Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 463/2025/HS-ST

Ngày: 30 - 6 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Cao Quốc Hưng
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Ngụy Khắc Vĩnh – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 338/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 438/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 91/QĐST-HS ngày 23/6/2025 đối với bị cáo:

Trương Trung N

sinh năm: 1994, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 252 X, V, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Bùi Đại H và bà Trương Thị Thúy D; Vợ: Nguyễn Thị Thùy D1; Bị cáo có 03 người con: lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2023;Tiền án: Ngày 07/4/2022, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 21/2022/HS-PT. Ngày 31/01/2024, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, đã đóng án phí; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/11/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1983; Địa chỉ: 1 N, Khu phố F, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Chị Lê Phương N1, sinh năm 2004; Địa chỉ thường trú: 545 Ấp K, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn T, sinh năm 1984; Địa chỉ: F H, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Anh Đặng Tuấn K, sinh năm 1992; Địa chỉ: D P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Anh H1, chị N1, anh T, anh K vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 20/8/2024 đến ngày 14/11/2024, Trương Trung N đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 08 giờ 45 phút, ngày 20/8/2024, N điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 65B1-161.33 đến trước nhà số F Đường F, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì thấy anh Nguyễn Văn H1 (sinh năm 1983) đang đứng ở quầy bán rau củ một mình. N đi đến hỏi anh H1 bao nhiêu 01 kg cam, anh H1 trả lời 12.000 đồng/kg thì N nói bán cho 20 kg cam chia làm 04 bịch, mỗi bịch 05 kg. Anh H1 bỏ cam vào bịch đưa cho N thì N mua tiếp 20kg cam cũng chia làm 04 bịch, mỗi bịch 05 kg; tiếp tục mua thêm 20 kg chia làm 01 bịch và 10 kg chia làm 02 bịch thì anh H1 đồng ý và đi sang bên đường lấy dây để cột bao cam cho N. Trong lúc anh H1 đi lấy dây, N thấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu xám của anh H1 để trong rổ đựng trái cây nên N lén lút lấy trộm điện thoại của anh H1 bỏ vào ngăn để đồ của xe N, rồi điều khiển xe bỏ đi, N đi được 10 mét thì bị anh H1 cùng người dân phát hiện bắt giữ và đưa về trụ sở Công an phường T, thành phố T làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trương Trung N khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như trên.

Kết luận định giá tài sản số 238-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus 64Gb có trị giá 1.563.000 đồng.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 16 giờ, ngày 14/11/2024, N điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen, biển số 59L3-021.46 từ nhà trọ nơi N ở tại địa chỉ 6, đường T, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh đi qua Quận G, rồi qua thành phố T tìm tài sản sở để trộm cắp. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, N đi vào tiệm “Trà Chanh Con Cá”, địa chỉ số A, đường N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì gặp chị Lê Phương N1 (sinh năm 2004, là nhân viên của quán) mua 05 ly trà sữa. Trong lúc, chị N1 đang cúi xuống làm nguyên liệu pha chế, N thấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu hồng của chị N1 để trên bàn. N lén lút dùng tay trái lấy trộm điện thoại di động của chị N1 bỏ vào ngăn để đồ của xe N, rồi điều khiển xe tẩu thoát. Trên đường đi, N dừng xe lại tháo sim và ốp lưng điện thoại vừa lấy trộm được vứt lại bên đường rồi tiếp tục điều khiển xe về nhà trọ tại địa chỉ 62/3, đường T, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi về gần đến nhà trọ, N giấu điện thoại di động Iphone 13 trong bãi rác rồi đi về nhà ngủ. Đến sáng ngày 15/11/2024, N quay lại bãi rác lấy điện thoại rồi đem đến cửa hàng điện thoại “Thuận Hòa M”, địa chỉ số F, đường H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho anh Nguyễn T (là chủ cửa hàng). Tại đây, anh T hỏi nguồn gốc điện thoại di động trên thì N nói là do nhặt được trên đường nên anh T mua với giá 1.500.000 đồng. Cùng ngày, anh T đã bán điện thoại di động trên cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) với số tiền 1.800.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trương Trung N khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như trên.

Kết luận định giá tài sản số 237-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 20/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu hồng, 256GB có trị giá 11.830.000 đồng

Như vậy, tổng giá trị tài sản và tiền do Trương Trung N đã trộm cắp vào ngày 20/8/2024 tại trước nhà số F Đường F, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và ngày 14/11/2024 tại tiệm “Trà Chanh Con Cá”, địa chỉ số A, đường N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là 13.393.000 đồng.

* Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

Vụ thứ nhất:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus 64GB, màu xám. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H) đã trả lại cho anh Nguyễn Văn H1 là chủ sở hữu (Bút lục: 95);
  • 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 65B1-161.33. Qua xác minh xe do ông Lê Văn D2 đứng tên chủ sở hữu. Ông D2 mua xe trên vào tháng 01/2012 và giao cho con trai là Lê Tín A quản lý sử dụng. Đến năm 2018, anh T1 bán xe trên cho 01 người chuyên kinh doanh xe cũ (không còn lưu giữ thông tin người mua). Khoảng đầu năm 2023, Trương Trung N mua lại xe trên thông qua trang web “chotot” với giá 13 triệu đồng và được người bán đưa 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lê Văn D2, sau đó đến tháng 06/2024 N cầm cố giấy chứng nhận đăng ký xe trên cho 01 người phụ nữ tên K1 (không rõ lai lịch).
  • 01 áo khoác dài tay có nón màu đen; 01 quần đùi màu đen.

Vụ thứ hai:

  • 01 nón bảo hiểm màu xám; 01 áo khoác màu xám; 01 thanh kim loại (dụng cụ lấy sim) và 01 điện thoại Iphone 14 Plus màu xanh dương, có gắn sim 0896028704, tất cả đều thu giữ của Trương Trung N (Bút lục: 162 – 163);
  • Tiền mặt 1.500.000 đồng, là tiền N bán điện thoại Iphone 13 màu hồng của chị N1 mà có được (Bút lục: 164);
  • Tiền mặt 1.800.000 đồng, là tiền anh T bán điện thoại Iphone 13 màu hồng cho người đàn ông không rõ lai lịch nên anh T tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra (Bút lục: 166);
  • 01 điện thoại di động hiệu S 3, màu đen, có gắn sim số 0988516191 (thu giữ của anh Nguyễn T). Qua xác minh điện thoại di dộng trên không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại cho anh T (Bút lục: 165-167; 187);
  • 01 xe mô tô hiệu Honda Vison, màu đen, biển số 59L3-021.46. Qua xác minh xe do anh Trần Ân  (sinh năm: 1999) đứng tên chủ sở hữu. Sau đó, ngày 02/3/2022 anh  làm hợp đồng ủy quyền xe trên cho anh Phạm Tuấn A1. Ngày 07/3/2024, anh Phạm Tuấn A1 làm hợp đồng ủy quyền cho anh Lê Tuấn C. Đến cuối tháng 3/2024, anh Lê Tuấn C bán lại xe trên cho anh Đặng Tuấn K, khi mua xe C đưa cho anh K 01 hợp đồng ủy quyền của chủ xe Trần Ân  cho Phạm Tuấn A1 và 01 hợp đồng ủy quyền của Phạm Tuấn A1 cho Lê Tuấn C. Đến ngày 24/4/2024, anh K bán xe mô tô trên cho Trương Trung N với số tiền 34.600.000 đồng, N trả trước số tiền 13.800.000 đồng và trả góp số tiền còn lại là 20.800.000 đồng, trả góp trong thời hạn 12 tháng, N đã trả được 05 tháng với số tiền 8.670.000 đồng (từ tháng 05 đến tháng 10/2024), đến tháng 11/2024 trở đi N không còn trả góp tiền xe cho anh K (Bút lục: 118 – 119, 146, 152 – 160)
  • 01 USB ghi lại hình ảnh N lấy trộm điện thoại di động của chị N1.

* Về trách nhiệm dân sự:

Anh Nguyễn Văn H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Chị Lê Phương N1 yêu cầu Trương Trung N bồi thường số tiền 11.830.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, anh Đặng Tuấn K yêu cầu bị cáo trả lại anh K 01 xe Honda Vison, màu đen, biển số 59L3-021.46. Tại bản tự khai ngày 25/6/2025, anh K xác nhận: Không yêu cầu nhận lại xe Honda nói trên, không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 20.800.000 đồng mà bị cáo còn nợ theo thỏa thuận trả góp, không có bất kỳ yêu cầu gì khác đối với bị cáo.

Anh Nguyễn T không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo.

Tại Cáo trạng số 321/CT-VKS.TPTĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Trương Trung N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm g, h, khoản 1, Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Trung Nhân T2 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2024.

Về xử lý vật chứng:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus 64GB, màu xám. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H) đã trả lại cho anh Nguyễn Văn H1 là chủ sở hữu.
  • 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 65B1-161.33. Qua xác minh xe do ông Lê Văn D2 đứng tên chủ sở hữu. Ông D2 mua xe trên vào tháng 01/2012 và giao cho con trai là Lê Tín A quản lý sử dụng. Đến năm 2018, anh T1 bán xe trên cho 01 người chuyên kinh doanh xe cũ (không còn lưu giữ thông tin người mua). Khoảng đầu năm 2023, Trương Trung N mua lại xe trên thông qua trang web “Chotot” với giá 13 triệu đồng và được người bán đưa 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lê Văn D2, sau đó đến tháng 06/2024 N cầm cố giấy chứng nhận đăng ký xe trên cho 01 người phụ nữ tên K1 (không rõ lai lịch). Kết quả tra cứu: xe mô tô biển số 65B1-161.33, không có thông tin trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Do đây là phương tiện phạm tội: Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • 01 áo khoác dài tay có nón màu đen; 01 quần đùi màu đen: Không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu, tiêu hủy.
  • 01 nón bảo hiểm màu xám; 01 áo khoác màu xám; 01 thanh kim loại (dụng cụ lấy sim) thu giữ của bị cáo Trương Trung N, do không còn giá trị sử dụng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy.
  • 01 điện thoại Iphone 14 Plus màu xanh dương, có gắn sim 0896028704, thu giữ của Trương Trung N, do không liên quan đến việc phạm tội: Đề nghị trả lại cho bị cáo.
  • Số tiền mặt là 3.300.000 đồng bao gồm: 1.500.000 đồng là tiền N bán điện thoại Iphone 13 màu hồng của chị N1 mà có được và 1.800.000 đồng là tiền anh T bán điện thoại của chị N1, anh T tự nguyện giao nộp. Đề nghị hoàn trả cho chị N1 để khắc phục 01 phần hậu quả.
  • 01 điện thoại di động hiệu S 3, màu đen, có gắn sim số 0988516191 (thu giữ của anh Nguyễn T). Qua xác minh điện thoại di dộng trên không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại cho anh T.
  • 01 xe mô tô hiệu Honda Vison, màu đen, biển số 59L3-021.46. Qua xác minh xe do anh Trần Ân  (sinh năm: 1999) đứng tên chủ sở hữu. Sau đó, ngày 02/3/2022 anh  làm hợp đồng ủy quyền xe trên cho ông Phạm Tuấn A1. Ngày 07/3/2024, anh Phạm Tuấn A1 làm hợp đồng ủy quyền cho anh Lê Tuấn C. Đến cuối tháng 3/2024, anh Lê Tuấn C bán lại xe trên cho anh Đặng Tuấn K, khi mua xe C đưa cho anh K 01 hợp đồng ủy quyền của chủ xe Trần Ân  cho Phạm Tuấn A1 và 01 hợp đồng ủy quyền của Phạm Tuấn A1 cho Lê Tuấn C. Đến ngày 24/4/2024, anh K bán xe mô tô trên cho Trương Trung N với số tiền 34.600.000 đồng, N trả trước số tiền 13.800.000 đồng và trả góp số tiền còn lại là 20.800.000 đồng trong thời hạn 12 tháng, N đã trả được 05 tháng với số tiền 8.670.000 đồng (từ tháng 05 đến tháng 10/2024), đến tháng 11/2024 trở đi N không còn trả góp tiền xe cho ông K. Do đây là phương tiện phạm tội: Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • 01 USB ghi lại hình ảnh N lấy trộm điện thoại di động của chị N1: Đề nghị tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Nguyễn Văn H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Chị Lê Phương N1 yêu cầu Trương Trung N bồi thường số tiền 11.830.000 đồng, chị N1 được nhận lại 3.300.000 đồng. Buộc bị cáo bồi thường cho chị N1 số tiền là 8.530.000 đồng.

Anh K, anh T không yêu cầu gì đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, đồng ý với kết luận định giá tài sản và không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị hại là anh Nguyễn Văn H1, chị Lê Phương N1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đặng Tuấn K, anh Nguyễn T vắng mặt tại phiên tòa. Các đương sự này đã cung cấp lời khai, xác định rõ yêu cầu nên xét việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo thủ tục chung.

[2] Xét tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

[3] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với kết luận định giá, vật chứng thu giữ, các đoạn camera giám sát... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát, nên có cơ sở xác định bị cáo Trương Trung N đã thực hiện các hành vi phạm tội cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Khoảng 08 giờ 45 phút, ngày 20/8/2024 tại trước nhà số F Đường F, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Trương Trung N có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus 64GB, màu xám có trị giá 1.563.000 đồng của anh Nguyễn Văn H1. Mặc dù, N lén lút chiếm đoạt tài sản dưới 2.000.000 đồng nhưng N bị Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/01/2024, chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội mới. Do đó, hành vi của N cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Vụ thứ 2: Khoảng 17 giờ ngày 14/11/2024 tại tiệm “Trà Chanh Con Cá”, địa chỉ số A, đường N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Trương Trung N có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu hồng, 256GB có trị giá 11.830.000 đồng của chị Lê Phương N1.

Tổng giá trị tài sản mà Trương Trung N đã chiếm đoạt trong các vụ nêu trên là 13.393.000 đồng.

Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt:

Đối với hành vi trộm 01 điện thoại của anh H1 trị giá 1.563.000 đồng. Xét mặc dù tài sản bị trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội mới. Ngoài ra bị cáo còn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị N1 trị giá 11.830.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm, quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo đã bị kết án về hình vi trộm cắp tài sản trước đó chưa được xóa án tích, tiếp tục tái phạm, bị cáo phạm tội hai lần trở lên. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thêm một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét giảm nhẹ 01 phần hình phạt khi lượng hình.

Đối với hành vi của anh Nguyễn T: Anh T không biết tài sản Trương Trung N bán cho là do trộm cắp mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xử lý hình sự đối với hành vi này là có căn cứ.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus 64GB, màu xám Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H) đã trả lại cho anh Nguyễn Văn H1 là chủ sở hữu là có căn cứ.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 65B1-161.33. Qua xác minh xe do ông Lê Văn D2 đứng tên chủ sở hữu. Ông D2 mua xe trên vào tháng 01/2012 và giao cho con trai là Lê Tín A quản lý sử dụng. Đến năm 2018, anh T1 bán xe trên cho 01 người chuyên kinh doanh xe cũ (không còn lưu giữ thông tin người mua). Khoảng đầu năm 2023, Trương Trung N mua lại xe trên thông qua trang web “chotot” với giá 13 triệu đồng và được người bán đưa 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lê Văn D2, sau đó đến tháng 06/2024 N cầm cố giấy chứng nhận đăng ký xe trên cho 01 người phụ nữ tên K1 (không rõ lai lịch). Kết quả tra cứu: xe mô tô biển số 65B1-161.33, không có thông tin trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Hội đồng xét xử xác định đây là tài sản của bị cáo dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 áo khoác dài tay có nón màu đen; 01 quần đùi màu đen, 01 nón bảo hiểm màu xám; 01 áo khoác màu xám; 01 thanh kim loại (dụng cụ lấy sim) thu giữ của bị cáo, xét không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại Iphone 14 Plus màu xanh dương, có gắn sim 0896028704, thu giữ của Trương Trung N: Xét điện thoại này không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền 3.300.000 đồng bao gồm: 1.500.000 đồng là tiền N bán điện thoại Iphone 13 màu hồng của chị N1 mà có được và 1.800.000 đồng là tiền anh T bán điện thoại của chị N1, anh T tự nguyện giao nộp. Xét số tiền trên là do bị cáo và anh T bán tài sản của chị N1 mà có, do đó, xét cần phải hoàn trả cho chị N1 để khắc phục 01 phần hậu quả.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu S 3, màu đen, có gắn sim số 0988516191 (thu giữ của anh Nguyễn T). Qua xác minh điện thoại di dộng trên không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại cho anh T là có căn cứ.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vison, màu đen, biển số 59L3-021.46. Qua xác minh xe do anh Trần Ân  (sinh năm: 1999) đứng tên chủ sở hữu. Sau đó, ngày 02/3/2022 anh  làm hợp đồng ủy quyền xe trên cho ông Phạm Tuấn A1. Ngày 07/3/2024, anh Phạm Tuấn A1 làm hợp đồng ủy quyền cho anh Lê Tuấn C. Đến cuối tháng 3/2024, ông Lê Tuấn C bán lại xe trên cho ông Đặng Tuấn K, khi mua xe C đưa cho anh K 01 hợp đồng ủy quyền của chủ xe Trần Ân  cho Phạm Tuấn A1 và 01 hợp đồng ủy quyền của Phạm Tuấn A1 cho Lê Tuấn C. Đến ngày 24/4/2024, anh K bán xe mô tô trên cho Trương Trung N với số tiền 34.600.000 đồng, N trả trước số tiền 13.800.000 đồng và trả góp số tiền còn lại là 20.800.000 đồng trong thời hạn 12 tháng, N đã trả được 05 tháng với số tiền 8.670.000 đồng (từ tháng 05 đến tháng 10/2024), đến tháng 11/2024 trở đi N không còn trả góp tiền xe cho ông K. Xét xe này là tài sản của bị cáo, sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 USB ghi lại hình ảnh N lấy trộm điện thoại di động của chị N1: do đây là dữ liệu điện tử, cần tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Anh Nguyễn Văn H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường, Anh K2, anh T không yêu cầu gì đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Chị Lê Phương N1 yêu cầu Trương Trung N bồi thường số tiền 11.830.000 đồng là giá trị tài sản bị trộm cắp. Do chị N1 được hoàn trả số tiền 3.300.000 đồng như đã nhận định ở trên nên buộc bị cáo bồi thường cho chị N1 số tiền là 8.530.000 đồng là có căn cứ.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Tuyên bố bị cáo Trương Trung N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Trương Trung N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay có nón màu đen; 01 quần đùi màu đen, 01 nón bảo hiểm màu xám; 01 áo khoác màu xám; 01 thanh kim loại (dụng cụ lấy sim).
    • Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 65B1-161.33 và 01 xe mô tô hiệu Honda Vison, màu đen, biển số 59L3-021.46.
    • Trả cho bị cáo 01 điện thoại Iphone 14 Plus màu xanh dương.

      (Theo quyết định chuyển vật chứng số 247/QĐVKSTPTĐ ngày 12/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và phiếu nhập kho vật chứng số NK25/349C ngày 16/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).

    • Chị Lê Phương N1 được nhận lại số tiền 3.300.000 (ba triệu ba trăm ngàn) đồng theo quyết định chuyển vật chứng số 247/QĐVKSTPTĐ ngày 12/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Giấy nộp tiền mặt số 2994453 ngày 16/5/2025 tại Ngân hàng TMCP Đ - chi nhánh T3 (nộp vào tài khoản số 39490303059900000, chủ tài khoản: Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức mở tại Phòng G- kho bạc nhà nước Khu vực I).
    • Lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa các đoạn video có liên quan đến vụ án.
  4. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 584 và Điều 589 của Bộ luật dân sự,

    Buộc bị cáo Trương Trung N có trách nhiệm bồi thường cho chị Lê Phương N1 số tiền 8.530.000 đồng (tám triệu năm trăm ba mươi ngàn) đồng ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Buộc bị cáo nộp 626.000 đồng tiền án phí bao gồm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 426.500 (bốn trăm hai mươi sáu ngàn năm trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo Trương Trung N chưa nộp án phí.

  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
    • Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
    • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 463/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 463/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Trung Nhân - Tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger