Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 464/2023/DS-PT

Ngày: 16/11/2023

“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hải

Các Thẩm phán:

Ông Võ Bảo Anh

Bà Trần Thị Thanh Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 346/2023/TLPT-DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2023/DS-ST ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 447/2023/QĐ-PT ngày 19 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị T, sinh năm 1956; địa chỉ: 1 ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thái T1, sinh năm 1982; địa chỉ: Số B, đường số D, khu dân cư H, Khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (có mặt).

Bị đơn: Bà Bùi Thị T2, sinh năm 1955; địa chỉ: số A, ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trương Văn M, sinh năm 1979 (xin vắng mặt).
  2. Anh Trương Minh Q, sinh năm 1983 (xin vắng mặt).
  3. Anh Trương Quốc B, sinh năm: 1985 (xin vắng mặt).
  4. Chị Trương Thị H, sinh năm 1981 (xin vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Số A ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Người kháng cáo: Bị đơn bà Bùi Thị T2.

NỘI DUNG VỤ KIỆN

Bà Đoàn Thị T là nguyên đơn trình bày: Bà và ông Trương Văn B1 là vợ chồng hợp pháp, trong thời kỳ hôn nhân ông B1 và bà T có tạo lập được các tài sản là quyền sử dụng đất tại các thửa đất số 16, 37, 1090 thuộc tờ bản đồ 06, tổng diện tích: 3.396m², đất tọa lạc tại: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 000211 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Cần Thơ (cũ) cấp ngày 01/10/1996 cho hộ Trương Văn B1.

Vào ngày 02/8/2008 ông Trương Văn B1 chết không để lại di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất của ông B1 gồm: Vợ là bà Đoàn Thị T, cùng các người con chung giữa bà T và ông B1 gồm: anh Trương Văn M; anh Trương Minh Q, anh Trương Quốc B; chị Trương Thị H. Ngoài ra, ông bà không có con riêng. Cha mẹ ông B1 đã mất.

Kể từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình nguyên đơn là người trực tiếp quản lý và sử dụng ổn định, không tranh chấp với bất kỳ ai. Tuy nhiên, vào khoảng tháng 3/2021 bà Bùi Thị T2 là người sử dụng đất liền kề đã có hành vi lấn chiếm lấn ranh phần diện tích khoảng 36m² thuộc một phần thửa đất số 16 và 37, tờ bản đồ 06, cụ thể:

  • Thửa đất số 16: phần diện tích lấn chiếm diện tích khoảng: 22m² (dài 11m x ngang 2m), vị trí cập bên hông nhà bà T2.
  • Thửa đất số 37: phần diện tích lấn chiếm diện tích khoảng: 14m² (dài 7m x ngang 2m), vị trí sau nhà bà T2.

Mặc cho phía nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu phía bà Bùi Thị T2 trả lại phần diện dích đã lấn chiếm, tuy nhiên bà T2 nhiều lần né tránh và không đồng ý.

- Đối với thửa đất số 1446, tờ bản đồ số 6, diện tích 81m², tọa lạc tại: ấp T, xã T, huyện C, TP ., bà Đoàn Thị T được Ủy ban nhân dân huyện C, thành phố Cần Thơ cấp quyền sử dụng đất ngày 09/5/2016 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03407. Bị đơn tranh chấp không cho bà T xây dựng hàng rào bảo vệ thửa đất của mình, chuẩn bị làm móng xây cất nhà trên phần đất của bà T, phía bị đơn còn chặt phá, hủy hoại nhiều cây mà bà T đã trồng trên phần đất bị chiếm dụng. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu như sau:

  • Yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho bà Đoàn Thị T đối với các thửa đất số 16, 37, 1090 + 1446 cùng tờ bản đồ 06, đất tọa lạc tại: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, theo đo đạc thực tế. Nguyên đơn đồng ý ổn định cho bà Bùi Thị T2 diện tích đất tranh chấp tại các thửa 16, 37, 1090 tiếp giáp với thửa 13 của bà T2.
  • Yêu cầu Tòa án buộc bà Bùi Thị T2 và các thành viên trong gia đình phải chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất hợp pháp của nguyên đơn tại thửa đất số 1446 cùng tờ bản đồ 06, đất tọa lạc tại: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
  • Nguyên đơn xin rút lại yêu cầu bị đơn phải bồi thường giá trị các cây trồng mà bà T2 đã chặt phá, nếu có tranh chấp sẽ có đơn khởi kiện thành vụ án khác.

Bị đơn bà Bùi Thị T2 có đơn phản tố trình bày:

Nguyên cha chồng bà là ông Lê Quang H1 được thừa hưởng phần đất hương quả chạy dài từ giáp ranh trường Tiểu học T4 đến giáp ranh nhà của ông Trương Văn H2. Vào thời điểm năm 1988 do hoàn cảnh kinh tế gặp khó khăn nên ông Lê Quang H1 mới bán một số đất cho ông Trương Quang K khoảng 2000m² loại đất trồng cây lâu năm ở phía sau hè nhà bà T2 đang ở, không có bán đường đi ra lộ.

Một thời gian sau ông K sang bán phần diện tích đất qua cho bà Hai C, do không có đường đi ra lộ nên việc sinh hoạt gặp khó khăn nên bà Hai C đã bán lại cho bà Đoàn Thị T. Trước thời điểm bà T mua lại 2000m² đất này thì ông Lê Quang H1 có bán cho bà T miếng đất mặt tiền cặp sát ranh đất bà T2 đang ở, bà T đã cất nhà ở và sử dụng cho đến nay. Như vậy, phần đất bà T đang sử dụng có nguồn gốc từ việc mua lại của ông Lê Quang H1 và bà Hai C, phần đất bà T sử dụng có hình chữ L. Các loại giấy tờ mua bán tay mà cha chồng bà T2 bán cho từng người bà T2 vẫn còn giữ. Do đất của ông bà bên gia đình chồng nhiều lần, chỉ còn lại phần đất trống bề ngang giáp mặt lộ 7,5m; Bề vô giáp ranh với đất ông H2 là 9m; Bề vô liền kề với nhà bà T2 là 10,5m thuộc thửa 13 mà bà T2 đang cất nhà sử dụng.

Đối với thửa đất cặp nhà bà T2 thuộc thửa 1446 mà bà T được cấp quyền sử dụng đất, khi ông Lê Quang H1 còn sống đã tặng cho vợ chồng bà T2, nhưng vào thời điểm này vợ chồng bà T2 lo làm ăn, không làm giấy chứng nhận hợp thức hóa quyền sử dụng đất. Tuyệt đối gia đình bà T2 và bên chồng bà T2 không có bán cho bà T phần diện tích đất 81m² thuộc thửa 1446.

Nay bà Bùi Thị T2 có phản tố yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết: Bác đơn khởi kiện của bà Đoàn Thị T và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Đoàn Thị T tại thửa 1446. Yêu cầu Tòa án công nhận phần diện tích đất 81m² thuộc thửa 1446 cho bà Bùi Thị T2.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Anh Trương Văn M, anh Trương Minh Q, anh Trương Quốc B, chị Trương Thị H thống nhất trình bày: Trước đây, cha mẹ các anh, chị là ông Trương Văn B1 và bà Đoàn Thị T có tạo lập quyền sử dụng đất tại các thửa 16, 37, 1090 thuộc tờ bản đồ số 06, tổng diện tích 3396m² đất tọa lạc địa chỉ trên cấp cho hộ ông Trương Văn B1. Vào ngày 02/8/2008 ông Trương Văn B1 chết nên phần đất trên là di sản thừa kế. Nay hàng thừa kế theo pháp luật của ông Trương Văn B1 đồng ý giao toàn bộ các thửa đất trên cho bà Đoàn Thị T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với thửa đất số 1446, tờ bản đồ 06 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03407 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 09/5/2016 cho bà Đoàn Thị T, nên đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử. Tại bản án số 41/2023/DSST ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn. Bác yêu cầu phản tố của bị đơn về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với nguyên đơn.
  2. Công nhận quyền sử dụng đất theo đo đạc thực tế cho bà Đoàn Thị T tại các thửa 16, 37, 1090, 1446 thuộc tờ bản đồ số 06, loại đất ONT +CLN, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Căn cứ theo bản trích đo địa chính do Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C lập ngày 25/5/2023 các thửa 16, 37, 1090, 1446 có tổng diện tích là 4.047m² (kèm theo bản án).
  3. Buộc bà Bùi Thị T2 cùng các thành viên trong gia đình chấm dứt hành mọi hành vi trái pháp luật về việc ngăn cản bà Đoàn Thị T cùng gia đình sử dụng hợp pháp đối với thửa đất 1446, tờ bản đồ số 06, loại đất CLN, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
  4. Bác yêu cầu phản tố của bà Bùi Thị T2 về việc yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03407 ngày 09/5/2016 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Đoàn Thị T tại thửa 1446, tờ bản đồ số 06, loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T2 về việc yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất tại thửa 1446, tờ bản đồ số 06, loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ cho bà Bùi Thị T2.
  5. Ổn định cho bà Bùi Thị T2 được quyền sử dụng diện tích 102m² tại thửa 13, tờ bản đồ số 06, loại đất ONT + CLN, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Vị trí, kích thước diện tích đất được thi hành theo bản án được xác định theo bản trích đo địa chính do Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C lập ngày 25/5/2023 (đính kèm).

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải bồi thường giá trị các cây trồng mà bị đơn đã chặt phá trên thửa đất 1446.
  2. Các đương sự được quyền tự liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng với hiện trạng sử dụng đất theo thực tế theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về tiền án phí dân sự sơ thẩm, chi phí đo đạc thẩm định và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ tuyên xử bị đơn bà Bùi Thị T2 đã kháng cáo bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Thái T1 đại diện cho nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sở hữu đối với diện tích 81m² là hợp lý vì nguyên đơn được cấp quyền sử dụng đất trên vào năm 2016. Đất của bị đơn được công nhận là 84m² nhưng hiện tại đã sử dụng dôi dư. Bị đơn không có giấy tờ gì chứng minh diện tích tranh chấp là của bị đơn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Phía bị đơn bà T2 trình bày: Đề nghị Hội đồng xử xem xét lại thửa 1446. Nguyên đơn không có chứng cứ nào chứng minh phần đất này là của nguyên đơn. Gia đình bị đơn không ký tên giáp ranh với nguyên đơn nên nguyên đơn đứng chủ quyền là không hợp lý.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Nguồn gốc đất tại thửa 16, 37, 1090 cấp cho hộ ông B1 và hiện trạng tranh chấp: Nguồn gốc đất tại các thửa đất trên do ông Xã Diệp khai phá, sử dụng sau đó bán cho ông H1, đến năm 1985 ông H1 bán lại cho ông B1 diện tích 1.296m², phần còn lại vào năm 1988 ông H1 bán cho ông Trương Quang K. Năm 1991 ông B1 được UBND huyện T (cũ) cấp quyền sử dụng đất diện tích 1.125m² thuộc thửa 16, loại đất T; ông K được cấp quyền sử dụng diện tích 2.881m² gồm thửa 17 diện tích 1.257m², thửa 37 diện tích 1.624m². Ông K sử dụng đến năm 1992 thì chuyển nhượng toàn bộ các thửa đất trên cho ông Đàm Văn C1 làm lò gạch, đến năm 1996 thì ông C1 chuyển nhượng toàn bộ các thửa đất trên cho ông B1. Vào năm 1996 khi ông B1 và ông Kim 1 hợp đồng chuyển nhượng thành quả lao động, khi ông B1 xin đăng ký cấp quyền sử dụng đất thì qua đo đạc phát hiện ranh giới giữa thửa 16, 17 trên bản đồ không đúng hiện trạng, nên Phòng địa chính Thốt nốt thực hiện việc điều chỉnh đúng thực tế và ông B1 được cấp quyền sử dụng đất vào năm 1996 bao gồm: Thửa 37 diện tích 1.624m², loại đất 2L; Thửa 16 diện tích 974m², loại đất T +LNK; Thửa 1090 diện tích 798m², loại đất LNK. Các thửa đất này tiếp giáp với thửa đất số 13 của bà T2, quá trình sử dụng đất thì phát sinh tranh chấp do bà T2 lấn ranh, hiện trạng các thửa đất 16, 37, 1090 tiếp giáp với thửa 13 của bà T2 đã không có ranh giới xác định giữa các thửa, do đó cơ quan chuyên môn không xác định được phần đất tranh chấp thuộc thửa nào trong các thửa đất trên của nguyên đơn nên xác định phần diện tích tranh chấp nằm trong các thửa 16, 37, 1090.

Tuy nhiên, qua quá trình giải quyết tại Tòa án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn thống nhất ổn định diện tích tranh chấp 18m² thửa đất 16, 37, 1090 cho bị đơn theo bản trích đo địa chính ngày 25/8/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C lập, thống nhất ranh đất tại các thửa đất 16, 37, 1090 với thửa 13 theo hiện trạng các bên đang sử dụng theo bản trích đo địa chính ngày 25/5/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C lập. Xét đây là quyền định đoạt của đương sự nên ghi nhận và ổn định cho bị đơn diện tích tranh chấp tại thửa 13, tở bản đồ số 06, loại đất ONT + CLN, đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Quá trình sử dụng đất và cấp quyền sử dụng đất cho bà T tại thửa 1446: Căn cứ theo hồ sơ địa chính cấp quyền sử dụng đất cho bà T vào năm 2016, tại quyết định số 2969/QĐ-UBND ngày 17/7/2012 của ủy ban nhân dân huyện C, thành phố Cần Thơ xác định nguồn gốc thửa đất số 1446 trước khi được cấp quyền sử dụng đất cho bà T là do ông Trương Văn B2 đứng tên trên sổ mục kê ruộng đất, thuộc thửa số 10. Vào năm 2004, giữa bà T và bà T2 tranh chấp diện tích qua đo đạc là 87m², nhưng ông Ba K tranh chấp với bà T, bà T3, ông B2 cũng không thừa nhận diện tích đất này do mình kê khai đăng ký trong số mục kê ruộng đất nên ông B2 cũng không yêu cầu cơ quan quản lý đất đai cấp quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này. Qua xác minh diện tích đất này nằm trong diện tích đất ông Lê Quang H1 bán cho ông Trương Quang K năm 1988, đến năm 1996 khi đo đạc để điều chỉnh cấp quyền sử dụng đất cho ông B1, ông K thì xác định vị trí diện tích tranh chấp 136m² nằm trong diện tích ông B1 xin điều chỉnh, cấp giấy, qua giải quyết tranh chấp thì chủ tịch UBND huyện C bác khiếu nại của bà T2 và ổn định diện tích tranh chấp 81m² thuộc một phần thửa số 10 cho bà T quản lý sử dụng. Trên cơ sở đó vào ngày 09/5/2016, bà T được UBND huyện C cấp quyền sử dụng đất theo giấy CNQSDĐ số CH03407, thuộc thửa 1446, tờ bản đồ số 06, loại đất trồng cây lâu năm, diện tích 81m², đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Khi bà T được cấp quyền sử dụng đất thì chưa có cơ quan có thẩm quyền nào thu hồi quyền sử dụng đất này đối với bà T, nên căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh nên công nhận việc bà T được UBND huyện C, thành phố Cần Thơ cấp quyền sử dụng đất tại thửa 1446 là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó, bà T yêu cầu bị đơn phải chấm dứt hành vi cản trở việc sử dụng đất hợp pháp của nguyên đơn tại thửa 1446 là có căn cứ, nên Tòa án chấp nhận.

Đối với yêu cầu phản tố của bà T2 hủy giấy CNQSDĐ cấp cho bà T tại thửa 1446. Yêu cầu công nhận phần diện tích đất 81m² thuộc thửa 1446 cho bà. Bà T2 cho rằng diện tích đất 81m² thuộc thửa 1446 khi ông Lê Quang Đ (là ông nội chồng) còn sống đã cho vợ chồng bà T2 nhưng bà T2 không có chứng cứ gì để chứng minh, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T2. Do vậy, bác yêu cầu phản tố của bà T2 về việc yêu cầu hủy giấy CNQSDĐ cấp cho bà T tại thửa 1446 và công nhận phần đất này cho bà T2.

Đối với các đồng thừa kế của ông B1: Bà Đoàn Thị T, anh Trương Văn M, anh Trương Minh Q, anh Trương Quốc B, chị Trương Thị H thống nhất giao quyền đăng ký và đứng tên trên giấy CNQSDĐ các thửa đất 16, 37, 1090 thuộc tờ bản đồ số 06, loại đất ONT +CLN, đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ cho bà T. Đây là quyền định đoạt của đương sự nên chấp nhận.

Từ những phân tích trên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng. Đối với yêu cầu kháng cáo không có căn cứ nên không xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền là hợp lệ và đúng quy định.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy: Nguồn gốc tại thửa 16, 37, 1090 cấp cho hộ ông Trương Văn B1 và hiện trạng tranh chấp là do ông Xã Diệp khai phá, sử dụng sau đó bán cho ông Lê Quang H1, ông H1 bán lại cho ông Trương Văn B1, phần còn lại vào năm 1988 ông H1 bán cho ông Trương Quang K.

Năm 1991 ông Trương Văn B1 được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp quyền sử dụng đất diện tích 1.125m² thuộc thửa 16, loại đất T; ông Trương Quang K được cấp quyền sử dụng diện tích 2.881m² gồm thửa 17 diện tích 1.257m², thửa 37 diện tích 1.624m². Ông Trương Quang K sử dụng đến năm 1992 thì chuyển nhượng toàn bộ các thửa đất trên cho ông Đàm Văn C1 làm lò gạch, đến năm 1996 thì ông C1 chuyển nhượng toàn bộ các thửa đất trên cho ông Trương Văn B1.

Vào năm 1996 khi ông Trương Văn B1 và ông Trương Quang K lập hợp đồng chuyển nhượng thành quả lao động, khi ông Trương Văn B1 xin đăng ký cấp quyền sử dụng đất thì qua đo đạc phát hiện ranh giới giữa thửa 16, 17 trên bản đồ không đúng hiện trạng, nên Phòng địa chính T thực hiện việc điều chỉnh đúng thực tế và ông B1 được cấp quyền sử dụng đất vào năm 1996 bao gồm: Thửa 37 diện tích 1.624m², loại đất 2L; Thửa 16 diện tích 974m², loại đất T+LNK; Thửa 1090 diện tích 798m², loại đất LNK. Các thửa đất này tiếp giáp với thửa đất số 13 của bà Bùi Thị T2, quá trình sử dụng đất thì phát sinh tranh chấp.

Phía bà T2 cho rằng bà sử dụng ổn định không tranh chấp, thửa 1446 không phải là của nguyên đơn. Gia đình bị đơn không ký tên nên việc được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là không phù hợp.

Qua xem xét thửa 1446 Hội đồng xét xử nhận thấy: Vào năm 2004, giữa bà Đoàn Thị T và bà Bùi Thị T2 tranh chấp diện tích qua đo đạc là 87m², nhưng ông Trương Văn B2 không tranh chấp với bà T, bà T2, ông B2 cũng không thừa nhận diện tích đất này do mình kê khai đăng ký trong sổ mục kê ruộng đất nên ông B2 cũng không yêu cầu cơ quan quản lý đất đai cấp quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này. Qua xác minh diện tích đất này nằm trong diện tích đất ông Lê Quang H1 bán cho ông Trương Quang K năm 1988, đến năm 1996 khi đo đạc để điều chỉnh cấp quyền sử dụng đất cho ông Trương Văn B1, ông Trương Quang K thì xác định vị trí diện tích tranh chấp 136m² nằm trong diện tích ông B1 xin điều chỉnh, cấp giấy. Qua giải quyết tranh chấp thì chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C bác khiếu nại của bà T2 và ổn định diện tích tranh chấp 81m² thuộc một phần thửa số 10 cho bà Đoàn Thị T quản lý sử dụng. Trên cơ sở đó vào ngày 09/5/2016, bà T được Ủy ban nhân dân huyện C cấp quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03407, thuộc thửa 1446, tờ bản đồ số 06, loại đất trồng cây lâu năm, diện tích 81m², đất tọa lạc tại địa chỉ trên.

Từ khi bà T được cấp quyền sử dụng đất thì chưa có cơ quan có thẩm quyền nào thu hồi quyền sử dụng đất này đối với bà T. Bà T2 cũng không khiếu nại Ủy ban nhân dân huyện C đối với thửa 1446. Vì vậy, thửa 1446 được cấp là đúng quy định pháp luật. Vì vậy, bà Đoàn Thị T yêu cầu bị đơn phải chấm dứt hành vi cản trở việc sử dụng đất hợp pháp của nguyên đơn tại thửa 1446 là có căn cứ. Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ.

[3] Xét phản tố của bà Bùi Thị T2 đề nghị Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Đoàn Thị T tại thửa 1446 và công nhận phần diện tích đất 81m² thuộc thửa 1446 cho bà Bùi Thị T2. Bà T2 cho rằng diện tích đất 81m² thuộc thửa 1446 khi ông Lê Quang Đ (là ông nội chồng) còn sống đã cho vợ chồng bà T2 nhưng bà T2 không có chứng cứ gì để chứng minh, Hiện tại bà T2 sử dụng diện tích nhiều hơn diện tích đất được cấp nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T2 là có cơ sở.

[4]. Xét các đồng thừa kế của ông Trương Văn B1 gồm: Bà Đoàn Thị T, Anh Trương Văn M, anh Trương Minh Q, anh Trương Quốc B, chị Trương Thị H3, các anh chị đã thống nhất giao quyền đăng ký và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các thửa 16, 37, 1090 thuộc tờ bản đồ số 06, loại đất ONT +CLN, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ cho bà Đoàn Thị T đây là sự tự định đoạt của các đương sự nên chấp nhận.

[5]. Từ những nhận định phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bác yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tuy nhiên, qua xem xét toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn Hội đồng xét xử nhận thấy: Tòa án cấp sơ thẩm còn xác định thiếu quan hệ pháp luật tranh chấp vì theo nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn còn có quan hệ tranh chấp: “Tranh chấp yêu cầu buộc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật thực hiện quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Tuy nhiên, do nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện và trong phần tuyên xử của Tòa án cấp sơ thẩm có tuyên nên mặc dù xác định thiếu nhưng không ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ kiện. Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[6]. Xét quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

[7]. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Bị đơn thuộc diện người cao tuổi có đơn xin miễn giảm án phí nên được miễn toàn bộ.

[8]. Về chi phí, lệ phí xem xét thẩm định đo đạc và định giá tài sản: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí, lệ phí xem xét thẩm định, đo đạc và định giá tài sản theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nguyên đơn tự nguyện nộp nên bị đơn không phải chịu số tiền này. Nguyên đơn được nhận lại tạm ứng chi phí còn thừa tại Tòa án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điều 4; Điều 5; Điều 6; Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 157; Điều 92; Khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 149; Điều 159; Điều 160; Điều 161; Điều 164; Điều 165; Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015;
  • Khoản 1 Điều 100; khoản 1 Điều 166; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
  • Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Bùi Thị T2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn Bùi Thị T2.
  2. Công nhận quyền sử dụng đất theo đo đạc thực tế cho bà Đoàn Thị T tại các thửa 16, 37, 1090, 1446 thuộc tờ bản đồ số 06, loại đất ONT +CLN, đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Căn cứ theo bản trích đo địa chính do Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C lập ngày 25/5/2023 các thửa 16, 37, 1090, 1446 có tổng diện tích là 4.047m² (kèm theo bản án).
  3. Buộc bà Bùi Thị T2 cùng các thành viên trong gia đình chấm dứt hành mọi hành vi trái pháp luật về việc ngăn cản bà Đoàn Thị T cùng gia đình sử dụng hợp pháp đối với thửa đất 1446, tờ bản đồ số 06, loại đất CLN, đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
  4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Bùi Thị T2 về việc yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03407 ngày 09/5/2016 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Đoàn Thị T tại thửa 1446, tờ bản đồ số 06, loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T2 về việc yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất tại thửa 1446, tờ bản đồ số 06, loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ cho bà Bùi Thị T2.
  5. Bà Bùi Thị T2 được quyền sử dụng diện tích 102m² tại thửa 13, tờ bản đồ số 06, loại đất ONT + CLN, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Vị trí, kích thước diện tích đất được thi hành theo bản án được xác định theo Bản trích đo địa chính do Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C lập ngày 25/5/2023 (đính kèm).

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải bồi thường giá trị các cây trồng mà bị đơn đã chặt phá trên thửa đất 1446.
  2. Các đương sự được quyền tự liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng với hiện trạng sử dụng đất theo thực tế theo quy định của pháp luật.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn, bị đơn được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về chi phí, lệ phí xem xét thẩm định đo đạc, định giá tài sản: Nguyên đơn tự nguyện chịu đã thu và chi xong.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn được miễn do là người cao tuổi.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND huyện Cờ Đỏ;
  • - Chi cục THADS huyện Cờ Đỏ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 464/2023/DS-PT ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 464/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ba T tranh chap QSD đất với ba T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger