Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 464/2024/DS-ST

Ngày: 30/9/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Xuân Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Huế
  2. Ông Nguyễn Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức – Là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Trần Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 331/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 559/2024/QĐXXST-DS ngày 26/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 307/2024/QÐST-DS ngày 13/9/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ1.

Địa chỉ trụ sở: 194 đường T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C hoặc bà Dương Thị Hải L (Giấy ủy quyền số 445 ngày 21/5/2024).

(Ông C, bà L đều có đơn xin xét xử vắng mặt).

Cùng địa chỉ liên hệ: 456 đường B, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Vũ Quốc T, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Địa chỉ: 3 ấp F, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Ngày 11/8/2022, Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh B (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và ông Vũ Quốc T có ký Hợp đồng tín dụng số 697/2022/17879894/HĐTD. Theo hợp đồng, Ngân hàng cho ông Vũ Quốc T vay 3.000.000.000 đồng để thanh toán tiền nhận chuyển nhượng bất động sản. Lãi suất cho vay áp dụng cho 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân đầu tiên là 8,6%/năm. Sau đó, lãi suất cho vay được điều chỉnh theo lãi suất tiết kiệm trả sau VND kỳ hạn 12 tháng niêm yết tại B1 cộng với biên độ là 4%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; lãi chậm trả là 10%/năm. Thời hạn vay là 360 tháng kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng. Việc trả nợ gốc và lãi được phân chia theo 360 kỳ (mỗi kỳ là 01 tháng), trả vào ngày 25 hàng tháng.

Để đảm bảo cho khoản vay ngày 11/8/2022, Ngân hàng và ông Vũ Quốc T đã ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản số 698/2022/17879894/HĐTC. Theo hợp đồng, ông Vũ Quốc T thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (do ông T là chủ sử dụng, chủ sở hữu) tại thửa đất số 90, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CO545505, số vào sổ cấp GCN: CS18829 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 11/6/2019).

Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân đầy đủ số tiền vay cho ông Vũ Quốc T. Tuy nhiên, ông Vũ Quốc T không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Quá trình vay, ông T mới trả cho Ngân hàng được 37.661.485 đồng gồm: Gốc 8.333.000 đồng, lãi 28.980.822 đồng, lãi chậm trả 347.663 đồng. Ngân hàng nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở nhưng ông T vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng đã khởi kiện ông Vũ Quốc T để thu hồi nợ.

Ngân hàng yêu cầu ông Vũ Quốc T phải trả cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 30/9/2024 là 3.581.426.573 đồng gồm: Tiền vốn gốc 2.991.667.000 đồng; tiền lãi 539.499.672 đồng; tiền lãi chậm trả 50.259.901 đồng. Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, ông Vũ Quốc T còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 697/2022/17879894/HĐTD ngày 11/8/2022.

Trường hợp ông Vũ Quốc T không trả hoặc trả không đầy đủ khoản nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 90, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CO545505, số vào sổ cấp GCN: CS18829 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 11/6/2019), theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 698/2022/17879894/HĐTC ngày 11/8/2022 để thu hồi nợ.

Ngân hàng xác định khoản nợ vay nêu trên là của cá nhân ông Vũ Quốc T đối với Ngân hàng nên Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân ông Vũ Quốc T trả nợ cho Ngân hàng.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Vũ Quốc T đều vắng mặt nên không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm hiện nay, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là vi phạm Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng TMCP Đ1 khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Vũ Quốc T trả nợ vay, đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo Công văn số 444/CV-BIDV.BTH ngày 21/5/2024 của Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh B, nguyên đơn đã lựa chọn Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vụ án. Xét việc lựa chọn thẩm quyền giải quyết vụ án của nguyên đơn là phù hợp với khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Vũ Quốc T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án nhưng ông T không cung cấp chứng cứ, không đến Tòa án làm bản khai để phản bác yêu cầu của nguyên đơn, từ bỏ quyền lợi hợp pháp của mình. Do đó, Tòa án căn cứ vào các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án. Mặt khác, ông T vắng mặt tại phiên hòa giải và người đại diện của nguyên đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án không tiến hành hoà giải được vụ án. Tại phiên tòa ngày hôm nay, ông T vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét Giấy ủy quyền của ông Trịnh Anh Đ (Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh B) ủy quyền cho ông Nguyễn Văn C hoặc bà Dương Thị Hải L tham gia tố tụng giải quyết vụ án là hợp lệ, được Tòa án chấp nhận.

[2] Về yêu cầu của nguyên đơn: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 697/2022/17879894/HĐTD ngày 11/8/2022, do nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy, giao dịch vay tài sản giữa Ngân hàng và ông Vũ Quốc T là loại vay có thời hạn và có biện pháp bảo đảm. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Vũ Quốc T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng được quyền khởi kiện đối với ông Vũ Quốc T để thu hồi nợ.

[2.1] Xét yêu cầu về khoản nợ gốc: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 697/2022/17879894/HĐTD ngày 11/8/2022 và Bảng kê rút vốn hợp đồng tín dụng cụ thể ngày 11/8/2022, Hội đồng xét xử có cơ sở để khẳng định Ngân hàng TMCP Đ1 có cho ông Vũ Quốc T vay 3.000.000.000 đồng. Theo các bản khai và bảng kê do Ngân hàng cung cấp cho thấy ông T có trả cho Ngân hàng được 8.333.000 đồng tiền nợ gốc, tính đến ngày xét xử sơ thẩm ông T còn nợ Ngân hàng 2.991.667.000 đồng tiền nợ gốc. Do đó, Hội đồng xét xử cần buộc ông Vũ Quốc T phải trả cho Ngân hàng khoản tiền nợ gốc còn lại là 2.991.667.000 đồng.

[2.2] Xét yêu cầu về khoản nợ lãi: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 697/2022/17879894/HĐTD ngày 11/8/2022, các bên có thỏa thuận lãi suất cho vay áp dụng cho 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân đầu tiên là 8,6%/năm. Sau đó, lãi suất cho vay được điều chỉnh theo lãi suất tiết kiệm trả sau VND kỳ hạn 12 tháng niêm yết tại B1 cộng với biên độ là 4%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; lãi chậm trả là 10%/năm. Xét thấy, mức lãi suất mà các bên thỏa thuận là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Theo lời khai và bảng kê do Ngân hàng cung cấp, tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 30/9/2024, ông Vũ Quốc T còn nợ Ngân hàng khoản tiền lãi là 539.499.672 đồng và khoản lãi chậm trả là 50.259.901 đồng. Xét thời gian tính lãi và cách tính lãi mà Ngân hàng áp dụng đối với ông Vũ Quốc T không trái với hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết và không trái với Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về khoản nợ lãi, buộc ông Vũ Quốc T phải trả cho Ngân hàng khoản nợ lãi là 539.499.672 đồng và khoản lãi chậm trả là 50.259.901 đồng.

[2.3] Về yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp: Xét thấy để đảm bảo cho khoản vay của ông Vũ Quốc T, ngày 11/8/2022, Ngân hàng và ông Vũ Quốc T đã ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản số 698/2022/17879894/HĐTC. Theo hợp đồng, ông Vũ Quốc T thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (do ông T là chủ sử dụng, chủ sở hữu) tại thửa đất số 90, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CO545505, số vào sổ cấp GCN: CS18829 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 11/6/2019). Theo biên bản về việc xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân Quận 10 cho thấy: Thửa đất số 90, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là thửa đất trống (trên đất không có nhà ở, công trình xây dựng, cây lâu năm).

Xét Hợp đồng thế chấp bất động sản số 698/2022/17879894/HĐTC ngày 11/8/2022 có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật. Hợp đồng được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng này đã phát sinh hiệu lực pháp luật và có giá trị ràng buộc đối với các bên. Xét thấy, ông Vũ Quốc T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Do đó căn cứ vào Hợp đồng thế chấp thì Ngân hàng được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 90, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ.

[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về chi phí tố tụng: Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Do đó, bị đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn 10.000.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà nguyên đơn đã nộp theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 167, Điều 170 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm,

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: Buộc ông Vũ Quốc T phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền 3.581.426.573 đồng (ba tỷ năm trăm tám mươi mốt triệu bốn trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm bảy mươi ba đồng) gồm: Tiền nợ gốc 2.991.667.000 đồng (hai tỷ chín trăm chín mươi mốt triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng); tiền lãi là 539.499.672 đồng (năm trăm ba mươi chín triệu bốn trăm chín mươi chín nghìn sáu trăm bảy mươi hai đồng); tiền lãi chậm trả là 50.259.901 đồng (năm mươi triệu hai trăm năm mươi chín nghìn chín trăm linh một đồng).

Ngay sau khi ông Vũ Quốc T thanh toán xong số tiền còn phải thi hành cho Ngân hàng TMCP Đ1 thì Ngân hàng TMCP Đ1 có trách nhiệm thanh lý, giải chấp các hợp đồng liên quan đến số tiền nợ và hoàn trả cho ông Vũ Quốc T bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp (nếu không còn thế chấp cho khoản vay nào khác), theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 698/2022/17879894/HĐTC ngày 11/8/2022.

Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Vũ Quốc T không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền nêu trên thì Ngân hàng TMCP Đ1 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 90, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CO545505, số vào sổ cấp GCN: CS18829 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 11/6/2019), theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 698/2022/17879894/HĐTC ngày 11/8/2022 để thu hồi nợ.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 697/2022/17879894/HĐTD ngày 11/8/2022.

2. Về án phí: Buộc ông Vũ Quốc T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 103.628.531 đồng (một trăm linh ba triệu sáu trăm hai mươi tám nghìn năm trăm ba mươi mốt đồng).

Ngân hàng TMCP Đ1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 50.662.200 đồng (năm mươi triệu sáu trăm sáu mươi hai nghìn hai trăm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0020268 ngày 03/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Vũ Quốc T phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Q.10;
  • - VKSND TP HCM;
  • - Chi cục THADS Q.10;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Xuân Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 464/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 464/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng B tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Vũ Quốc T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger