trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 464/2025/HS-ST

Ngày: 30 - 6- 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngụy Khắc V – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 390/2025/HSST ngày 09 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 462/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm: 1998, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 5/1/3 Đường số G, Khu phố D, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: A Lô B, chung cư T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Trương Công V1, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; bị cáo là con thứ 02 trong gia đình có 03 anh chị em; chồng: Phan Bảo A, sinh năm 1994 và có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2025 đến ngày 14/01/2025 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

2. Phan Văn N, sinh năm: 1964, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Căn hộ A, Khối F, Lô N, chung cư 17,3 ha, Khu phố B, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Căn hộ A, Khối F, Lô N, chung cư 17,3 ha, Khu phố B, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Xe ôm; con ông Phan Văn G (©) và bà Cao Thị C (©); bị cáo là con lớn trong gia đình có 06 anh chị em; vợ: Lưu Thị T (©) và có 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2025 đến ngày 23/01/2025 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

3. Phan Kim D, sinh năm: 1966, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: A Lô B, chung cư T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: A Lô B, chung cư T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Nội trợ; con ông Phan Văn G (©) và bà Cao Thị C (©); bị cáo là con thứ 02 trong gia đình có 06 anh chị em; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2025 đến ngày 23/01/2025 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

4. Huỳnh Thị Bích T1, sinh năm: 1983, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: C Khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 6 L, Khu phố E, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Nội trợ; con ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1957; bị cáo là con thứ 02 trong gia đình có 02 anh em; bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2025 đến ngày 23/01/2025 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

5. Nguyễn Thị M, sinh năm: 1961, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 404 Lô A, Chung cư F ha T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: D Lô A, Chung cư F ha T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 03/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Nguyễn Văn P (©) và bà Nguyễn Thị D1 (©); bị cáo là con thứ 04 trong gia đình có 07 anh chị em; chồng: Nguyễn T4 (©) và có 02 con, lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 01/6/1999, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 1611/HSST. Sau đó, bị cáo có kháng cáo. Ngày 07/10/1999, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ngày 30/12/2004, đã chấp hành xong hình phạt tù. Qua xác minh án phí tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận không có thông tin về Bản án và không có thông tin về việc thi hành án dân sự đối với Bản án trên.
  • - Ngày 14/9/2012, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách là 01 năm. Đã chấp hành xong thời gian thử thách. Ngày 14/4/2014, Nguyễn Thị M đã thi hành xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và đã nộp phạt 3.000.000 đồng.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2025 đến ngày 23/01/2025 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

6. Trương Kim T5, sinh năm: 1955, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: A Lô B, chung cư T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: A Lô B, chung cư T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 0/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Trương Văn S (©) và bà Nguyễn Thị S1 (©); bị cáo là con duy nhất trong gia đình; chồng: Nguyễn Văn C1, sinh năm 1955 và có 02 con, lớn sinh năm 1973, nhỏ sinh năm 1976; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2025 đến ngày 23/01/2025 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 06/01/2025, Huỳnh Thị Bích T1, Nguyễn Thị M và Trương Kim T5 đến nhà của D. Tại đây, T1, M, T5 và D thống nhất đánh bài binh xập xám, tính chi, ăn thua bằng tiền. Cách chơi mỗi chếnh, mỗi con bạc đặt lên chiếu bạc 1.500.000 đồng, số tiền đánh bạc mỗi chếnh là 6.000.000 đồng và khi có 01 con bạc thua hết số tiền 1.500.000 đồng thì kết thúc chếnh cũ và bắt đầu chếnh mới. Mỗi người chia bài 03 lần, thay phiên nhau ngược chiều kim đồng hồ. Khi 01 người chia bài xong, 03 người còn lại sẽ thay phiên nhau đổ 03 hột xí ngầu tính điểm để được bốc bài. Trước khi các con bạc tham gia đánh bạc, Phan Văn N bàn bạc với D (là chủ căn hộ) để cho N thu tiền xâu từ các con bạc, sau đó N thuê Nguyễn Thị Ngọc Á (là cháu của N) phụ N thu tiền xâu từ các con bạc và cứ sau ván đầu tiên của 01 chếnh Ánh thu 100.000 đồng tiền xâu từ chiếu bạc của 02 con bạc có chi thấp nhất.

Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Đội 5 Phòng Cảnh sát hình sự Công an Thành phố H phối hợp Đ Công an thành phố T (nay là Công an Thành phố H) và Công an phường T tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang Phan Kim D, Huỳnh Thị Bích T1, Trương Kim T5, Phan Văn N, Nguyễn Thị Ngọc Á và Nguyễn Thị M (tại thời điểm kiểm tra M đã bỏ trốn theo cửa sau của căn hộ) có hành vi đánh bạc và thu giữ của các con bạc tổng số tiền 13.600.000 đồng, trong đó có 7.500.000 đồng liên quan đến hoạt động đánh bạc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H), các bị can khai nhận như sau:

Phan Kim D sử dụng 2.500.000 đồng để đánh bạc, thua 950.000 đồng, khi bị bắt Cơ quan điều tra thu giữ của D 1.550.000 đồng. Huỳnh Thị Bích T1 mang theo 4.100.000 đồng, trong đó T1 sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, thắng 550.000 đồng, tổng số tiền T1 dùng để đánh bạc là 2.050.000 đồng, khi bị bắt Cơ quan điều tra thu giữ của Thùy 4.650.000 đồng. Trương Kim T5 mang theo 5.000.000 đồng, trong đó T5 sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, thắng 900.000 đồng, tổng số tiền T5 dùng để đánh bạc là 2.400.000 đồng, khi bị bắt Cơ quan điều tra thu giữ của T5 5.900.000 đồng. Nguyễn Thị Ngọc Á khai số tiền 300.000 đồng mà Cơ quan điều tra thu giữ trên người Á là tiền xâu Ánh vừa mới thu từ các con bạc. Đến ngày 08/01/2025, Nguyễn Thị M ra đầu thú và thừa nhận số tiền mang theo để đánh bạc là 2.000.000 đồng, trong đó M thua 800.000 đồng, còn lại 1.200.000 đồng (Cơ quan điều tra thu giữ tại chiếu bạc).

Vật chứng và đồ vật thu giữ:

  • - 04 bộ bài tây 52 lá (đã qua sử dụng); 10 bộ bài tây 52 lá (chưa qua sử dụng) và 03 hột xí ngầu (N yêu cầu Á đặt mua trên mạng để sử dụng vào việc đánh bạc);
  • - 01 bàn nhựa; 06 ghế nhựa; 01 tấm gỗ; 01 tấm thảm màu đen và 01 cái tô sứ;
  • - Số tiền 7.500.000 đồng (1.550.000 đồng thu giữ của D; 2.050.000 đồng thu giữ của T1; 2.400.000 đồng thu giữ của T5; 1.200.000 đồng thu giữ của M và 300.000 đồng thu giữ của Á).
  • - Số tiền 6.100.000 đồng không sử dụng để đánh bạc (2.600.000 đồng thu giữ Thùy và 3.500.000 đồng thu giữ của T5).
  • - Số tiền 116.500.000 đồng và 800 USD. Đây là số tiền thu giữ trong người của Ngô Kim H1. H1 khai số tiền trên H1 đem đi để đóng tiền hụi cho Trương Kim T5. Qua xác minh số tiền trên không liên quan đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã trả lại cho Ngô Kim H1.
  • - Số tiền 2.300.000 đồng. Đây là số tiền thu giữ trong người của Nguyễn Thị M1. Qua xác minh số tiền trên không liên quan đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã trả lại cho chị Nguyễn Thị M1.

Cáo trạng số: 379/CT-VKSTPTĐ ngày 05/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á, Phan Văn N, Phan Kim D, Huỳnh Thị Bích T1, Nguyễn Thị M và Trương Kim T5 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á, Phan Văn N, Phan Kim D, Huỳnh Thị Bích T1 và Trương Kim T5, mỗi bị cáo từ: 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi thời hạn tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M từ: 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam trước đó.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Tất cả các bị cáo đều đã nhận ra lỗi lầm của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo có cơ hội sửa đổi, làm ăn chân chính để nuôi gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Vào lúc 14 giờ, ngày 06/01/2025 tại căn hộ S, Lô B, chung cư T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Ngọc Á, Phan Văn N, Phan Kim D, Huỳnh Thị Bích T1, Nguyễn Thị M và Trương Kim T5 đã có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền với số tiền đánh bạc làm căn cứ xử lý hình sự là 7.500.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự, nếp sống văn minh của xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý của Nhà nước và là nguy cơ dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi đánh bạc là tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì động cơ vụ lợi, muốn có tiền để tiêu xài nên đã cố ý thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 7.500.000 đồng. Hành vi của các bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với Phan Kim D là chủ căn hộ số 001, Lô B, chung cư T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không phải là người khởi xướng, rủ rê lôi kéo T1, M và T5 đánh bạc; số người tham gia đánh bạc không đủ 10 người và chỉ có 01 chiếu bạc nên không đủ căn cứ xử lý D về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Đối với Ngô Thị H2 là người ngồi phía sau Trương Kim T5 xem T5 đánh bài Binh xập xám ăn thua bằng tiền và H2 có chỉ cho T5 cách xếp bài nhưng T5 không nghe H2 mà tự sắp xếp bài theo ý của T5. Quá trình điều tra xác định H2 không hùn tiền và cũng không hứa hẹn gì với T5 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý T5 về hành vi đánh bạc là có căn cứ.

Đối với Quách Thị L, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thị M1 và Phan Bảo A, tại thời điểm Tổ công tác kiểm tra phát hiện L, N1, M1 và A đang ở trong Căn hộ số A, Lô B, chung cư T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình xác minh xác định L, N1, M1 và A không tham gia đánh bạc và cũng không hùn tiền đánh bạc với ai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý về hành vi đánh bạc là có căn cứ.

Vụ án có đồng phạm nhưng giản đơn, trong đó có 04 bị cáo trực tiếp tham gia đánh bạc là D, T1, M và T5. Đối với Phan Văn N, mặc dù không trực tiếp tham gia đánh bạc cùng D, T1, M và T5 nhưng N là người bàn bạc với D (là chủ căn hộ) để cho N thu tiền xâu từ các con bạc, sau đó N thuê Nguyễn Thị Ngọc Á (là cháu của N) phụ N thu tiền xâu từ các con bạc và N trả tiền công cho Á 100.000 đồng/ngày. Đối với Nguyễn Thị Ngọc Á, mặc dù không trực tiếp tham gia đánh bạc cùng D, T1, M và T5 nhưng Á phụ giúp Phan Văn N thu tiền xâu từ các con bạc và hưởng tiền công 100.000 đồng/ngày.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 7.500.000 đồng và không vi phạm tình tiết định khung tăng nặng hình phạt khác nên bị đưa ra xét xử theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ:

Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á, Phan Văn N, Phan Kim D, Huỳnh Thị Bích T1 và Trương Kim T5 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo chủ động ra đầu thú; bản thân bị cáo đã lớn tuổi, mắc nhiều bệnh nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á, Phan Văn N, Phan Kim D, Huỳnh Thị Bích T1 và Trương Kim T5 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, trong thời gian được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương. Bên cạnh đó, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo này được hưởng án treo theo đề nghị của Kiểm sát viên cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước và pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo lao động để trở thành công dân có ích cho xã hội.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị M có nhân thân xấu, đã 02 lần bị kết án về các tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy” và tội “Đánh bạc” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, sửa đổi bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử không phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 04 bộ bài tây 52 lá (đã qua sử dụng); 10 bộ bài tây 52 lá (chưa qua sử dụng) và 03 hột xí ngầu (N yêu cầu Á đặt mua trên mạng để sử dụng vào việc đánh bạc); 01 bàn nhựa; 06 ghế nhựa; 01 tấm gỗ; 01 tấm thảm màu đen và 01 cái tô sứ: Xét đây là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có gía trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với số tiền 7.500.000 đồng (1.550.000 đồng thu giữ của D; 2.050.000 đồng thu giữ của T1; 2.400.000 đồng thu giữ của T5; 1.200.000 đồng thu giữ của M và 300.000 đồng thu giữ của Á): Xét đây là tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với số tiền 6.100.000 đồng không sử dụng để đánh bạc (2.600.000 đồng thu giữ Huỳnh Thị Bích T1 và 3.500.000 đồng thu giữ của Trương Kim T5) nên trả lại cho các bị cáo này.
  • - Đối với số tiền 116.500.000 đồng và 800 USD thu giữ trong người của Ngô Kim H1 không liên quan đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã trả lại cho Ngô Kim H1 là có căn cứ.
  • - Đối với số tiền 2.300.000 đồng thu giữ trong người của Nguyễn Thị M1 không liên quan đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã trả lại cho chị Nguyễn Thị M1 là có căn cứ.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á, Phan Văn N, Phan Kim D,

Huỳnh Thị Bích T1, Nguyễn Thị M và Trương Kim T5 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á và Phan Văn N, mỗi bị cáo: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Phan Kim D, Huỳnh Thị Bích T1 và Trương Kim T5, mỗi bị cáo: 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án.
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M: 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2025 đến ngày 23/01/2025.

Giao các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á, Phan Kim D và Trương Kim T5 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; giao bị cáo Phan Văn N cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T; giao bị cáo Huỳnh Thị Bích T1 cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được cho hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

  • - Tịch thu tiêu hủy: 04 bộ bài tây 52 lá (đã qua sử dụng); 10 bộ bài tây 52 lá (chưa qua sử dụng) và 03 hột xí ngầu (N yêu cầu Á đặt mua trên mạng để sử dụng vào việc đánh bạc); 01 bàn nhựa; 06 ghế nhựa; 01 tấm gỗ; 01 tấm thảm màu đen và 01 cái tô sứ.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 285/QĐ-VKS ngày 27/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Biên bản giao nhận tang tài vật số 382C ngày 04/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).

  • - Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: Số tiền 7.500.000 đồng (1.550.000 đồng thu giữ của D; 2.050.000 đồng thu giữ của T1; 2.400.000 đồng thu giữ của T5; 1.200.000 đồng thu giữ của M và 300.000 đồng thu giữ của Á).
  • - Trả lại cho bị cáo Huỳnh Thị Bích T1 số tiền 2.600.000 đồng.
  • - Trả lại cho bị cáo Trương Kim T5 số tiền 3.500.000 đồng

(Theo Giấy nộp tiền mặt ngày 03/6/2025 tại Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh thành phố T; tên người nộp: Phạm Nguyễn Viết D2; người thụ hưởng: Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  • - Buộc các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á, Phan Văn N, Phan Kim D, Huỳnh Thị Bích T1, Nguyễn Thị M và Trương Kim T5, mỗi bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

  • - Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích về chế định án treo cho bị cáo được hưởng án treo)

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Anh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 464/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội đánh bạc

  • Số bản án: 464/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ngọc Á bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố về tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger