Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 463/2025/HS-PT

Ngày: 20 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán:

Ông Cao Văn Tám

Ông Hoàng Minh Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Đức Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 126/2024/TLPT- HS ngày 05 tháng 2 năm 2024 đối với bị cáo Hoàng Thị Thúy N và bị cáo Lê Thành L do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 627/2023/HSST ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

* Các bị cáo có kháng cáo:

1. Hoàng Thị Thúy N; giới tính: nữ; sinh ngày 08 tháng 05 năm 1975, tại tỉnh Bắc Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: P.3008 Tòa Diamond Flower, số D L, phường N, quận T, Thành phố Hà Nội và căn hộ A chung cư L N, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Nguyên Chủ tịch Hội đồng sáng lập Công ty TNHH T21 mới (N7), nguyên Chủ tịch HĐTV Công ty N7 (nay là Công ty TNHH C4); Đoàn thể: là đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 48 ngày 17/5 2021 của Ủy ban kiểm tra quận ủy H11; con ông: Hoàng Trọng L1 (chết) và bà Đặng Thị T (sinh năm

1951); chồng: Lê Anh T1, (sinh năm 1971 đã ly hôn) và có 02 người con (sinh năm 2003 và 2007).

Nhân thân: Bản án hình sự phúc thẩm số 719/2023/HS-PT ngày 25/9/2023 của Toà án nhân dân Cấp Cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt Hoàng Thị Thúy N 08 năm tù giam về tội: “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” (trong vụ án xảy ra tại Sở Y tế thành phố C và các đơn vị liên quan); Bản án hình sự phúc thẩm số 389/2023/HS-PT ngày 24/5/2023 của Toà án nhân dân Cấp Cao tại Thành phố Hà Nội đã tuyên phạt Hoàng Thị Thúy N 12 năm tù giam về tội: “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” (trong vụ án xảy ra tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ, Công ty Cổ phần T22 và các đơn vị liên quan); bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/3/2021 (trong vụ án Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng, xảy ra tại Sở Y tế tỉnh C). (có mặt)

2. Lê Thành L; giới tính: nam; sinh ngày 14 tháng 9 năm 1966, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Hẻm G, C, Khu phố A, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Nguyên Phó Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp Sở Y tế tỉnh T; con ông: Lê Thành K (sinh năm 1933) và bà Lê Thị L2 (sinh năm 1931); vợ: Nguyễn Thị Hồng T2 (sinh năm 1968) và có 02 người con (sinh năm 1992 và 2001); Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2022 đến ngày 23/10/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)

* Người bào chữa:

  • - Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị Thúy N: Luật sư Lê Văn H thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
  • - Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Lê Thành L: Luật sư Nguyễn Hồng N1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

* Bị hại: Sở y tế tỉnh T

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Bảo T3, sinh năm 1970 – Chánh thanh tra Sở Y tế (giấy ủy quyền lập ngày 17/06/2025, có mặt).

* Người kháng cáo: Bị cáo Hoàng Thị Thúy N và bị cáo Lê Thành L.

(Trong vụ án này còn có 12 bị cáo khác và 30 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sở Y tế tỉnh T (viết tắt: Sở Y tế) thuộc sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế của Ủy ban nhân dân tỉnh T (viết tắt: UBND tỉnh); đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Y. Sở Y tế do bị cáo Hoa Công H1 làm Giám đốc từ ngày 01/12/2015 theo Quyết định số 2718/QĐ-UBND ngày 25/11/2015 của UBND tỉnh. Ngày 27/4/2017, ông Phạm Văn T4 là Chủ tịch UBND tỉnh ký Quyết định số 13/2017/QĐ-UBND quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế, gồm: Giám đốc, các Phó Giám đốc, các đơn vị tham mưu tổng hợp và chuyên môn nghiệp vụ thuộc Sở Y; các cơ quan trực thuộc Sở Y tế; các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Y tế (trong đó có Bệnh viện Đa khoa tỉnh T); Ban quản lý dự án các công trình Sở Y tế.

Bệnh viện Đa khoa tỉnh T (viết tắt: Bệnh viện Đ) được thành lập theo Quyết định số 101/QĐ-UB ngày 19/08/1988 của UBND tỉnh, có địa chỉ tại: Số F Đường C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Ngày 20/3/2017, UBND tỉnh có Quyết định bổ nhiệm ông Liêu Chí H2 làm Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh, thời gian 05 năm kể từ ngày 01/4/2017.

Công ty TNHH T21 mới (viết tắt: N7) có địa chỉ: Số G đường F - T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; được Sở Kế hoạch và Đầu tư (Sở KH&ĐT) Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 09/9/2019, trên cơ sở phát triển mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH N7 (thành lập ngày

23/6/2014), vốn điều lệ 200 tỷ đồng do Hoàng Thị Thúy N làm Chủ tịch Hội đồng thành viên (góp vốn 160 tỷ đồng); Kim Trọng Đ, Tổng giám đốc (góp 40 tỷ đồng) và Lê Huy B, Phó Tổng giám đốc. Ngày 08/02/2021, N7 đăng ký thay đổi lần thứ 2, vốn điều lệ 200 tỷ đồng, gồm: Phạm Hoàng M góp 176 tỷ đồng tương đương 88% vốn điều lệ (nhận chuyển nhượng từ Hoàng Thị Thúy N); Kim Trọng Đ góp 24 tỷ đồng tương đương 12% vốn điều lệ. Hoàng Thị Thúy N làm Chủ tịch Hội đồng thành viên; Kim Trọng Đ, Tổng giám đốc; Lê Huy B, Phó Tổng giám đốc.

Các công ty trong hệ sinh thái của N7 do Hoàng Thị Thúy N bỏ vốn thành lập và chỉ đạo điều hành gồm: Công ty TNHH Đ3 thành lập năm 2014 do Trần Ngọc T5 làm Tổng giám đốc kinh doanh trong lĩnh vực thiết bị giáo dục; Công ty Cổ phần C5 thành lập năm 2017 do Bùi Mạnh T6 làm Tổng giám đốc kinh doanh trong lĩnh vực thiết bị chiếu sáng; Công ty Cổ phần C6 thành lập năm 2015 do Hoàng Thị Thúy N làm Tổng giám đốc; từ năm 2019 do Hoàng Hà A làm Tổng giám đốc kinh doanh trong lĩnh vực truyền thông, viễn thông; Công ty TNHH Đ4 thành lập năm 2019 do Trần Hải S làm Tổng giám đốc kinh doanh trong lĩnh vực đồ chơi trẻ em; Công ty Cổ phần Đ5 thành lập năm 2018 do Lê Vũ Tuấn A1 làm Tổng giám đốc kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản.

Công ty Cổ phần T23 (viết tắt: Công ty T23), trụ sở tại: Số B.611, Tầng F, Tòa nhà C số 181 đường Cao Thắng nối dài, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; được thành lập và hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Sở KH&ĐT Thành phố H cấp ngày 13/01/2010, người đại diện pháp luật là ông Lạc Thái M1. Công ty đã 04 lần thay đổi đăng ký kinh doanh, trong đó lần thay đổi lần thứ ba ngày 08/5/2017, thay đổi người đại diện pháp luật là Nguyễn Phước T7 - Tổng giám đốc; Ngày 22/10/2019, thay đổi người đại diện pháp luật là bà Thái Thị Thu T8 - Tổng giám đốc. Ngành nghề đăng ký kinh doanh: Tư vấn đấu thầu (trừ tư vấn tài chính, kế toán, pháp luật); lập dự án đầu tư thiết bị y tế; thẩm tra thiết kế; lập tổng dự toán và dự toán công trình; giám sát cung cấp, lắp đặt thiết bị y tế...

Công ty Cổ phần T24 (viết tắt: Công ty T24), trụ sở tại: Số A đường N, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; được thành lập và hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Sở KH&ĐT Thành phố H cấp ngày 16/6/2008. Đăng ký thay đổi lần 6

ngày 26/6/2015; Vốn điều lệ 18 tỷ đồng; người đại diện pháp luật là ông Đỗ Đồng T9 - Giám đốc. Ngành nghề đăng ký kinh doanh: Xây dựng nhà các loại, lắp đặt hệ thống điện, bán buôn đồ dùng khác cho gia đình...

Công ty TNHH T25, Hà Nội (viết tắt: Công ty T25), trụ sở tại: Số A, Ngõ A đường L, phường Ô, quận Đ, Thành phố Hà Nội, được Sở KH&ĐT Thành phố H cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 19/6/2001; đăng ký thay đổi lần 10 ngày 04/01/2017; vốn điều lệ 200 tỷ đồng, gồm 2 thành viên góp vốn là ông Nguyễn Đăng T10 - Tổng giám đốc góp 199,5 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 99,75% vốn điều lệ và là người đại diện theo pháp luật; bà Đinh Thị Minh T11 góp 500 triệu đồng chiếm tỷ lệ 0,25% vốn điều lệ. Đăng ký thay đổi lần thứ 13 ngày 22/01/2020, thay đổi người đại diện pháp luật là bà Ngô Thị Quỳnh H3 - Tổng giám đốc. Ngành nghề kinh doanh: Buôn bán trang thiết bị, dụng cụ y tế, buôn bán tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, buôn bán thiết bị điện tử tin học, buôn bán hóa chất, phân loại trang thiết bị y tế...

Công ty TNHH S6 (viết tắt: Công ty S6), trụ sở tại: Số F đường G, phường P, quận Đ, Thành phố Hà Nội; được Sở KH&ĐT Thành phố H cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tháng 10/2001, do ông Nguyễn Quý C làm Giám đốc và đại diện theo pháp luật; đăng ký thay đổi lần thứ 17 tháng 01/2020, do ông Nguyễn Đức L3 làm Giám đốc, người đại diện theo pháp luật. Ngành nghề kinh doanh: Buôn bán máy móc, thiết bị và phụ tùng máy văn phòng; máy móc, thiết bị y tế...

Công ty Cổ phần X (viết tắt: Công ty X), trụ sở tại: Số B phố B, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội; được Sở KH&ĐT Thành phố H cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tháng 03/2006; đăng ký thay đổi lần thứ 5 tháng 7/2015 do bà Trần Thị Lan A2 làm Giám đốc, đại diện theo pháp luật; đăng ký thay đổi lần thứ 9 vào tháng 5/2019 do ông Nguyễn Hải C1 làm Tổng giám đốc, đại diện theo pháp luật; đăng ký thay đổi lần thứ 10 vào tháng 11/2020 do bà Nguyễn Thị Thanh T12 làm Tổng giám đốc, đại diện theo pháp luật; vốn điều lệ: 800 tỷ đồng; ngành nghề kinh doanh: Kinh doanh các mặt hàng công nghiệp tiêu dùng, điện tử, điện máy, điều hòa nhiệt độ, trang thiết bị y tế...

Công ty cổ phần X1 (viết tắt: Công ty X1), trụ sở tại: Tầng F tòa nhà V, Số I phố D, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội; được Sở KH&ĐT Thành phố H cấp giấy chứng

nhận đăng ký kinh doanh vào tháng 3/2010; đăng ký thay đổi lần thứ 9 vào tháng 3/2020 do bà Nguyễn Khánh L4 - Chủ tịch HĐQT; ông Nguyễn Hoàng A3 - Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật (đã nghỉ việc đầu năm 2020). Vốn điều lệ 90 tỷ đồng; ngành nghề kinh doanh: Kinh doanh máy móc, trang thiết bị y tế, giáo dục, kinh doanh về lĩnh vực xây dựng...

Công ty TNHH V5 (viết tắt: Công ty V6), trụ sở tại: Số D đường T, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội; được Sở KH&ĐT Thành phố H cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 15/7/2008; đăng ký thay đổi lần thứ 5 vào ngày 15/12/2022 do ông Dương Tuấn A4 làm Giám đốc là người đại diện theo pháp luật; vốn điều lệ: 10 tỷ đồng; ngành nghề kinh doanh: Kinh doanh trang thiết bị khoa học kỹ thuật, thiết bị và dụng cụ y tế,...

1. Quá trình phê duyệt chủ trương mua sắm máy CT Scanner 128 lát cắt cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh T:

Ngày 28/06/2016, Bộ Y có Quyết định số 3107/QĐ-BYT về việc phê duyệt bổ sung điều chỉnh danh sách bệnh viện tham gia Đề án Bệnh viện vệ tinh giai đoạn 2016- 2020; Bệnh viện Đa khoa tỉnh T được tham gia đề án bệnh viện vệ tinh chuyên ngành tim mạch do Bệnh viện C7 chuyển giao kỹ thuật, trong đó có hệ thống máy CT Scanner.

Ngày 12/5/2017, ông Liêu Chí H2 là Giám đốc Bệnh viện Đ có Tờ trình số 287/TTr-BVĐK, đề xuất Sở Y tế đầu tư, mua sắm máy CT Scanner 128 lát cắt với dự kiến kinh phí là 30 tỷ đồng từ nguồn vốn sự nghiệp năm 2017.

Ngày 05/6/2017, Hoa Công H1 là Giám đốc Sở Y tế ký Tờ trình số 205/TTr-SYT, gửi UBND tỉnh và Sở Tài chính tỉnh, về trình chủ trương và bố trí kinh phí mua máy CT scanner 128 lát cắt cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh với tổng kinh phí dự kiến là 28 tỷ đồng, kèm theo Tờ trình số 287/TTr-BVĐK ngày 12/5/2017 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh.

Ngày 12/6/2017, ông Nguyễn Văn Đ1 là Giám đốc Sở T ký Công văn số 1304/STC-QLG&CS, trình UBND tỉnh có ý kiến về việc mua sắm máy CT Scanner 128 lát cắt là cấp thiết và Sở Y tế phải xây dựng kế hoạch mua sắm, sử dụng tài sản. Nguồn kinh phí trang bị từ nguồn điều chỉnh giảm dự toán đã giao cho đơn vị trong năm 2017.

Ngày 28/6/2017, ông Phạm Trung C2 thông báo kết luận của ông Nguyễn Thanh N2 là Phó Chủ tịch UBND tỉnh tại cuộc họp ngày 21/6/2017 về chủ trương mua hệ thống CT Scanner 128 lát cắt cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh là cần thiết; giao Sở Y tế chủ động xây dựng phương án liên kết, theo hướng xã hội hóa. Nếu việc vận động xã hội hóa khó khăn hoặc không hiệu quả thì đánh giá cụ thể để đề xuất phương án đầu tư từ ngân sách.

Ngày 17/7/2017, Hoa Công H1 là Giám đốc Sở Y ký Công văn số 276/SYT-KH, đề xuất UBND tỉnh B2 phương án là dùng ngân sách tỉnh hoặc vay vốn đầu tư máy CT Scanner 128 lát cắt.

Ngày 24/7/2017, thực hiện kết luận của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh N2 tại cuộc họp ngày 20/7/2017 về các phương án đầu tư máy CT Scanner 128 lát cắt, bị cáo Hoa Công H1 có văn bản gửi đến các Sở, Ngành của tỉnh xin ý kiến. Cùng ngày 25/7/2017, Sở KH&ĐT, Sở Tài chính và Bảo hiểm xã hội Việt Nam tỉnh T đều có văn bản thống nhất với Sở Y tế phương án đề xuất UBND tỉnh xem xét hỗ trợ ngân sách đầu tư máy CT Scanner 128 lát cắt cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh.

Ngày 28/7/2017, bị cáo Hoa Công H1 có Công văn số 293/SYT-KH trình UBND tỉnh đề xuất phương án hỗ trợ ngân sách đầu tư máy CT Scanner 128 lát cắt cho Bệnh viện Đ từ số kinh phí thu hồi (56 tỷ đồng) đã bố trí dự toán chi lương và các khoản tính chất lương do phải chi từ nguồn thu viện phí, theo kết luận của Kiểm toán nhà nước năm 2016. Ngày 11/9/2017, Văn phòng UBND tỉnh có văn bản thông báo ý kiến của ông Phạm Văn T4 - Chủ tịch; ông Nguyễn Thanh N2 và ông Dương Văn T13, là các Phó Chủ tịch UBND tỉnh thống nhất với đề xuất của Sở Y tế.

2. Hành vi của Hoa Công H1, Lê Thành L thuộc Sở Y Tế tỉnh T; Hoàng Thị Thúy N cùng các cá nhân tại Công ty N7; Nguyễn Phước T7 thuộc Công ty T23 vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng; Đặng Thị Mỹ N3 và Vũ Thị Thu N4 thuộc Sở Tài chính tỉnh T thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng:

- Việc bổ sung dự toán chi ngân sách năm 2017 cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh số tiền 28 tỷ đồng để mua máy CT Scanner 128 lá cắt.

Biết Sở Y tế tỉnh có nhu cầu trang bị hệ thống CT Scanner 128 lát cắt cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh T, tháng 7/2017 Hoàng Thị Thúy N cùng với Hoàng Ngọc Hồng P (Phó Ban quan hệ khách hàng Công ty N7) đến gặp Hoa Công H1 đặt vấn đề bán hệ thống CT Scanner của hãng Siemens Healthcare do Công ty N7 làm đại diện phân phối chính thức. Được ủng hộ của H1, N và P đã gặp Lê Thành L (Phó Phòng Kế hoạch Tài chính phụ trách mua sắm thiết bị của Sở Y), để Lữ lựa chọn hệ thống CT Scanner của hãng S7; đồng thời, N chỉ đạo P và Phùng Thị D (Trưởng phòng Dự án Công ty N7) phối hợp với hãng S7 đến Sở Y tế, Bệnh viện Đa khoa giới thiệu sản phẩm và thuyết phục chủ đầu tư lựa chọn hệ thống CT Scanner 128 lát cắt của hãng S8 với mức giá là 28 tỷ đồng.

Để tham mưu cho lãnh đạo Sở Y tế mua máy CT Scanner 128 lát cắt của hãng S8, L yêu cầu Công ty N7 cung cấp các báo giá của các công ty khác nhau đối với loại máy này. Theo yêu cầu của L, N đã chỉ đạo trên nhóm V và gửi email đến các thành viên trong nhóm và B1 Tổng giám đốc, yêu cầu Phúc, D phân công Đoàn Thị N5 (Phó Trưởng Phòng Dự án Công ty N7) làm các bảng báo giá của 04 công ty, theo đó P chỉ đạo: Về Thông số kỹ thuật: Những mục là để lựa chọn với S1 nhưng với Yêu cầu mời thầu là bắt buộc. Giá dự toán đã có, QHKH chỉ cần làm việc với khách hàng cam kết những nội dung đó sẽ cung cấp và sẽ có trong Yêu cầu mời thầu. Về Báo giá: Lập bảng báo giá 28 tỷ đính kèm TNKT đầy đủ gồm 2 phần: phần chuẩn và phần lựa chọn. Nếu làm lại thì nên đưa tất cả các yêu cầu của khách hàng vào làm cấu hình chuẩn (kể cả phần lựa chọn). Còn cấu hình lựa chọn thì sẽ thêm một vài tính năng khác nữa vào à ý này của SYT là cần cung cấp 1 cấu hình với tổng 28 tỷ theo nội dung 2 bên đã thống nhất và sẽ là cấu hình mời thầu.... Tiếp nhận chỉ đạo, N5 đã lập khống báo giá của hệ thống CT Scanner của 04 công ty, trong đó của Công ty N7 báo giá đầy đủ của 03 loại máy trong cùng hệ thống và loại máy 128 lát cắt có giá thấp nhất, phù hợp với giá dự toán là 28 tỷ. Cụ thể:

  • + Công ty TNHH N7 (Công ty N7): Có 03 bản báo giá Hệ thống CT kèm thông số kỹ thuật của hãng S7; Trong đó, hệ thống CT Scanner: 1128 lát cắt báo giá 28 tỷ đồng, 2256 lát cắt báo giá 52 tỷ đồng, 3384 lát cắt báo giá 65 tỷ đồng. 03 bảng báo giá này do Nguyễn Ngọc T14 (Tổng giám đốc Công ty N7) ký vào ngày 15/9/2017.
  • + Công ty Cổ phần X : 01 bản báo giá Hệ thống chụp cắt lớp vi tính 128 lát Optima CT660/GE/Mỹ, giá 30 tỷ đồng. Báo giá do Trần Thị Lan A2 (Giám đốc Công ty X) ký ngày 20/9/2017.
  • + Công ty Cổ phần X2 Thịnh: 01 bản báo giá Hệ thống CT Scanner 128 lát cắt Ingenuity CT/Philips/Mỹ, giá 29,6 tỷ đồng. Báo giá do Nguyễn Hoàng A3 (Giám đốc Công ty) ký ngày 22/9/2017.
  • + Công ty S9 01 bản báo giá Hệ thống CT Scanner 128 lát cắt Aquilion PRIME/Toshiba/Nhật Bản, giá 29,4 tỷ đồng. Báo giá do Nguyễn Quý C (Giám đốc công ty) ký ngày 03/10/2017.

Sau khi lập xong, Đoàn Thị N5 chuyển các báo giá trên cho Nguyễn Thị Thu H4, nhân viên Phòng Dự án đi liên hệ xin chữ ký và đóng dấu của đại diện các công ty để chuyển cho Bạch Thị Diệu H5 cung cấp cho Lê Thành L.

Trên cơ sở các báo giá này, Lê Thành L đã tham mưu cho Hoa Công H1 ký Tờ trình số 318/TTr-SYTngày 09/10/2017, trình UBND tỉnh và đồng gửi Sở T, đánh giá hệ thống CT 128 lát cắt hãng Siemens H6 có nhiều ưu điểm so với các hãng khác và đề xuất chấp thuận trang bị cho Bệnh viện Đ máy CT Scanner 128 lát cắt, model SOMATOM Definition AS+ do S10 cung cấp, với giá đề xuất khoảng 28 tỷ đồng. UBND tỉnh có ý kiến giao Sở T nghiên cứu, tham mưu UBND tỉnh về nội dung đề nghị của Sở Y tế. Ngày 11/10/2017 và ngày 25/10/2017, Sở T có văn bản gửi Sở Y tế và UBND tỉnh báo cáo Sở T không có ý kiến về loại máy và thông số kỹ thuật, đề nghị Sở Y tế nghiên cứu, khảo sát lựa chọn cấu hình kỹ thuật phù hợp với nhu cầu khám chữa bệnh và phù hợp với mức kinh phí từ 16 tỷ đến 36 tỷ.

Ngày 27/10/2017, Hoa Công H1 ký Tờ trình số 337/TTr-SYT, trình UBND tỉnh và đồng gửi Sở T, đề nghị phê duyệt kinh phí mua máy CT Scanner 128 lát cắt cho Bệnh viện Đ từ nguồn kinh phí thu hồi (56 tỷ đồng) đã bố trí dự toán chi lương và các khoản có tính chất lương do phải chi từ nguồn thu viện phí, với số tiền là 28 tỷ đồng; ngày 31/10/2017, ông Nguyễn Văn Đ1 là Giám đốc Sở T ký Công văn số 2832/STC-HCSN trình UBND Tỉnh về việc bổ sung kinh phí mua máy CT Scanner 128 lát cắt cho Bệnh

viện Đ là 28 tỷ đồng từ nguồn kinh phí này. Mức kinh phí 28 tỷ đồng Sở Tài chính đề xuất theo các báo giá của Sở Y tế cung cấp.

Ngày 08/11/2017, ông Dương Văn T13, ủy viên Ban cán sự Đảng UBND tỉnh ký Tờ trình Thường trực tỉnh ủy tỉnh Tây Ninh cho chủ trương giao bổ sung dự toán chi ngân sách tỉnh số tiền 28 tỷ đồng cho Sở Y tế để mua máy CT Scanner 128 lát cắt. Ngày 27/11/2017, ông Phạm Công V1 là Phó chánh Văn phòng tỉnh ủy ký Thông báo kết luận số 712-TB/VPTU của Thường trực tỉnh ủy về việc đồng ý chủ trương trang bị máy và bổ sung kinh phí cho Sở Y tế, từ nguồn chi lương năm 2017 của các đơn vị khám, chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế sử dụng không hết đã thu hồi về ngân sách tỉnh.

Ngày 01/12/2017, ông Dương Văn T13 là Phó Chủ tịch UBND tỉnh ký Quyết định số 2909/QĐ-UBND giao bổ sung dự toán chi ngân sách tỉnh năm 2017 cho Sở Y tế, số tiền 28 tỷ đồng để mua máy CT Scanner 128 lát cắt cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh từ nguồn sự nghiệp y tế của ngân sách tỉnh năm 2017. Ngày 06/12/2017, Hoa Công H1 ký Quyết định số 2771/QĐ-SYT giao bổ sung dự toán chi ngân sách năm 2017 cho Bệnh viện Đa khoa với số tiền 28 tỷ đồng để mua máy CT Scanner 128 lát cắt.

- Việc lập kế hoạch mua sắm và thẩm định giá gói thầu:

Theo yêu cầu của Lê Thành L, Công ty N7 phải cung cấp 03 bảng báo giá của 03 công ty khác nhau trong cùng hệ thống CT Scanner 128 lát cắt để phục vụ cho Sở Y tế lập kế hoạch mua sắm và thẩm định giá gói thầu. Hoàng Thị Thúy N chỉ đạo P, D giao cho Nông Thị Bích S2, Đoàn Thị N5 làm 03 bảng báo giá khống của 03 công ty khác nhau, theo đó P chỉ đạo: Làm thêm 03 bảng báo giá kèm theo tính năng kỹ thuật của 03 hãng khác nhau cho CT 128 như P1, T15, GE nhưng phải chọn công ty hoạt động lĩnh vực y tế để báo giá. Làm lại 03 bảng báo giá đính kèm tính năng kỹ thuật của các model khác của S1... Báo giá phải luôn có cấu hình kèm theo..., không dùng báo giá của N7 và B cho cùng 1 dự án, trước đây đã nhắc D nhiều lần, đặc biệt lưu ý không dùng báo giá của B cho Tây N6 nữa. Tiếp nhận chỉ đạo trên, N5 và S2 đã lập báo giá khống của các công ty khác nhau, trong đó Công ty N7 báo giá thấp nhất là 28 tỷ đồng và đưa D kiểm tra lại, sau đó nhờ Công ty V6, Công ty T26 đóng dấu để chuyển cho Hoàng Ngọc Hồng P, Bạch Thị Diệu H5 cung cấp cho Lê Thành L. Các báo giá gồm:

  • + Công ty S9 01 báo giá Hệ thống CT Scanner 128 lát cắt Definition AS plus/Siemens/Đức, đơn giá 29,4 tỷ đồng. Báo giá do Nguyễn Quý C (Giám đốc công ty) ký ngày 16/11/2017.
  • + Công ty TNHH V5 (viết tắt: Công ty V6): 01 báo giá Hệ thống chụp CT 128 lát cắt Definition AS plus/Siemens/Đức, báo giá 28,585 tỷ đồng. Báo giá do Bùi Hồng Q (phụ trách kỹ thuật của công ty ký (không đề ngày tháng năm, không có chữ ký người đại diện pháp luật).
  • + Công ty N7: 01 báo giá Hệ thống CT 128 lát cắt Definition AS plus/Siemens/Đức, báo giá 28 tỷ đồng. Báo giá do Nguyễn Ngọc T14 (Giám đốc công ty) ký tháng 11/2017.

Ngày 06/12/2017, Hoa Công H1 ký Tờ trình số 374/TTr-SYT, đề nghị Sở T thẩm định và trình UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch mua sắm và kế hoạch lựa chọn nhà thầu gói thầu “Mua sắm hệ thống CT Scanner 128 lát cắt cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh”, kèm 03 bảng báo giá của 03 doanh nghiệp nêu trên.

Thực hiện công tác thẩm định kế hoạch mua sắm, kế hoạch đấu thầu, ông Nguyễn Văn Đ1 - Giám đốc Sở T phân công ông Phạm Hồng  (Phó Giám đốc), Đặng Thị Mỹ N3 (Trưởng phòng), Vũ Thị Thu N4 (Chuyên viên Phòng quản lý giá và công sản) tổ chức thẩm định. Quá trình thẩm định Đặng Thị Mỹ N3 và Vũ Thị Thu N4 tiến hành thẩm định giá gói thầu theo quy định tại Điều 13 Thông tư 58/2016/TT-BTC ngày 29/3/2016 của Bộ T27 là căn cứ vào 03 bảng báo giá của 03 đơn vị khác nhau đã được lập khống nêu trên. Đối với 03 bảng báo giá thì bảng báo giá của VITHACOM không đúng quy định về báo giá: Báo giá không có dấu Công ty đóng trên chữ ký của người đã ký, chỉ có dấu treo; Người đại diện pháp luật của VITHACOM là Dương Tuấn A4 - giám đốc, không ký mà người ký là Bùi Hồng Q, không ghi chức danh pháp lý trên chữ ký, Q là kỹ thuật viên của công ty được Nguyễn Hồng S3 - nhân viên kinh doanh nhờ ký; Báo giá là Bảng chào hàng nhưng không ghi ngày tháng năm, Vũ Thị Thu N4 tự ý gọi điện cho Sở Y tế và tự điền ngày để hợp thức (không báo cáo Đặng Thị Mỹ N3). Với báo giá như trên, Nguyễn Hồng S3 là nhân viên kinh doanh của công ty V6 xác nhận đây không phải là bảng chào hàng của VITHACOM lập và phát hành, không có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, Đặng Thị Mỹ N3 và Vũ Thị Thu N4 thẩm định và xác định báo giá hợp lệ, sau đó

xác định giá gói thầu là 28 tỷ đồng và trình ông Nguyễn Văn Đ1 - Giám đốc Sở T phê duyệt. Ngày 12/12/2017, ông Nguyễn Văn Đ1 ký Báo cáo thẩm định số 470/BCTĐ-STC phê duyệt kế hoạch mua sắm và kế hoạch đấu thầu, gói thầu “Mua sắm hệ thống CT Scanner 128 lát cắt tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh” cho Sở Y tế, trình UBND tỉnh.

Ngày 19/12/2017, ông Dương Văn T13 là Phó Chủ tịch UBND tỉnh ký Quyết định số 3072/QĐ-UBND, phê duyệt kế hoạch mua sắm và kế hoạch đấu thầu gói thầu mua sắm hệ thống CT Scanner 128 lát cắt cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh với giá trị gói thầu là 28 tỷ đồng, từ nguồn sự nghiệp y tế của ngân sách tỉnh năm 2017, hình thức lựa chọn nhà thầu là đấu thầu rộng rãi trong nước (theo hình thức mua sắm tập trung), phương thức lựa chọn nhà thầu là một giai đoạn, hai túi hồ sơ. Loại hợp đồng theo đơn giá cố định (theo cách thức thỏa thuận khung). Chủ đầu tư là Sở Y tế - đơn vị mua sắm tập trung.

- Quá trình tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà thầu:

Căn cứ Quyết định phê duyệt kế hoạch mua sắm, kế hoạch đấu thầu của UBND tỉnh, ngày 27/12/2017, ông Trần Văn S4 (Phó Giám đốc Sở Y) ký Phiếu đăng ký thông báo mời thầu gửi Báo đấu thầu B3. Ngày 28/12/2017, B3 ra số 248 đăng tải thông tin Sở Y tổ chức đấu thầu Thời gian phát hành HSMT: Từ 08 giờ 00 phút, ngày 04/01/2018 đến trước 14 giờ 00 phút, ngày 25/01/2018; Thời điểm đóng thầu: 14 giờ 00 phút, ngày 25/01/2018; Thời điểm mở thầu: 14 giờ 30 phút, ngày 25/01/2018.

Ngày 29/12/2017, Hoa Công H1 ký Quyết định số 3227/QĐ-SYT, phê duyệt chỉ định Công ty Cổ phần T23 làm đơn vị tư vấn lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu gói thầu mua sắm hệ thống CT Scanner 128 lát cắt cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh. Cùng ngày, Hoa Công H1 và bà Thái Thị Thu T8 (Phó Tổng giám đốc Công ty T23) ký Hợp đồng số 56/HĐ-NSG về việc tư vấn lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu; Chất lượng công việc do công ty thực hiện phải chịu trách nhiệm tuân thủ quy định pháp luật hiện hành của nhà nước trong đấu thầu; Giá trị hợp đồng: 61.600.000 đồng; Hình thức hợp đồng trọn gói; Thời gian thực hiện hợp đồng: tháng 12/2017 và quý I/2018.

Ngày 29/12/2017, bà Thái Thị Thu T8 ký quyết định thành lập Tổ chuyên gia tư vấn lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu do ông Huỳnh Việt H7, kỹ sư kỹ thuật xây dựng làm Tổ trưởng.

Trước khi Công ty T23 lập hồ sơ mời thầu, Hoàng Thị Thúy N chỉ đạo Phùng Thị D cung cấp thông số kỹ thuật hệ thống CT Scanner 128 lát cắt hãng Siemens H6 cho Lê Thành L để đưa vào yêu cầu mời thầu. Lữ đã đưa cho Nguyễn Phước T7 là thành viên của Tổ tư vấn tập tin chứa thông số kỹ thuật của hệ thống CT Scanner 128 lát cắt hãng S, trong đó có 04 thông số kỹ thuật đặc thù thiết bị yêu cầu T7 đưa vào hồ sơ mời thầu tạo lợi thế cho thiết bị hãng Siemens Healthcare do Công ty N7 phân phối trúng thầu.

Để thuận lợi trong quá trình tham gia đấu thầu, N chỉ đạo Phùng Thị D liên hệ, bố trí các công ty “quân xanh” tham gia mua hồ sơ mời thầu và nộp hồ sơ dự thầu tạo điều kiện cho Công ty N7 trúng thầu. Theo đó, Hoàng Ngọc Hồng P giao Bạch Thị Diệu H5 đi mua hồ sơ mời thầu cho Công ty NSJ và bố trí người đi mua hồ sơ mời thầu thay cho Công ty T25, Công ty T24 và Công ty T28 Sau khi mua hồ sơ mời thầu, N chỉ đạo D giao cho Nông Thị Bích S2, Đoàn Thị N5 chuẩn bị hồ sơ dự thầu thay cho Công ty T25, Công ty T24, sau đó nhờ Nguyễn Đăng T10, Giám đốc Công ty T25, ông Đỗ Đồng T9, Giám đốc Công ty T24 ký đóng dấu để hoàn thành hồ sơ dự thầu. P và D phân công Đoàn Thị N5 đi nộp hồ sơ dự thầu và tham gia mở thầu cho Công ty N7, đồng thời bố trí nhân viên Công ty N7 (không nhớ bố trí nhân viên nào) đi nộp hồ sơ dự thầu và tham gia mở thầu thay cho các công ty “quân xanh”.

Ngày 29/12/2017, Hoa Công H1 ký Quyết định số 3228/QĐ-SYT thành lập Tổ thẩm định hồ sơ mời thầu, thẩm định kết quả đánh giá hồ sơ dự thầu về mua sắm đấu thầu gói thầu mua sắm hệ thống CT Scanner 128 lát cắt cho Bệnh viện Đa khoa do Lê Thành L là chuyên viên Văn phòng Sở Y tế làm Tổ trưởng, có nhiệm vụ thẩm định hồ sơ mời thầu, thẩm định kết quả đánh giá hồ sơ dự thầu, tổ tự giải tán sau khi hoàn thành việc thẩm định gói thầu “Mua sắm hệ thống CT Scanner 128 lát cắt cho Bệnh viện Đ”.

Ngày 31/12/2017, Lê Thành L đại diện chủ đầu tư đã tổ chức cuộc họp với Nguyễn Phước T7 và ông Thái Minh T16 đại diện Công ty T23 tại Sở Y để thống nhất các tiêu

chí trong yêu cầu hồ sơ mời thầu. Nguyễn Phước T7 và ông Thái Minh T16 tiến hành lập hồ sơ mời thầu theo yêu cầu của Lê Thành L.

Trên cơ sở Tờ trình số 03/TTr-NSG ngày 02/01/2018 của Công ty T23 đề nghị thẩm định và phê duyệt hồ sơ mời thầu gói thầu mua sắm hệ thống CT Scanner 128 lát cắt cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh. Ngày 03/01/2018, Tổ thẩm định Sở Y tế ban hành báo cáo thẩm định hồ sơ mời thầu gói thầu “Mua sắm hệ thống CT Scanner 128 lát cắt cho Bệnh viên Đa khoa tỉnh”, nêu rõ: Bộ phận thẩm định thống nhất với nội dung hồ sơ mời thầu và không có ý kiến bảo lưu của thành viên thẩm định. Ngày 03/01/2018, Hoa Công H1 đã ký Quyết định số 04/QĐ-SYT phê duyệt hồ sơ mời thầu gói thầu: “Mua sắm hệ thống CT Scanner 128 lát cắt cho Bệnh viên Đa khoa tỉnh”.

Thời gian phát hành hồ sơ mời thầu từ 08 giờ 00 phút ngày 04/01/2018 đến trước 14 giờ 00 phút ngày 25/01/2018.

Trước khi dự thầu, ngày 16/1/2018 Hoàng Thị Thúy N chỉ đạo Kim Trọng Đ ký hợp đồng cung cấp thiết bị giữa Công ty N7 với Công ty TNHH S11 để Công ty N7 mua máy CT 128 lát cắt của hãng. Trong hợp đồng ghi rõ: Công ty N7 mua thiết bị để cung cấp cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh T; NSJ là khách hàng cuối cùng; do đó, hãng S5 sẽ không bán thiết bị này cho bất kỳ nhà phân phối nào khác ngoài Công ty N7 để cung cấp cho Bệnh viện Đ. Điều 5 trong Hợp đồng quy định địa điểm giao hàng tại phòng lắp đặt máy tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T. Việc ký hợp đồng trước với Siemes Healthcare các nội dung trên thể hiện Hoàng Thị Thúy N đã chắc chắn Công ty N7 sẽ trúng thầu cung cấp thiết bị theo thỏa thuận trước với Sở Y tế tỉnh T dù chưa tổ chức đầu thầu.

Đến thời điểm đóng thầu ngày 25/01/2018, tại Sở Y tế có 03 nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu, gồm:

  • + Công ty N7 do Nguyễn Ngọc T14 ký giấy giới thiệu ngày 24/01/2018, giới thiệu nhân viên Đoàn Thị N5 đến nộp hồ sơ dự thầu.
  • + Công ty Cổ phần T24 do ông Đỗ Đồng T9 (Giám đốc) ký giấy giới thiệu ngày 24/01/2018, giới thiệu nhân viên Nguyễn Văn Đ2 nộp hồ sơ dự thầu.
  • + Công ty TNHH T25 do ông Nguyễn Đăng T10 (Tổng Giám đốc) ký giấy giới thiệu ngày 25/01/2018, giới thiệu nhân viên Ngô Thị Khánh C3 nộp hồ sơ dự thầu.

Tiến hành mở hồ sơ đề xuất kỹ thuật của các nhà thầu, ngày 31/01/2018 Công ty T23 trình Báo cáo đánh giá hồ sơ đề xuất kỹ thuật số 43/BC-NSG, kết quả đánh giá: Công ty T24, Công ty T25 đều không đạt về năng lực và kinh nghiệm, không đáp ứng về tính chất và quy mô của hợp đồng tương tự theo quy định của hồ sơ mời thầu; Công ty N7 là nhà thầu đạt yêu cầu về mặt kỹ thuật. Ngày 31/01/2018, Công ty T23 có Tờ trình số 461/TTr-NSG, về việc phê duyệt danh sách nhà thầu đạt yêu cầu kỹ thuật, nội dung tên nhà thầu đạt yêu cầu về mặt kỹ thuật là Công ty N7.

Ngày 05/02/2018, Lê Thành L là Tổ trưởng và Trương Thái Thanh V2 là thành viên Tổ thẩm định ký báo cáo thẩm định kết quả đánh giá hồ sơ đề xuất về kỹ thuật gửi Giám đốc Sở Y tế thống nhất về kết quả lựa chọn nhà thầu. Cùng ngày, Hoa Công H1 là Giám đốc Sở Y tế ký Quyết định số 424/QĐ-SYT phê duyệt Công ty N7 là nhà thầu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Ngày 06/02/2018, tiến hành mở Hồ sơ đề xuất tài chính của Công ty N7 do Kim Trọng Đ là Phó Tổng giám đốc ký, giá dự thầu ghi trong đơn dự thầu là 27,88 tỷ đồng.

Ngày 08/02/2018, Công ty T23 trình Báo cáo đánh giá hồ sơ đề xuất tài chính số 53/BC-NSG và Tờ trình số 58/TTr-NSG đề nghị thương thảo hợp đồng, thẩm định và phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu. Cùng ngày, Tổ thẩm định ký báo cáo thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu gửi Giám đốc Sở Y tế thống nhất kết quả lựa chọn nhà thầu. Đề nghị Giám đốc Sở Y tế phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu.

Ngày 09/02/2018, Hoa Công H1 ký Quyết định số 511/QĐ-SYT phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, công ty trúng thầu: Công ty N7, giá trúng thầu là 27,88 tỷ đồng.

Ngày 09/02/2018, Hoa Công H1 và Nguyễn Ngọc T14 là Tổng giám đốc Công ty N7 ký thỏa thuận khung mua sắm tập trung gồm 01 tài sản là Hệ thống CT Scanner 128 lát cắt (ký hiệu: SOMATOM Definition AS, Hãng sản xuất: Siemens Healthcare, Xuất xứ: Đức, có giá trị 27,88 tỷ đồng (đã bao gồm thuế, phí, chi phí lắp đặt, vận chuyển, bảo hành). Bệnh viện Đ là đơn vị trực tiếp sử dụng và thanh toán.

- Tổ chức thực hiện hợp đồng, nghiệm thu, thanh toán:

Sau khi Công ty N7 thực hiện bảo lãnh thực hiện hợp đồng, ngày 22/02/2018, ông Liêu Chí H2 là Giám đốc Bệnh viện Đ và Nguyễn Ngọc T14 là Tổng Giám đốc Công ty N7 tiến hành ký Hợp đồng cung cấp Hệ thống CT Scanner 128 lát cắt (ký hiệu: SOMATOM Definition AS, Hãng sản xuất: Siemens Healthcare, Xuất xứ: Đức), tài sản có giá trị 27,88 tỷ đồng. Thời gian giao nhận tài sản: 90 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng. Ngày 24/4/2018, ký biên bản nghiệm thu bàn giao và lắp đặt thiết bị tại Bệnh viện Đ. Công ty TNHH N7 xuất hóa đơn giá trị gia tăng hàng hóa: Hệ thống CT Scanner 128 lát cắt có giá trị 27,88 tỷ đồng, cung cấp đầy đủ bộ chứng từ theo hợp đồng đã ký kết.

Trong các ngày từ 06/3/2018 đến ngày 11/5/2018, đại diện Bệnh viện Đa khoa tỉnh, ông Liêu Chí H2 là Giám đốc đã ký giấy rút dự toán ngân sách thanh toán cho Công ty N7 và ký biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng.

- Về xác định hậu quả thiệt hại:

Căn cứ Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP ngày 13/12/2017: “...hậu quả thiệt hại tối thiểu do hành vi vi phạm pháp luật gây ra được xác định theo nguyên tắc lấy tổng chi phí đầu tư dự án trừ đi chi phí hợp lý, hợp lệ được chấp nhận...”; Căn cứ hướng dẫn tại khoản 2 Điều 10 Thông tư 25/2014/TT-BTC ngày 17/02/2014 của Bộ T27 quy định phương pháp định giá chung hàng hóa, dịch vụ theo phương pháp chi phí đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu, thiệt hại của vụ án được xác định bằng giá trị chênh lệch đầu vào, đầu ra là 13.008.039.000 đồng (= Giá trúng thầu: 27,88 tỷ đồng – Tổng trị giá mua: 14.871.961.000 đồng). Đối với các chi phí chung của doanh nghiệp như: chi phí bán hàng, chi phí quản lý, chi phí tài chính (nếu có), lợi nhuận dự kiến (nếu có) không có cơ sở để xác định.

Tại bản Cáo trạng số 8163/CT-VKSTC-V3 ngày 23/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao đã truy tố các bị cáo: Hoa Công H1, Lê Thành L, Nguyễn Phước T7, Hoàng Thị Thúy N, Phùng Thị D, Nông Thị Bích S2, Đoàn Thị N5, Hoàng Ngọc Hồng P, Bạch Thị Diệu H5, Nguyễn Ngọc T14, Kim Trọng Đ, Hoàng Ngọc Q1 về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”, theo quy định tại khoản 3 Điều 222 Bộ luật Hình sự năm 2015; Đặng Thị Mỹ N3 và Vũ Thị Thu N4 về tội “Thiếu trách

nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại khoản 2 Điều 285 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.

Ngoài ra, Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao còn kiến nghị xử lý trách nhiệm các cá nhân có liên quan: 05 cá nhân liên quan thuộc Công ty N7, gồm: Ông Lê Huy B (nguyên Phó Tổng giám đốc); bà Nguyễn Thị Mai H8 (nguyên Trưởng Phòng Sản phẩm thuộc Khối Y tế); bà Nguyễn Thị M2 (nguyên Phó Giám đốc Ban hàng hóa); bà Nguyễn Bảo T17 (nhân viên Phòng Dự án); bà Nguyễn Thị Thu H4 (nhân viên Phòng Dự án); Ông Liêu Chí H2 (Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh T) và các thành viên Hội đồng khoa học kỹ thuật Bệnh viện; bà Trương Thái Thanh V2 (chuyên viên Sở Y tế); ông Nguyễn Văn Đ1 (nguyên Giám đốc Sở T); ông Phạm Hồng  (nguyên Phó Giám đốc sở T); UBND tỉnh T: lãnh đạo UBND tỉnh, ông Phạm Văn T4, ông Nguyễn Thanh N2 và ông Dương Văn T13; Các ông Phạm Trung C2 (Nguyên Chánh Văn phòng UBND tỉnh), ông Trương Văn H9 (Nguyên Phó Chánh Văn phòng UBND tỉnh), ông Trương Văn H10 (Nguyên Trưởng phòng) và ông Huỳnh Quang V3 (Chuyên viên); các cá nhân liên quan thuộc Công ty T23: bà Thái Thị Thu T8, ông Thái Minh T16; Huỳnh Việt H7, Dương Minh T18 và 02 công ty “quân xanh” (gồm: Công ty T24, Công ty T25) và 04 công ty báo giá (gồm:Công ty S6, V4, K, Toàn T19);

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 627/2023/HSST ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:

- Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 222; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị Thúy N 06 (sáu) năm tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”. Tổng hợp với Bản án hình sự phúc thẩm số 719/2023/HS-PT ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt bị cáo 08 (tám) năm tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” và Bản án hình sự phúc thẩm số 389/2023/HS-PT ngày 24 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội xử phạt bị cáo 1 (mười hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” thành

hình phạt chung của 03 bản án là 26 (hai mươi sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/3/2021.

Cấm bị cáo làm công việc liên quan đến đấu thầu trong thời hạn 03 (ba) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

- Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 222; điểm b, s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Lê Thành L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án, được trừ thời gian tạm giam từ 17/5/2022 đến ngày 23/10/2023.

Cấm bị cáo làm công việc liên quan đến đấu thầu trong thời hạn 02 (hai) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với 12 bị cáo khác; trách nhiệm dân sự, án phí, quyền kháng cáo và việc thi hành án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • - Ngày 11/01/2024, bị cáo Lê Thành L có đơn kháng cáo xin được miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29 Bộ luật hình sự .
  • - Ngày 08/01/2024, bị cáo Hoàng Thị Thúy N có đơn kháng cáo đề nghị xem xét cho bị cáo không có hành vi gian lận và thiếu công bằng, minh bạch trong hoạt động đấu thầu, xem xét lại việc định giá tài sản và xác định thiệt hại của vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo Hoàng Thị Thúy N, Lê Thành L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Bị cáo N cho rằng bị cáo không có hành vi thông thầu, nếu tính trừ các chi phí hợp lý thì không có thiệt hại nên đề nghị Cấp phúc thẩm áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội để tuyên bố bị cáo không phạm tội; còn bị cáo L cho rằng bị cáo không cố tình gây thiệt hại cho Nhà nước, thiệt hại xảy ra là do không có nhà thầu nào khác dự thầu, bị cáo đã tìm giá tốt nhất cho Nhà nước nên đề nghị chấp nhận kháng cáo.;
  • - Đại diện bị hại Sở Y tế tỉnh T: đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

- Luật sư bào chữa cho các bị cáo:

  • + Đối với bị cáo Lê Thành L: Thống nhất với tội danh mà cấp sơ thẩm đã tuy tố, xét xử: Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm, thực hiện theo yêu cầu của cấp trên, bị lệ thuộc, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị chấp nhận kháng cáo để giảm nhẹ hình phạt thêm cho bị cáo.
  • + Đối với bị cáo Hoàng Thị Thúy N: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo không trực tiếp chỉ đạo cho cấp dưới thực hiện việc đấu thầu, mà các bộ phận thuộc công ty tiến hành theo nhiệm vụ được phân công; Về thiệt hại là chưa tính các chi phí cung cấp thiết bị cho bệnh viện mà công ty N7 đã chi trả theo quy định; bị cáo không có việc thông thầu trước với bị cáo H1; nên đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về kháng cáo của các bị cáo: Căn cứ vào các lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao đã truy tố; Do đó, Tòa sơ thẩm xét xử và tuyên bố các bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan cho các bị cáo và mức hình phạt 06 năm tù đối với bị cáo N, 03 năm 6 tháng tù đối với bị cáo L là phù hợp với tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Giai đoạn xét xử phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên mức hình phạt mà bản án sơ thẩm đã tuyên.

- Quan điểm tranh luận giữa các Luật sư, các bị cáo và đại diện Viện kiểm sát được thể hiện tại biên bản phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét về tội danh, thấy rằng:

[1.1]. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Lê Thành L thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử; còn bị cáo N đề nghị tuyên bố bị cáo không phạm tội vì không có thiệt hại.

Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm (trong đó có bị cáo N và nhân viên thuộc cấp của bị cáo), các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án; có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Hoàng Thị Thúy N (Chủ tịch N7, nguyên Chủ tịch HĐTV Công ty N7) cùng cấp dưới thuộc Công ty N7 (gồm các bị cáo khác trong vụ án) đã có hành vi thông đồng với các bị cáo tại Sở Y tế tỉnh T: Hoa Công H1, Lê Thành L và Nguyễn Phước T7 (Công ty T23) để thông đồng, thỏa thuận trước, cung cấp các báo giá khống để phục vụ bổ sung dự toán, thẩm định tính pháp lý của gói thầu; chỉ đạo “cài” 04 thông số kỹ thuật đặc thù của hệ thống CT Scanner 128 lát cắt của hãng Siemens H6 (gọi tắt là C8) đưa vào điều kiện hồ sơ mời thầu; lợi dụng chức vụ quyền hạn để can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động đấu thầu là hành vi thông thầu, gian lận, không đảm bảo công bằng, minh bạch trong hoạt động đấu thầu, vi phạm khoản 2, 3, 4, 6 Điều 89 Luật Đấu thầu, nhằm mục đích để cho Công ty N7 trúng thầu và thu lợi bất chính lớn, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng cho tài sản của Nhà nước với số tiền 13.008.039.000 đồng.

Theo đó, bị cáo N được xác định có vai trò chủ mưu, cầm đầu nhóm các bị cáo thuộc Công ty N7; còn bị cáo L có vai trò đồng phạm tích cực.

Việc bị cáo N kháng cáo cho rằng không có hành vi gian lận và không minh bạch trong hoạt động đấu thầu là không có cơ sở chấp nhận; Còn việc xác định hậu quả thiệt hại vụ án đã thực hiện đúng theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 10 Thông tư 25/2014/TT-BTC ngày 17/02/2014 của Bộ T27 và Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP ngày 13/12/2017 của Liên ngành tư pháp Trung ương.

[1.2]. Với những hành vi, chứng cứ nêu trên, Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử các bị cáo Hoàng Thị Thúy N, Lê Thành L đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại khoản 3 Điều 222 Bộ luật Hình sự năm 2015

sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo thấy rằng:

[2.1]. Đối với bị cáo Hoàng Thị Thúy N.

Bị cáo N (Chủ tịch N7, nguyên Chủ tịch HĐTV Công ty N7) trực tiếp điều hành, phân công lãnh đạo các phòng, ban phụ trách dự án tại nhiều địa phương; đã thông đồng với bị cáo Hoa Công H1 (Giám đốc Sở Y tế tỉnh T), trực tiếp chỉ đạo nhân viên lập hồ sơ mua sắm, tổ chức lựa chọn nhà thầu tạo lợi thế cho Công ty N7 trúng thầu. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm hại trực tiếp trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về đấu thầu mua sắm tài sản công nói riêng và đấu thầu tài sản nói chung, gây thiệt hại cho tài sản Nhà nước số tiền 13.008.039.000 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: khai báo thành khẩn, khắc phục hậu quả theo các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015 là đã có lợi cho bị cáo (vì số tiền nộp khắc phục hậu quả không đáng kể so với thiệt hại), mức án 06 năm tù đối với bị cáo là nhẹ (dưới khung); Tuy nhiên, do không bị kháng cáo, kháng nghị tăng hình phạt nên Cấp phúc thẩm giữ nguyên mức hình phạt, đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo.[2.2]. Đối với bị cáo Lê Thành L.

Là người được giao phụ trách công tác mua sắm hệ thống CT Scanner 128 cho Bệnh viện Đ; bị cáo có vai trò tham gia tích cực trong việc tham mưu cho bị cáo H1 ký các văn bản, xin chủ trương, lập và phê duyệt dự toán mua sắm, thẩm định kế hoạch lựa chọn nhà thầu; thỏa thuận với Nguyễn Phước T7 cài các thông số kỹ thuật đặc thù của hệ thống CT Scanner 128 vào hồ sơ tạo lợi thế cho Công ty N7 trúng thầu. Bản thân bị cáo đã nhận quà biếu từ Công ty N7 số tiền là 600.000.000 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: khai báo thành khẩn, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, quá trình công tác, học tập có thành tích xuất sắc được tặng bằng khen theo điểm b, s, v, t, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo 03 năm 6 tháng tù là có lợi cho bị cáo; Vì số tiền hưởng lợi bị cáo nộp lại không được xem là khắc phục hậu quả

theo điểm b khoản 1 Điều 51 của BLHS mà phải tuyên sung công quỹ Nhà nước.

[2.3]. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới theo quy định pháp luật. Nên quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt như án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với nhận định của của Hội đồng xét xử.

Đối với quan điểm của các Luật sư bào chữa cho các bị cáo không được chấp nhận.

[3]. Về trách nhiệm dân sự cần xác định lại:

Tòa sơ thẩm tuyên buộc bị cáo Hoàng Thị Thúy N phải bồi thường cho Sở Y tế tỉnh T số tiền 13.008.039.000 đồng là phù hợp.

Tuy nhiên, như đã phân tích ở mục [2.2] thì số tiền các bị cáo hưởng lợi: Hoa Công Hậu 1.000.000.000 đồng, Lê Thành L 600.000.000 đồng nộp lại, được xác định là tiền thu lợi bất chính cần phải tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà Nước mới đúng. Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận đây là số tiền bồi thường để khắc phục hậu quả và được khấu trừ vào số tiền Hoàng Thị Thúy N phải bồi thường là không đúng.

Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa lại cho phù hợp với quy định pháp luật. Cụ thể: số tiền 1.600.000.000 đồng của bị cáo H1 và bị cáo L nộp lại, sẽ tịch thu sung công quỹ Nhà Nước. Còn số tiền 370.000.000 đồng của các bị cáo không hưởng lợi (Hoàng Ngọc Hồng P 50.000.000 đồng, Bạch Thị Diệu H5 50.000.000 đồng, Nguyễn Phước T7 50.000.000 đồng, Kim T20 Đoàn 20.000.000 đồng, Hoàng Ngọc Q1 100.000.000 đồng, Nguyễn Ngọc T14 50.000.000 đồng, Phùng Thị D 30.000.000 đồng, Nông Thị Bích S2 10.000.000 đồng, Đoàn Thị N5 10.000.000 đồng) nhưng đã tự nguyện nộp khắc phục hậu quả chung của vụ án thì được khấu trừ vào số tiền Hoàng Thị Thúy N phải bồi thường. Như vậy, số tiền bị cáo N còn phải tiếp tục bồi thường cho Sở Y tế tỉnh T là 12.638.039.000 đồng.

[4]. Về án phí:

[4.1]. Án phí hình sự sơ thẩm vẫn giữ nguyên như án sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356 và Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị Thúy N, Lê Thành L. Sửa 01 phần Bản án hình sự sơ số 627/2023/HS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về trách nhiệm dân sự.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Thị Thúy N, Lê Thành L phạm tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”.

2. Về hình phạt:

2.1. Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 222; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị Thúy N 06 (sáu) năm tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”. Tổng hợp với Bản án hình sự phúc thẩm số 719/2023/HS-PT ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt bị cáo 08 (tám) năm tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” và Bản án hình sự phúc thẩm số 389/2023/HS-PT ngày 24 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội xử phạt bị cáo 1 (mười

hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”, hình phạt chung của 03 bản án là 26 (hai mươi sáu) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/3/2021.

Cấm bị cáo làm công việc liên quan đến đấu thầu trong thời hạn 03 (ba) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

2.2. Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 222; điểm b, s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Lê Thành L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án, được trừ thời gian tạm giam từ 17/5/2022 đến ngày 23/10/2023.

Cấm bị cáo làm công việc liên quan đến đấu thầu trong thời hạn 02 (hai) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

3. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

+ Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.970.000.000 (một tỷ chín trăm bảy mươi triệu) đồng do các bị cáo đã tự nguyện nộp (theo ủy nhiệm chi lập ngày 06/12/2023, các biên lai thu số AA/2023/0001249 ngày 23/12/2023, biên lai thu số AA/2023/0001254 ngày 21/12/2023, biên lai thu số AA/2023/0001258 ngày 26/12/2023, biên lai thu số AA/2023/0001266 ngày 26/12/2023, biên lai thu số AA/2023/0001307 ngày 28/12/2023, biên lai thu số AA/2023/0001308 ngày 28/12/2023 của Cục thi hành dân sự Thành phố H); Trong đó: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.600.000.000 đồng do 02 bị cáo Hoa Công H1 và Lê Thành L nộp; số tiền còn lại 370.000.000 (ba trăm bảy mươi triệu đồng) dùng để khắc phục hậu quả chung của vụ án cho bị cáo Hoàng Thị Thúy N.

+ Buộc bị cáo Hoàng Thị Thúy N phải tiếp tục bồi thường thiệt hại cho Sở Y tế tỉnh T số tiền còn lại là 12.638.039.000 đồng (mười hai tỷ, sáu trăm ba mươi tám triệu, không

trăm ba mươi chín nghìn đồng.)

Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án bị cáo Hoàng Thị Thúy N chưa thực hiện hết khoản tiền trên thì còn phải chịu thêm tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

[4]. Về án phí:

  • - Án phí hình sự sơ thẩm vẫn giữ nguyên như án sơ thẩm.
  • - Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: bị cáo Hoàng Thị Thúy N phải nộp là 120.638.039 đồng.
  • - Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Hoàng Thị Thúy N, Lê Thành L phải chịu án phí mỗi bị cáo 200.000 đồng.

5. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1);
  • - TAND TP.HCM (3);
  • - VKSND TP.HCM (1);
  • - Cục Thi hành án Dân sự TP.HCM (1);
  • - Sở Tư pháp TP.HCM (1);
  • - TTG T17 (2);
  • - Lưu VP, HS.20b.NHĐT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 463/2025/HS-PT ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 463/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị Thuý N, Lê Thành L phạm tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”,
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger