|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 463/2024/HS-ST Ngày: 16 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Minh Châu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Thi Thị Tuyết Nhung
- Ông Nguyễn Tùng
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lý Lê Trọng Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Hoàng Huy Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 633/2024/TLST-HS ngày 16/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4786/2024/QĐXXST-HS ngày 21/8/2024 đối với bị cáo:
Trần Thị Kim T;
giới tính: Nữ; sinh năm 1991, tại tỉnh V; nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã N, huyện L, tỉnh V; nơi ở: Phòng trọ số 9, nhà số A, đường T, khu phố D, phường H, quận B, thành phố H; trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn T1 và bà Lê Thị T2; có chồng và 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt, tạm giam từ ngày 22/3/2024; có mặt.
- Người bào chữa: Luật sư Lê Thị Minh N - Công ty Luật TNHH NL, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 25 phút ngày 22/3/2024, Đội Cảnh sát hình sự, Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp cùng Công an phường H, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra hành chính nhà trọ nhà số A, đường T, khu phố D, phường H, quận B, thành phố H. Tại phòng trọ số 9 do Trần Thị Kim T thuê ở phát hiện bên trong hộp đựng dụng cụ trang điểm có 01 bịch nylon bên trong có: 15 túi nylon chứa tinh thể không màu; 30 đoạn ống nhựa chứa tinh thể không màu; 01 túi giấy đựng 05 túi nylon chứa tinh thể không màu; 01 hộp nhựa đựng 05 túi nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn, khối lượng 69,2575g, loại Methamphetamine. T3 khai số ma túy bị thu giữ cất giấu với mục đích để bán, Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Lúc 13 giờ 30 phút ngày 22/3/2024, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Thị Kim T không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Trần Thị Kim T khai: Do bản thân không có việc làm, hoàn cảnh gia đình khó khăn, qua tiếp xúc với nhiều người nghiện trên địa bàn và qua ứng dụng mạng xã hội (Messenger) cần mua ma túy đá nên Trần Thị Kim T đã nảy sinh ý định mua ma túy đá để bán lại cho người nghiện kiếm lời. Ngày 18/3/2024, thông qua ứng dụng Messenger, có 01 người đàn ông tên T4 (không rõ lai lịch) đặt mua 300.000 đồng ma túy đá, Trần Thị Kim T đồng ý bán và hẹn giao dịch tại phòng trọ số 9, nhà số A, đường T, khu phố D, phường H, quận B, thành phố H thì T4 đồng ý. Thỏa thuận xong, Trần Thị Kim T tìm mua ống hút nhựa, các bịch nylon và 01 cân điện tử qua các ứng dụng mua sắm online. Chuẩn bị dụng cụ xong, ngày 19/3/2024, Trần Thị Kim T bắt xe ôm công nghệ đến khu vực vòng xoay AS, quận M, thành phố H để tìm mua ma túy đá. Trong lúc dò tìm, Trần Thị Kim T gặp 01 người đàn ông (không rõ tên, lai lịch) giới thiệu cho Trần Thị Kim T biết người này đang có ma túy đá để bán nên Trần Thị Kim T hỏi mua 8.000.000 đồng thì người này nói Trần Thị Kim T chờ để đi lấy ma túy bán cho Trần Thị Kim T. Một lúc sau, người đàn ông quay lại đưa cho Trần Thị Kim T 01 gói ma túy đá rồi nhận 8.000.000 đồng. Trần Thị Kim T đem ma túy về phòng trọ dùng cân điện tử phân chia ma túy đá thành các khối lượng 0,2g; 0,3g và 1g cho vào các đoạn ống hút nhựa và các gói nylon nhằm bán ra với giá 200.000 đồng/01 đoạn ống hút nhựa có khối lượng 0,2g ma túy đá; 300.000 đồng/01 gói nylon có khối lượng 0,3g ma túy đá; 1.000.000 đồng/01 gói nylon có khối lượng 1g ma túy đá. Khi đang phân chia ma túy thì cân điện tử bị hư, do sợ người nhà phát hiện nên Trần Thị Kim T đã vứt bỏ cân điện tử cùng với các dụng cụ khác rồi đem bỏ ma túy đá đã phân chia sẵn cùng với các gói ma túy đá chưa kịp phân chia cất giấu vào trong hộp trang điểm thì bị Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra, thu giữ.
Khối lượng ma túy thu giữ đã được trưng cầu giám định, kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số 3888/KL-KTHS ngày 31/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với người đàn ông không rõ lai lịch là người bán ma túy cho Trần Thị Kim T, do không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có cơ sở để xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 515/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 09/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Thị Kim T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thị Kim T 18 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy bị thu giữ còn lại sau giám định; đối với số điện thoại thu giữ của bị cáo đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Thị Kim T trình bày: Luật sư đồng ý quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, Luật sư chỉ nêu hoàn cảnh gia đình, nhân thân của bị cáo như: Bị cáo học vấn thấp, là mẹ đơn thân nuôi con nhỏ một mình, bản thân không có việc làm và đang bị bệnh liên quan đến não đang phải điều trị. Khi cơ quan Công an kiểm tra hành chính nơi ở của bị cáo, bị cáo tự nguyện giao nộp số ma túy cất giấu cho cơ quan chức năng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt nhẹ hơn mức hình phạt đề nghị của Viện kiểm sát và do hoàn cảnh khó khăn hiện nay của bị cáo nên miễn hình phạt tiền bổ sung.
Bị cáo đồng ý với quan điểm bào chữa của Luật sư, không có ý kiến bào chữa bổ sung và không tham gia tranh luận.
Kiểm sát viên đối đáp: Luật sư bào chữa cho bị cáo chỉ đề nghị giảm hình phạt và miễn phạt tiền bổ sung nên Viện kiểm sát không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Luật sư và Kiểm sát viên bảo lưu ý kiến đã trình bày trước phiên tòa, không tranh luận bổ sung.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được lỗi lầm, ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Kim T không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Trần Thị Kim T đã khai nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, bản kết luận giám định. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Trần Thị Kim T3 đã có hành vi mua ma túy của một người đàn ông (không rõ lai lịch) tại khu vực AS đem về phân nhỏ để bán kiếm lời. Cơ quan điều tra thu giữ số ma túy 69,2575 gam loại Methamphetamine T3 cất giấu trong hộp trang điểm của phòng trọ.
[3] Hành vi của bị cáo Trần Thị Kim T3 là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
Bị cáo Trần Thị Kim T3 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” với tổng khối lượng 69,2575 gam loại Methamphetamine, thuộc trường hợp “Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Thị Kim T3 về tội danh và điều luật như đã phân tích là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Kim T3 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy hưởng lợi, lẽ ra phải áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự phạt tiền bổ sung đối với bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, xét bị cáo có hoàn cảnh có khó khăn như đã nêu nên không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo T3.
Từ các phân tích nêu trên là quan điểm của Hội đồng xét xử xét đối với các ý kiến tranh luận, đối đáp của Luật sư bào chữa cho bị cáo và của Kiểm sát viên.
[5] Xử lý vật chứng:
- - Đối với: 01 hộp giấy được niêm phong bên ngoài ghi vụ “1166/24-Bình Tân” có chữ ký của Trần Đình Hải (PC09) và Nguyễn Võ Thanh Duy (Công an quận Bình Tân), bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định. Xét đây là vật cấm lưu hành, có liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy;
- - Đối với: 01 điện thoại di động hiệu SamSung; 01 điện thoại hiệu ViVo; 01 điện thoại hiệu OPPO thu giữ của bị cáo T3; xét đây là vật chứng bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim T 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2024.
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp giấy được niêm phong bên ngoài ghi vụ “1166/24-Bình Tân” có chữ ký của Trần Đình Hải (PC09) và Nguyễn Võ Thanh Duy (Công an quận Bình Tân), bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định;
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu SamSung (Imei: ...65780/9, màn hình bể, camera bể, không kiểm tra đời máy do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động hiệu ViVo (không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động hiệu OPPO (bể lưng, có chữ 0700, không kiểm tra đời máy do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/493 ngày 15/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.)
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Châu |
Bản án số 463/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 463/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
