Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 464/2025/HS-PT

Ngày: 20-6-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Minh Tâm

Các Thẩm phán:

Ông Ngô Mạnh Cường

Bà Trần Thị Hòa Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Mạnh, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 99/2025/TLPT-HS ngày 05/02/2025, đối với các bị cáo Trần Đình B, Nguyễn Hoàng T, Trần Nguyễn Hoàng N, do có kháng cáo của các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo và đại diện bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 268/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1367/2025/QĐPT-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Trần Đình B, sinh ngày 01/01/2004 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Phụ xe. Trình độ học vấn: 7/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Trần Văn Đ, sinh năm 1973 và bà Dương Thị D, sinh năm 1980. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình và chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 28/02/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 407/LTG-CSHS-Đ1 ngày 06/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 24/02/2003 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Tổ D, ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 6/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Thiên chúa. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Hữu N1, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1972 (đã chết). Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình và chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 28/02/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 408/LTG-CSHS-Đ1 ngày 06/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Trần Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 23/01/2007 tại Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: Tổ D, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Trần Văn T1, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1988. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình và chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 28/02/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 409/LTG-CSHS-Đ1 ngày 06/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo N:

  1. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1981 (có mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1988 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Đình B và bị cáo Trần Nguyễn Hoàng N: Luật sư Phan Tường D1, Công ty L3, Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

- Người bào chữa theo cho bị cáo Nguyễn Hoàng T: Luật sư Bùi Thị Ánh T2, Công ty L3, Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

Bị hại: Anh Nguyễn Trường P, sinh năm 2006 (chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1980 (có mặt) và bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1980 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ I, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 27/02/2024, Trần Đình B sau khi đi chơi với Phạm Khánh L (là bạn gái của B), sinh năm 2007, nơi thường trú: xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, khi đi về đến đoạn đường D4 khu tái định cư thuộc ấp E, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai thì gặp Nguyễn Trường P, sinh năm 2006, địa chỉ: tổ I, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai và Nguyễn Văn T4, sinh năm 2006, địa chỉ: ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai đang ngồi trên lề đường cạnh một chiếc xe mô tô hiệu Wave RSX màu đỏ- đen không rõ biển số. Lúc này, B nhìn P và T4 thì bị hai người này chửi thề nên B tức giận và nảy sinh ý định đánh P và T4. Sau đó, B đi về rủ thêm bạn tên Trần Nguyễn Hoàng N, Nguyễn Hoàng T, đi đánh P và T4 thì N, T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius (không có biển số) chở B mang theo 01 con dao tự chế (dao phóng lợn) dài 2,18m và N mang theo 02 cây “gậy ba khúc” bằng kim loại đi tìm P, T4 đánh. Khi đi đến đường D khu tái định cư thuộc ấp E, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai thì cả nhóm gặp P và T4 nên B, N, T lập tức chạy đến đánh. Thấy vậy, P, T4 bỏ chạy vào lô cao su, T4 bỏ chạy hướng khác nên chạy thoát, còn P thì bị B, T và N đuổi theo. Khi đuổi kịp P, B đã sử dụng dao tự chế, kích thước dài 2,18m đâm vào đùi phải (gần bẹn) gây đứt động mạch đùi và rách thành tĩnh mạch đùi phải của P gây chảy máu. Lúc này, N, T chạy đến thì thấy P nằm dưới đất, còn B sử dụng đèn pin của điện thoại soi vào đùi của P thì thấy chảy máu nên B, N và T gọi xe cứu thương chở P đến Bệnh viện Đ1, tỉnh Đồng Nai cấp cứu nhưng do bị mất máu lớn dẫn tới suy tuần hoàn nên P tử vong. Đến ngày 28/02/2024, Trần Đình B, Nguyễn Hoàng T và Trần Nguyễn Hoàng N đến Công an xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai đầu thú.

Tại Bản Kết luận giám định tử thi số 437/KL-KTHS ngày 18/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận nguyên nhân tử vong của Nguyễn Trường P như sau:

  1. Các kết quả chính: Vùng đùi có vết rách da hình bầu dục kích thước 2,5 x 2cm cách 7cm dưới nếp lằn bẹn bên phải. Giải phẫu tụ máu dưới da-cơ vùng đùi, đứt lìa hoàn toàn động mạch đùi bên phải, rách thành ngoài tĩnh mạch đùi.
  2. Nguyên nhân tử vong: suy tuần hoàn cấp do vết thương vùng đùi, đứt động mạch đùi và rách thành tĩnh mạch đùi.
  3. Cơ chế hình thành thương tích và hung khí gây án: nạn nhân bị vật sắc nhọn tác động trực tiếp vào vùng đùi gây đứt động mạch đùi và rách thành tĩnh mạch đùi gây mất khối lượng máu lớn dẫn tới suy tuần hoàn và tử vong.

Tại Bản Kết luận giám định số 2266/KL-KTHS ngày 15/5/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

+ Trên con dao tự chế phân tích được một kiểu gen, trùng với kiểu gen của nạn nhân Nguyễn Trường P.

+ Trên 02 cây gậy kim loại đều phân tích được kiểu gen không đầy đủ, không truy nguyên được cá thể từ kết quả phân tích này.

* Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 con dao tự chế (dao phóng lợn) kích thước dài 2,18m, lưỡi dao sắc nhọn.
  • 02 cây gậy kim loại (loại ba khúc).
  • 01 quần Short vải màu đen.
  • 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đỏ (không có biển số) thuộc sở hữu của anh Võ Thanh D2, sinh năm 1979, nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Anh D2 không biết Nguyễn Hoàng T mượn xe thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho anh D2.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, ông Nguyễn Văn T3 là đại diện hợp pháp bị hại Nguyễn Trường P yêu cầu các bị cáo Trần Đình B, Nguyễn Hoàng T và Trần Nguyễn Hoàng N bồi thường chi phí mai táng, tổn thất về tinh thần số tiền 750.000.000 đồng (trong đó: chi phí mai táng 150.000.000 đồng; tổn thất về tinh thần 600.000.000 đồng). Gia đình bị cáo Trần Nguyễn Hoàng N đã bồi thường số tiền 22.000.000 đồng. Gia đình bị cáo Trần Đình B đã bồi thường số tiền 115.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Hoàng T chưa bồi thường.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Văn T3 yêu cầu các bị cáo bồi thường tổng số tiền là 1.647.000.000 đồng, cụ thể:

- Tiền chi phí mai táng gồm: cơ sở phục vụ mai táng, chi phí trong nhà tang lễ: bàn ghế, nhang đèn, bàn thở, kèn trống là: 150.000.000 đồng. Các bị cáo đã bồi thường: 137.000.000 đồng. Do đó số tiền còn lại các bị cáo phải bồi thường là 13.000.000 đồng.

- Tiền thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm:

+ Tiền tổn thất tinh thần 100 lần mức lương cơ sở: 2.340.000 đồng x lần: 234.000.000 đồng.

+ Công lao sinh bị hại: 200.000.000 đồng

+ Chi phí nuôi dưỡng P đến 18 tuổi, chi phí ăn uống, dạy dỗ học tập mỗi tháng 5.000.000 đồng x 12 tháng = 60.000.000 đồng x 18 năm là: 1.080.000.000 đồng.

+ Chi phí kể từ khi P mất tinh thần suy sụp ảnh hưởng đến khả năng làm việc nên nghỉ việc 06 tháng. L1 bình quân 10.000.000 đồng/tháng x 6 tháng là: 60.000.000 đồng.

+ Thiệt hại do P mất thu nhập để hổ trợ chăm sóc nuôi dưỡng bà Lâm Thị L2 (bà nội của bị hại): 5.000.000 đồng x 12 tháng: 60.000.000 đồng.

* Tại cáo trạng số: 216/CT/VKS-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố Trần Đình B, Nguyễn Hoàng T, Trần Nguyễn Hoàng N về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 268/2024/HS-ST ngày 26/12/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Đình B phạm tội “Giết người”

Xử phạt: bị cáo Trần Đình B 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 28/02/2024.

- Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Giết người”

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoàng T 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 28/02/2024.

- Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Nguyễn Hoàng N phạm tội “Giết người”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Nguyễn Hoàng N 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 28/02/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 587, 591 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

Buộc bị cáo Trần Đình B bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị Bích V số tiền: 77.000.000 đồng (bảy mươi bảy triệu đồng).

Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị Bích V số tiền: 96.000.000 đồng (chín mươi sáu triệu đồng).

Buộc ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị H (cha mẹ bị cáo N) bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị Bích V số tiền 74.000.000 đồng (bảy mươi bốn triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Ngày 30/12/2024, các bị cáo Trần Đình B, Nguyễn Hoàng T, Trần Nguyễn Hoàng N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 06/01/2025, đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Hoàng N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện hợp pháp cho bị hại ông Nguyễn Văn T3 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; người tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về nội dung: Vào khoảng 20 giờ ngày 27/02/2024, tại khu vực đường N, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Xuất phát từ mâu thuẫn trong lời nói giữa Nguyễn Trường P, Nguyễn Văn T4 và Trần Đình B. Tức giận B đi về rủ thêm Nguyễn Hoàng T và Trần Nguyễn Hoàng N mang theo hung khí (dao tự chế, gậy ba khúc) đi tìm P và T4 để đánh. Hậu quả Trần Đình B, đã có hành vi dùng con dao tự chế kích thước dài 2,18m, lưỡi dao sắc nhọn đâm trúng đùi phải của Nguyễn Trường P làm P tử vong trước lúc vào Bệnh viện Đ1 cấp cứu do vết thương vùng đùi, đứt động mạch đùi và rách thành tĩnh mạch đùi.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Trần Đình B, Nguyễn Hoàng T và Trần Nguyễn Hoàng N đã phạm tội “Giết người”. Khi lượng hình cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt và xử phạt bị cáo B 18 năm tù, bị cáo T 13 năm tù, bị cáo N 09 năm tù là có căn cứ, không nặng như kháng cáo của các bị cáo đã nêu. Các bị cáo kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về trách nhiệm dân sự thì Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các quy định của pháp luật buộc các bị cáo bồi thường theo đúng quy định của pháp luật.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Đình B: Thống nhất về tội danh và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của đại diện viện kiểm sát. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã nhận thức ra hành vi sai trái của mình nên đã sơ cứu cho bị hại. Bị cáo đầu thú, đã bồi thường một phần cho gia đình bị hại, trong suốt quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo án, năn hối cải. Bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, trình độ học vấn thấp nên chưa ý thức hết hậu quả của mình gây ra. Tại cấp phúc thẩm gia đình bị cáo B đã nộp bồi thường khắc phục phần trách nhiệm dân sự của bị cáo có nghĩa vụ bồi thường là 77.000.000 đồng cho gia đình bị hại, tiền nộp tại cơ quan thi hành án, ngoài ra gia đình bị cáo tự nguyện hỗ trợ thêm cho gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B.

- Người bào chữa theo cho bị cáo Nguyễn Hoàng T: Thống nhất về tội danh và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của đại diện viện kiểm sát. Bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm, chỉ vì bị lôi cuốn nhất thời mà dẫn đến hành vi phạm tội. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã cùng các bị cáo khác sơ cứu và gọi xe cứu thương đưa bị hại đi cấp cứu. Bị cáo đầu thú, trong suốt quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo án, năn hối cải. Bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, mồ côi mẹ từ nhỏ và cha bị cáo mới ra tù nên không được giáo dục đầy đủ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Nguyễn Hoàng N: Thống nhất về tội danh và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của đại diện viện kiểm sát. Bị cáo N không bàn bạc đi đánh nhau, không bàn bạc đi giết bị hại. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã cùng các bị cáo khác sơ cứu và gọi xe cấp cứu đưa bị hại đến bệnh viện. Bị cáo đầu thú, đã bồi thường một phần cho bị hại, trong suốt quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo án, năn hối cải. Bị cáo có nhân thân tốt và khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi. Tại cấp phúc thẩm gia đình bị cáo đã nộp bồi thường khắc phục phần trách nhiệm dân sự của bị cáo có nghĩa vụ bồi thường là 74.000.000 đồng cho gia đình bị hại, tiền nộp tại cơ quan thi hành án. Ngoài ra gia đình bị cáo tự nguyện hỗ trợ thêm cho gia đình bị hại số tiền 5.000.000 đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N.

- Ý kiến của bị cáo: Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận bổ sung gì đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

- Đại diện hợp pháp cho người bị hại ông Nguyễn Văn T3 trình bày: Về trách nhiệm dân sự, thiệt hại, mất mát của gia đình bị hại là rất lớn, không thể nào bù đắp được. Đề nghị chấp nhận kháng cáo buộc các bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 500.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tranh luận: Tại cấp phúc thẩm gia đình bị cáo B đã nộp bồi thường là 77.000.000 đồng và tự nguyện hỗ trợ thêm cho gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng. Gia đình bị cáo N đã nộp bồi thường là 74.000.000 đồng và tự nguyện hỗ trợ thêm cho gia đình bị hại số tiền 5.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận và xem xét theo quy định của pháp luật.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở lại cộng đồng xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Đình B, Nguyễn Hoàng T, Trần Nguyễn Hoàng N, đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Nguyễn Hoàng N là ông Trần Văn T1, đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn T3 làm trong hạn luật định nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo:

[2.1] Về tội danh và áp dụng điều luật:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận: Vào khoảng 20 giờ ngày 27/02/2024, tại khu vực đường N, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai, xuất phát từ mâu thuẫn trong lời nói giữa Nguyễn Trường P, Nguyễn Văn T4 và Trần Đình B nên B tức giận đi về rủ thêm Nguyễn Hoàng T và Trần Nguyễn Hoàng N mang theo hung khí (dao tự chế, gậy ba khúc) đi tìm P và T4 để đánh. Hậu quả Trần Đình B đã có hành vi dùng con dao tự chế kích thước dài 2,18m, lưỡi dao sắc nhọn đâm trúng đùi phải của Nguyễn Trường P làm P bị suy tuần hoàn cấp do vết thương vùng đùi, đứt động mạnh đùi và rách thành tĩnh mạch đùi dẫn đến tử vong trước lúc vào Bệnh viện Đ1 cấp cứu.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Trần Đình B, Nguyễn Hoàng T và Trần Nguyễn Hoàng N đã phạm tội “Giết người”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân tỉnh Đồng Nai đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khoẻ, tính mạng của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang, bất bình trong nhân dân. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.

Trong vụ án này, các bị cáo đồng phạm với vai trò giản đơn, trong đó:

Bị cáo B là người rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác phạm tội và là người thực hành tích cực, trực tiếp gây tử vong cho bị hại nên phải chịu trách nhiệm cao nhất.

Bị cáo Tiếng là người giúp sức tích cực (lấy xe chở các bị cáo đi) và chưa bồi thường cho bị hại nên phải chịu mức hình phạt cao thứ hai.

Bị cáo N là người giúp sức tích cực, tuy nhiên khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên áp dụng Điều 90, 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[2.3] Về tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trần Đình B rủ Trần Nguyễn Hoàng N (dưới 18 tuổi) cùng phạm tội nên B phải chịu tình tiết tăng nặng “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Bị cáo Trần Đình B: bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại (115.000.000 đồng); thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; có nhân thân tốt. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại cấp phúc thẩm gia đình bị cáo đã khắc phục xong hậu quả cho gia đình bị hại theo bản án sơ thẩm đã tuyên là 77.000.000 đồng, theo biên lai thu số 0016761 ngày 26/5/2025 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra gia đình bị cáo B tự nguyện hỗ trợ thêm cho gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới nên cần áp dụng và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo B.

+ Bị cáo Nguyễn Hoàng T: bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm, chỉ vì bị lôi cuốn nhất thời mà dẫn đến hành vi phạm tội. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã cùng các bị cáo khác sơ cứu và gọi xe cứu thương đưa bị hại đi cấp cứu; bị cáo đầu thú; trong suốt quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, mồ côi mẹ từ nhỏ, cha bị cáo mới ra tù nên bị cáo không được giáo dục đầy đủ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo T.

+ Bị cáo Trần Nguyễn Hoàng N: bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại (22.000.000 đồng); thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; có nhân thân tốt. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại cấp phúc thẩm gia đình bị cáo đã khắc phục xong hậu quả cho gia đình bị hại theo bản án sơ thẩm tuyên là 74.000.000 đồng, nộp theo biên lai thu số 0015536 ngày 06/5/2025 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra gia đình bị cáo N tự nguyện hỗ trợ thêm cho gia đình bị hại số tiền 5.000.000 đồng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới nên cần áp dụng và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo B.

[2.4] Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường chi phí mai táng, tổn thất về tinh thần số tiền 500.000.000 đồng (trong đó chi phí mai táng 150.000.000 đồng, tổn thất tinh thần 350.000.000 đồng). Các bị cáo không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại, đề nghị áp dụng theo quy định của pháp luật.

Do đó, căn cứ Điều 591 Bộ luật dân sự và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định pháp luật để giải quyết.

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 591 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao. Đối chiếu Nghị định số 73/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định về mức lương cơ sở hiện nay tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 2.340.000 đồng/tháng. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận bồi thường tổn thất tinh thần với số tiền là 2.340.000 đồng/tháng x 100 lần = 234.000.000 đồng và tiền chi phí hợp lý cho việc mai táng gồm: cơ sở phục vụ mai táng, chi phí trong nhà tang lễ: bàn ghế, nhang đèn, bàn thờ, kèn trống là: 150.000.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo phải bồi liên đới bồi thường cho gia đình bị hại là 384.000.000 đồng.

Trong vụ án, bị cáo B là người rủ rê và trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của bị hại nên phải chịu 50% chi phí bồi thường; Bị cáo T, bị cáo N, mỗi bị cáo phải chịu 25% chi phí bồi thường. Buộc các bị cáo phải bồi thường số tiền cụ thể:

Bị cáo B bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 192.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường 115.000.000 đồng, tại cấp phúc thẩm gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 77.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong. Gia đình bị cáo tự nguyện hỗ trợ thêm số tiền 30.000.000 đồng cho gia đình bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Bị cáo T bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 96.000.000 đồng.

Bị cáo N bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 96.000.000 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi thường 22.000.000 đồng, tại cấp phúc thẩm gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 74.000.000 đồng. Gia đình bị cáo tự nguyện hỗ trợ thêm số tiền 5.000.000 đồng cho gia đình bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Do đó, đại diện hợp pháp bị hại kháng cáo yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 350.000.000 đồng là không phù hợp với quy định của pháp luật nên không được chấp nhận.

[3] Từ những phân tích nêu trên, xét thấy kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Trần Đình B, Nguyễn Hoàng T, người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hoàng N và lời trình bày của các luật sư bào chữa cho các bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận, giảm một phần hình phạt cho các bị cáo. Kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị hại ông Nguyễn Văn T3 về trách nhiệm dân sự là không có căn cứ nên không được chấp nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà phù hợp một phần với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần. Cần sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Trần Đình B, Nguyễn Hoàng T, Trần Nguyễn Hoàng N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Trần Đình B, Nguyễn Hoàng T, Trần Nguyễn Hoàng N và kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Nguyễn Hoàng N.

Không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn T3 về phần trách nhiệm dân sự.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 268/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Đình B phạm tội “Giết người”

Xử phạt: bị cáo Trần Đình B 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 28/02/2024.

2. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Giết người”

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoàng T 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 28/02/2024.

3. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Nguyễn Hoàng N phạm tội “Giết người”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Nguyễn Hoàng N 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 28/02/2024.

4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 587, 591 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

- Buộc bị cáo Trần Đình B bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị Bích V số tiền 77.000.000 đồng. Bị cáo B (có ông Trần Văn Đ nộp thay) đã nộp đủ số tiền 77.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0016761 ngày 26/5/2025 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo B đã bồi thường xong.

- Ghi nhận gia đình bị cáo B hỗ trợ thêm cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị Bích V số tiền 30.000.000 đồng.

- Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị Bích V số tiền 96.000.000 đồng.

- Buộc ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị H (cha mẹ bị cáo N) bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị Bích V số tiền 74.000.000 đồng. Ông T1 và bà H đã nộp đủ số tiền 74.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0015536 ngày 06/5/2025 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T1 và bà H đã bồi thường xong.

- Ghi nhận ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị H (cha mẹ bị cáo Trần Nguyễn Hoàng N) hỗ trợ thêm cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị Bích V số tiền 5.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Trần Đình B, Nguyễn Hoàng T, Trần Nguyễn Hoàng N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Các Thẩm phán Thẩm phán – Chủ Tọa phiên tòa
Ngô Mạnh Cường Trần Thị Hòa Hiệp Vương Minh Tâm

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vương Minh Tâm

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao.
  • - VKSNDCC tại Tp. Hồ Chí Minh.
  • - TAND tỉnh Đồng Nai.
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai.
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai.
  • - Công an tỉnh Đồng Nai.
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai.
  • - Bị cáo tạm giam (qua trại).
  • - Đương sự.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 464/2025/HS-PT ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (giết người)

  • Số bản án: 464/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Trần Đình B, Nguyễn Hoàng T, Trần Nguyễn Hoàng N và kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Nguyễn Hoàng N. Không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn T3 về phần trách nhiệm dân sự. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 268/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger