Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Trần Hồng Cẩm – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 761/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXX-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị N. Sinh năm: 1998 (Có mặt).
- Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Tô Văn C – Chi nhánh C3 - Công ty luật Đất Mũi, thuộc Đoàn luật sư tỉnh C (Có mặt).
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Hùng N1. Sinh năm: 1986 (Xin vắng).
- Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Phạm Huy Đ – Luật sư của văn Phòng luật sư Nguyễn Văn M thuộc Đoàn luật sư tỉnh C (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Lê Văn T. Sinh năm: 1964 (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- - Bà Đào Thị Kim L (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- - Bà Lê Thị Ánh H, sinh năm 1963 (Có mặt).
- Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- - Ông Trần Văn C1 (Trần Minh C2), sinh năm 1970 (Xin vắng).
- Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- - Bà Phan Thúy L1, sinh năm 1979 (Xin vắng).
- Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 11 năm 2022, trong quá trình giải quyết vụ án của bà Trần Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Bà Trần Thị N và ông Nguyễn Hùng N1 kết hôn năm 2020, hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T. Do ông N1 cờ bạc, vợ chồng bất đồng quan điểm nhiều vấn đề trong cuộc sống, đã ly thân thời gian dài. Nay bà Trần Thị N yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Hùng N1.
Về con chung: Có 01 con chung, là Nguyễn Trần Ngân T1, sinh ngày 01/5/2022, hiện đang do bà N trực tiếp nuôi, bà N yêu cầu nuôi con, yêu cầu ông N1 cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật, tính từ ngày xét xử sơ thẩm.
Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung gồm:
- 01 nền nhà diện tích ngang 5m, dài 20m, toạ lạc ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau. Đất mua của ông Lê Văn T, do mẹ chồng là Lê Thị Ánh H đứng mua, giá chuyển nhượng là 150.000.000 đồng, bà N đưa tiền cho bà Lê Thị Ánh H, bà H trực tiếp giao dịch với ông T, khi mua ông T chỉ giao giấy mua bán trước từ vợ chồng bà Phan Thúy L1 sang cho ông Lê Văn T. Mua thời gian nào không nhớ chính xác, nguồn tiền là của vợ chồng dành dụm mà có.
- 01 xe SH biển số 69N1 803.01, xe do bà N quản lý.
- Số vàng 15 chỉ vàng 24k; 06 chỉ vàng 18k, ông N1 đang quản lý.
Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là ông Nguyễn Hùng N1 trình bày:
Về hôn nhân: Ông N1 và bà N kết hôn năm 2020, có đăng kí kết hôn tại UBND xã K. Ông N1 là ngư phủ, sau khi “đi biển” về thì bà N đưa con về ngoại ở, không biết nguyên nhân mâu thuẫn là gì, nhưng bà N yêu cầu xin ly hôn với ông N1, nên ông N1 đồng ý ly hôn với bà N.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung, tên Nguyễn Trần Ngân T1, sinh ngày 01/5/2022. Con chung đang do bà N nuôi. Vì bà N có công việc mà trong đó có những mối quan hệ không trong sáng nên ông N1 yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, vợ chồng có các tài sản chung:
- 01 xe SH biển số 69N1 803.01, do ông N1 đứng tên đăng kí xe, xe dùng được vài tháng thì vợ chồng ly thân, xe do bà N quản lý, khi này giá trị xe còn lại khoảng 76.000.000 đồng, xe do bà N sử dụng nên ông N1 đồng ý giao xe cho bà N, bà N phải hoàn lại số tiền 38.000.000 đồng.
- Số vàng, 11 chỉ vàng 24k và 06 chỉ vàng 18k, ông N1 đang quản lý, đồng ý chia đôi. Đối với số vàng 04 chỉ vàng 24k bà N cho rằng của mẹ ruột cho riêng ông N1 không có quản lý. Do đó không đồng ý đối với yêu cầu của bà N về 04 chỉ vàng 24k.
- Đối với phần đất nền nhà bà N cho rằng thông qua bà H nhận chuyển nhượng của ông T là không có, vợ chồng không có tài sản này.
Về nợ chung: Vợ chồng có nợ bà Đào Thị Kim L 100.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ánh H trình bày: Ông N1, bà N là con trai và con dâu của bà H, sống chung nhà. Ông T là em ruột bà H. Khoảng năm 2021, ông T đi làm ăn xa nên gửi bà H quản lý giấy mua bán đất từ vợ chồng bà Phan Thúy L1 sang cho ông Lê Văn T. Do bà N là con dâu sống chung nhà nên bà giao cho bà N cất giữ trong lúc có việc đi khỏi nhà. Giữa bà N và ông N1 phát sinh mâu thuẫn nên bà N bỏ về nhà mẹ ruột và mang theo giấy mua đất của ông T. Không có việc bà H đứng ra giao dịch với ông T để mua đất giùm cho bà N, ông N1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn T trình bày: Vào năm 2019, ông T nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà Phan Thúy L1 01 phần đất diện tích ngang 05m x 20m toạ lạc ấp T, xã P. Khi nhận chuyển nhượng có làm giấy tay. Sau khi chuyển nhượng, gia đình ông T đi làm thuê, do không tiện quản lý tài sản nên ông T gửi lại chị ruột là bà H quản lý “Giấy thoả thuận sang nhượng đất”. Phần đất vẫn là của ông T, bà H phải có trách nhiệm trả lại giấy chuyển nhượng đất cho ông T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thúy L1 trình bày: Vào năm 2019, vợ chồng bà Phan Thúy L1 có chuyển nhượng cho ông T 01 phần đất diện tích ngang 05m x 20m toạ lạc ấp T, xã P. Khi nhận chuyển nhượng có làm giấy tay. Việc chuyển nhượng đã thực hiện xong, giữa vợ chồng bà L1 và ông T không có tranh chấp. Bà L1 không có ý kiến gì liên quan đến phần đất. Bà L1 yêu cầu Toà án xét xử vắng mặt bà L1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn C1 trình bày: Phần đất có tranh chấp liên quan đến vụ án ly hôn giữa bà N và ông N1 do ông C1 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước đây, ông C1 chuyển nhượng cho vợ chồng bà L1, không nhớ chính xác thời gian. Việc vợ chồng bà L1 chuyển nhượng lại cho ông T ông không biết. Do ông C1 đã chuyển nhượng xong nên không có ý kiến gì liên quan đến tranh chấp. Ông C1 yêu cầu Toà án xét xử vụ án vắng mặt ông C1.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Việc phía bị đơn đặt ra bà N có công việc mà trong đó có những mối quan hệ không trong sáng nhưng không có chứng cứ, chứng minh nên đề nghị giao con chung cho bà N nuôi dạy. Về 01 xe SH biển số 69N1 803.01, là tài sản chung của vợ chồng nên chia đôi theo giá trị được định giá. Đối với phần đất, khi ông N1 mượn tiền bà T2, ông D có nói dùng tiền đó để trả tiền mua đất của ông T. Đồng thời, có nói với ông Cao Minh T3 nền nhà đó là của vợ chồng ông N1 nên có căn cứ các định đây là tài sản chung của vợ chồng bà N. Trường hợp, không chấp nhận yêu cầu chia phần đất này của nguyên đơn thì đề nghị chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra vi bà H có hành vi lừa đảo vì đã nhận tiền của bà N nhưng không thừa nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Bà N, ông N1 thống nhất ly hôn. Về con chung theo ông N1, bà N có công việc mà trong đó có những mối quan hệ không trong sáng trong lúc chưa ly hôn nên đề nghị giao con chung cho ông N1 nuôi dạy. Về 01 xe SH biển số 69N1 803.01, xe do bà N quản lý sử dụng nên bà N phải hoàn lại cho ông N1 ½ giá trị tại thời điểm bà N quản lý sử dụng. Về vàng, 11 chỉ vàng 24k và 06 chỉ vàng 18k đề nghị chia đôi. Đối với số vàng 04 chỉ vàng 24k bà N cho rằng của mẹ ruột cho riêng và phần đất bà N cho rằng mua của ông T là không có căn cứ nên đề nghị không chấp yêu cầu này của bà N. Về nợ chung của bà L, đề nghị chia đôi.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng, nguyên đơn đã thực đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của pháp luật; Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của pháp luật, vắng mặt tại phiên toà. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà N được ly hôn với ông N1. Giao cho bà Trần Thị N nuôi dạy cháu Nguyễn Trần Ngân T1. Ông Nguyễn Hùng N1 phải cấp dưỡng nuôi con theo quy đinh. Giao cho bà N tiếp tục quản sử dụng 01 xe SH biển số 69N1 803.01, bà N có trách nhiệm hoàn lại cho ông N1 ½ trị giá xe là 20.000.000 đồng. Chia cho bà Trần Thị N, ông Nguyễn Hùng N1 mỗi người 5,5 chỉ vàng 24k và 03 chỉ vàng 18k. Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị N về việc yêu cầu chia tài sản chung là đất. Các đương sự phải chịu chi phí tố tụng, án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Trần Thị N với ông Nguyễn Hùng N1 là tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; bị đơn là ông Nguyễn Hùng N1 có nơi cư trú tại huyện T nên bà N khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với việc vắng mặt của ông Lê Văn T, bà Đào Thị Kim L, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông T, bà L vẫn vắng mặt tại phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông T, bà L theo quy định. Đối với việc đề nghị vắng mặt của ông Trần Hùng N2, bà Phan Thúy L1, ông Trần Văn C1 (Trần Minh C2), Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Hùng N2, bà Phan Thúy L1, ông Trần Văn C1 (Trần Minh C2) theo quy định.
[2] Về hôn nhân: Bà Trần Thị N và ông Nguyễn Hùng N1 xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2020, có đăng ký kết hôn và đủ điều kiện kết hôn theo luật định nên hôn nhân được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Tuy nhiên, bà N cho rằng do ông N1 cờ bạc, bất đồng quan điểm, hôn nhân không còn hạnh phúc, nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông N1. Về phía ông N1, mặc dù ông N1 xác định vợ chồng không có mâu thuẫn, nhưng thời gian ly thân đã lâu nên cũng thống nhất ly hôn với bà N. Từ đó, Hội đồng xét xử thấy rằng, mối quan hệ hôn nhân giữa bà N, ông N1 không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Trần Thị N ly hôn với ông Nguyễn Hùng N1.
[3] Về con chung: Bà N, ông N1 đều có nguyện vọng được nuôi con chung. Ông N1 cho rằng, công việc bà N đang làm có vi phạm về mặt đạo đức nên không đồng ý giao con chung cho bà N nuôi, nhưng ông N1 không có tài liệu, chứng cứ đủ để chứng minh cho trình bày của mình. Xét thấy, cháu Nguyễn Trần Ngân T1, sinh ngày 01/5/2022, hiện đang do bà N trực tiếp nuôi, cháu chưa đủ 36 tháng tuổi, đang sống ổn định cùng bà N. Do đó, giao cháu T1 cho bà N nuôi dạy là phù hợp.
Bà Trần Thị N yêu cầu ông N1 cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Người không trực tiếp nuôi con phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con, yêu cầu của bà N đặt ra là phù hợp nên được chấp nhận.
[4] Về tài sản chung:
- - 01 xe SH biển số 69N1 803.01, theo chứng thư thẩm định giá xác định giá trị còn lại của xe tại thời điểm định giá là 40.000.000 đồng. Việc ông N1 và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông N1 đặt ra, bà N quản lý sử dụng xe từ thời điểm ly thân, thời gian đã lâu, đề nghị tính giá trị của xe từ thởi điểm bà N quản lý để chia cho vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù bà N, ông N1 đã ly thân nhưng xe vẫn là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, việc vợ hoặc chồng quản lý đều phù hợp. Đồng thời, từ khi ly thân, cháu T1 do bà N nuôi dạy, bà N quản lý xe vẫn có phục vụ sinh hoạt cho cháu T1 khi cần thiết. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận giá trị xe ở thời điểm định giá. Mặc dù ông N1 đứng tên đăng kí xe, nhưng xe do bà N quản lý sử dụng thời gian dài nên giao cho bà N tiếp tục quản lý sử dụng, bà N có trách nhiệm hoàn lại cho ông N1 ½ trị giá xe là 20.000.000 đồng.
- - Đối với số vàng, ông N1 xác định vợ chồng có 11 chỉ vàng 24k và 06 chỉ vàng 18k là vàng cho trong ngày cưới, ông N1 đang quản lý. Bà N cho rằng vợ chồng có 11 chỉ vàng 24k và 06 chỉ vàng 18k là số vàng như ông N1 trình bày, thêm 04 chỉ vàng 24k là của mẹ ruột là bà Trương Thị Ánh T4 cho trong ngày cưới. Tại phiên toà, bà N thừa nhận vàng cưới sau khi cưới do bà N quản lý sau đó bà N giao lại cho ông N1 quản lý toàn bộ. Tuy nhiên, bà N không có chứng cứ gì chứng minh cho việc có giao 04 chỉ vàng 24k bà Á cho để ông N1 quản lý. Về phía ông N1 xác định chỉ quản lý 11 chỉ vàng 24k và 06 chỉ vàng 18k và không yêu cầu chia 04 chỉ vàng mà bà Á tặng cho nên xác định tài sản là vàng của chung vợ chồng bà N, ông N1 là 11 chỉ vàng 24k và 06 chỉ vàng 18k. Do ông N1 đang quản lý, nên có trách nhiệm giao lại cho bà N 5,5 chỉ vàng 24k và 03 chỉ vàng 18k.
- Đối với 01 nền nhà diện tích ngang 5m, dài 20m, toạ lạc ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau. Bà N cho rằng, đất mua của ông Lê Văn T, do mẹ chồng là Lê Thị Ánh H mua giùm, khi mua không làm hợp đồng, chỉ nhận giấy thoả thuận sang nhượng ngày 20/3/2019 từ chủ đất cũ. Tuy nhiên, ông T, bà H, ông N1 đều xác định không có việc này. Bà N không chứng minh được giữa bà N, ông N1 với ông T có giao dịch chuyển nhượng đất đai hay thanh toán tiền. Việc bà N quản lý giấy thoả thuận sang nhượng ngày 20/3/2019 và ông D, bà T2 xác nhận khi bà N, ông N1 mượn tiền có nói là dùng vào việc mua đất của ông T không đủ cơ sở chứng minh giữa các đương sự có thực hiện giao dịch chuyển nhượng.
- Tại phiên toà, phía nguyên đơn cho rằng bà H có nhờ ông Cao Minh T3 bán giùm phần đất mà bà H mua giùm của ông T cho bà N, ông N1. Hội đồng xét xử xét thấy, trường hợp thực tế bà H có nhờ ông T3 bán đất như phía nguyên đơn trình bày cũng không đủ cơ sở để xác định ông T có chuyển nhượng phần đất này cho bà N, ông N1. Trường hợp, phía bà N cho rằng bà H có hành vi lừa đảo vì đã nhận tiền của bà N nhưng không thừa nhận thì có thể yêu cầu giải quyết ở vụ việc khác đối với bà H.
[5] Về nợ chung: Bà N xác định không có nợ chung, ông N1 xác định vợ chồng có nợ bà Đào Thị Kim L 100.000.000 đồng. Toà án đã có thông báo để bà L thực hiện quyền khởi kiện độc lập trong vụ án nhưng bà L không có yêu cầu nên tách ra giải quyết bằng vụ kiện khác, nếu có tranh chấp.
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 400.000 đồng; chi phí đo đạc số tiền 4.294.000 đồng; chi phí định giá tài sản là đất số tiền 7.000.000 đồng; chi phí định giá tài sản là xe số tiền 5.000.000 đồng. Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá đối với phần đất do yêu cầu của bà N không được chấp nhận nên bà N phải chịu. Đối với chi phí định giá xe, bà N, ông N1 mỗi người chịu ½.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, án phí đối với tài sản được chia. Bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con. (Giá vàng được áp dụng để tính án phí là 8.530.000 đồng/chỉ vàng 24k, 5.580.000 đồng/chỉ vàng 18k)
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị N và ông Nguyễn Hùng N1.
- Giao cho bà Trần Thị N nuôi dạy cháu Nguyễn Trần Ngân T1, sinh ngày 01/5/2022. Ông Nguyễn Hùng N1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 05/11/2024 đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi.
- Giao cho bà N tiếp tục quản lý sử dụng 01 xe SH biển số 69N1 803.01, bà N có trách nhiệm hoàn lại cho ông N1 ½ trị giá xe là 20.000.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị N về việc yêu cầu chia phần đất diện tích 97m², toạ lạc ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị N phải chịu số tiền 14.194.000 đồng, đã nộp xong. Ông Nguyễn Hùng N1 phải chịu số tiền 2.500.000 đồng, bà N đã dự nộp xong, nên ông Nguyễn Hùng N1 có trách nhiệm thanh toán cho bà Trần Thị N số tiền 2.500.000 đồng.
- Đối với các khoản tiền, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong khoản tiền phải thanh toán thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, bà Trần Thị N phải chịu 4.258.000 đồng. Ngày 05 tháng 12 năm 2022, bà Trần Thị N đã nộp tạm ứng án phí 4.506.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005829 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, được đối trừ, dư được trả lại. Ông Nguyễn Hùng N1 phải chịu 4.558.000 đồng, chưa nộp.
Chia cho bà Trần Thị N, ông Nguyễn Hùng N1 mỗi người 5,5 chỉ vàng 24k và 03 chỉ vàng 18k. Số vàng ông N1 đang quản lý nên có trách nhiệm giao cho bà N.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, đương sự có mặt tính từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thị Huệ |
Bản án số 464/2024/HNGĐ-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về ly hôn
- Số bản án: 464/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
