|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 463/2024/HS-ST Ngày: 30-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Công Danh,
- Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 417/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 410/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 736/2024/QÐST-HS ngày 07/8/2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử ngày 19/8/2024 đối với :
- Các bị cáo:
- Huỳnh Quốc C (tên gọi khác: không), sinh năm 2002, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số A, Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Ái Q (đã chết) và Phạm Kim N; bị cáo chưa có vợ con.
- Nguyễn Phùng Khắc Đ(tên gọi khác: không), sinh năm 2002, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số I, Khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc T và bà Nguyễn Thị Lê T1; bị cáo có vợ tên Mai Phương T2 (UBND phường T cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 103/2024 ngày 15/8/2024), chưa có con.
Tiền án, tiền sự: không.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 6474/LCT-VKSBD ngày 27/6/2024 Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.
Tiền án, tiền sự: không.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 6475/LCT-VKSBD ngày 27/6/2024 Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Người bị hại: chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1989
Địa chỉ: K T, phường B,thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(các bị cáo có mặt, bị hại vắng mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Huỳnh Quốc C và Nguyễn Phùng Khắc Đ là bạn bè quen biết với nhau. C phát hiện quán L2 tại khu phố A, phường T,thành phố B, tỉnh Đồng Nai do chị Nguyễn Thị L làm chủ đã ngừng hoạt động, cửa quán mở, không có người trông coi, đã cắt điện, nước nên C rủ Đ trộm cắp máy lạnh bán lấy tiền trả nợ thì Đ đồng ý. Thực hiện ý định trên, từ ngày 25-12-2023 đến 26-12-2023, tại quán L2, Đ và C đã thực hiện 02 (Hai) vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau.
Vụ thứ nhất:
Khoảng 12 giờ ngày 25-12-2023, C và Đ đi vào bên trong quán L2, chồng ghế gỗ có trong quán rồi Đ giữ ghế cho C leo lên ghế, lấy 01 (một) cái kéo gần đó cắt dây điện, tháo gỡ được 02 (hai) cục lạnh máy lạnh nhãn hiệu Daikin và 01 (một) cục lạnh máy lạnh nhãn hiệu LG đưa cho Đ đỡ xuống. Khoảng 16 giờ cùng ngày, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vario (không rõ biển số), chở Đ ôm theo 03 (ba) cục lạnh trên đến nhà anh Bùi Thanh T3 (quen biết với C) tại số K, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để bán thì anh T3 đồng ý mua 02 (hai) cục lạnh máy lạnh nhãn hiệu Daikin với số tiền 1.500.000đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng), anh T3 đã chuyển số tiền trên vào số tài khoản 0585676819 của C mở tại ngân hàng V1, còn 01 (một) cục lạnh máy lạnh nhãn hiệu LG thì anh T3 mua sau. Số tiền này, C đã tiêu xài hết, không chia cho Đ.
Biên bản ghi lời khai, hỏi cung bị can Huỳnh Quốc C bút lục số (118-119, 121-122). Biên bản ghi lời khai, hỏi cung bị can Nguyễn Phùng Khắc Đ bút lục số (178-179, 180-181). Biên bản ghi lời khai bị hại bút lục số (68-70), Biên bản ghi lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bút lục số (103, 104).Biên bản ghi lời khai người làm chứng bút lục số (84-85, 86).
Vật chứng vụ án, gồm:
02 (Hai) cục lạnh máy lạnh nhãn hiệu Daikin và 01 (Một) cục lạnh máy lạnh nhãn hiệu LG thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi, trả lại cho chị L. Bút lục số (16, 17, 18)
Đối với 01 (Một) cái kéo là công cụ C và Đ dùng để trộm cắp tài sản đã bị mất nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 194/KL-HĐĐGTS ngày 19-6-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) cục lạnh máy lạnh Daikin 1,5Hp ATKC35AVMV, 01 (một) cục lạnh máy lạnh Daikin 1,5Hp FTNE35MV1V9 có tổng giá trị định giá tài sản là 6.000.000đồng (sáu triệu đồng)”. Bút lục số (16, 17, 18)
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 148/KL-HĐĐGTS ngày 20-5-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa kết luận A (một) cục lạnh LG 01Hp F09CE (HS-C096W4A0) có giá trị định giá tài sản là: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)”. Bút lục số (12, 13, 14)
Trách nhiệm dân sự:
Chị Nguyễn Thị L đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường. Anh Bùi Thanh T3 đã nhận lại số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) nên không yêu cầu bồi thường. Bút lục số (69-70), Bút lục số (216)
Vụ thứ hai:
Khoảng 09 giờ ngày 26-12-2023, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vario (không rõ biển số) chở C đến nhà anh Bùi Thanh T3 để mượn 01 (một) cái thang rút, 01 (một) cái kìm và 01 (một) khoá để mở ốc rồi cả hai tiếp tục đến quán L2. Tại đây, C và Đ chồng ghế gỗ trong quán, Đ giữ ghế cho C leo lên ghế, dùng kìm cắt dây điện, tháo được 03 (ba) cục lạnh máy lạnh nhãn hiệu Casper, 01 (một) cục lạnh máy lạnh nhãn hiệu Mitshubishi và 03 (Ba) quạt treo tường nhãn hiệu Senko. Sau đó, Đ tiếp tục giữ thang cho C leo lên mái nhà, dùng kìm cắt dây điện và khoá để mở ốc, tháo gỡ được 03 (ba) cục nóng máy lạnh nhãn hiệu Casper, 01 (một) cục nóng máy lạnh nhãn hiệu Mitshubishi, 02 (hai) cục nóng máy lạnh nhãn hiệu Daikin rồi đưa cho Đ đỡ xuống đất. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, C và Đ nhờ anh Nguyễn Hoàng V (là bạn làm chung thời vụ với C và Đ đang ở gần đó) chở 01 (một) cục nóng máy lạnh nhãn hiệu Casper đến nhà anh T3 để bán thì anh V đồng ý. Sau đó, anh V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu RSX, biển số 60AA-273.39 chở 01 (một) cục nóng máy lạnh nhãn hiệu Casper còn C và Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vario (không rõ biển số) chở lần lượt cục lạnh và cục nóng máy lạnh trên đến nhà anh T3 để bán. Tại đây, anh T3 chỉ đồng ý mua 02 (hai) cục nóng nhãn hiệu Daikin giá 2.500.000đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) và 01 (một) cục lạnh nhãn hiệu LG (trộm cắp ngày 25-12-2023) giá 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng), anh T3 đã chuyển khoản số tiền trên vào tài khoản của C. Số máy lạnh còn lại anh T3 sẽ báo giá sau, còn 03 (ba) quạt treo tường quá trình chở đi bán do cồng kềnh nên C và Đ đã vứt bên đường. Số tiền trên C đã tiêu xài hết, không chia cho Đ.
Sự việc xảy ra, chị L đến Công an phường T trình báo. Công an phường T lập hồ sơ, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Qua điều tra, xác minh, đến ngày 31-5-2024, C và Đ bị khởi tố, điều tra, xử lý.
Biên bản ghi lời khai, hỏi cung bị can Huỳnh Quốc C bút lục số (118-119, 121-122). Biên bản ghi lời khai, hỏi cung bị can Nguyễn Phùng Khắc Đ bút lục số (178-179, 180-181). Biên bản ghi lời khai bị hại bút lục số (68-70). Biên bản ghi lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bút lục số (103, 104). Biên bản ghi lời khai người làm chứng bút lục số (84-85, 86).
Vật chứng vụ án, gồm:
- 03 (Ba) bộ M (gồm cục nóng và cục L3) nhãn hiệu Casper, 01 (Một) bộ máy lạnh (gồm cục nóng và cục L3) nhãn hiệu Mitshubishi và 02 (Hai) cục nóng máy lạnh nhãn hiệu Daikin thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi, trả lại cho chị L. (Bút lục số 213, 217).
- 01 (Một) cái thang rút, 01 (Một) cái kìm và 01 (Một) khoá bằng sắt M10 thuộc sở hữu của anh Bùi Thanh T3 cho C mượn để sử dụng, anh T3 không biết C sử dụng làm công cụ phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho anh T3. (Bút lục số 207, 216).
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX, biển số 60AA-273.39 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Hoàng V là phương tiện đã giúp C và Đ chở tài sản trộm cắp được mang đi bán nhưng anh V không biết đó là tài sản do C và Đ trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho anh V. (Bút lục số 204, 205, 205).
- 01 (Một) USB ghi nhận nội dung sự việc: lưu hồ sơ vụ án. Bút lục số (211).
- Đối với 03 (Ba) quạt treo tường nhãn hiệu Senko sau khi trộm cắp được C và Đ đã vứt bỏ bên đường nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Vario (không rõ biển số) của anh Đình Nguyễn Gia L1 (bạn của Đ) cho Đ mượn để đi lại, anh L1 không biết Đ sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu giữ.
* Kết luận định giá tài sản:
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 23-01-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “03 (ba) bộ máy lạnh (gồm cục nóng và cục L3) Casper 1,5Hp HC12IA33, 01 (một) bộ máy lạnh (gồm cục nóng và cục L3) Mitsubishi 1,5Hp MSZ- ZW637S-W, 01 (một) cục nóng máy lạnh Daikin 1,5Hp ATKC35AVMV, 01 (Một) cục nóng máy lạnh Daikin 1,5Hp FTNE35MV1V9, có tổng giá trị định giá tài sản là 33.890.000đồng (ba mươi ba triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng)”. (Bút lục số 07, 08, 09-10).
Bản kết luận định giá tài sản số 148/KL-HĐĐGTS ngày 20-5-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa kết luận C (Ba) quạt treo tường Senko T1680 có tổng giá trị định giá tài sản là: 633.600đồng (Sáu trăm ba mươi ba nghìn sáu trăm đồng)". Bút lục số (32-34).
Trách nhiệm dân sự:
- Chị Nguyễn Thị L đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường. (Bút lục số 69-70).
- Anh Bùi Thanh T3 đã nhận lại số tiền 2.800.000đồng (Hai triệu tám trăm nghìn đồng) nên không yêu cầu bồi thường. (Bút lục số 216).
2. Truy tố:
Tại Cáo trạng số: 411/CT-VKSBH ngày 11/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Huỳnh Quốc C, Nguyễn Phùng Khắc Đ về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- + Áp dụng Khoản 1 Điều 173 và điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Huỳnh Quốc C: 18 (mười tám) tháng đến 20 (hai mươi) tháng tù.
- + Áp dụng Khoản 1 Điều 173 và điểm s, b Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Phùng Khắc Đ 16 (mười sáu) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
-Ý kiến của người tham gia tố tụng: Các bị cáo thống nhất với tội danh truy tố, không bào chữa gì.
- Lời nói sau cùng: Các bị cáo ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, người bị hại, người đại điện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- Bị hại chị Nguyễn Thị L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội: tại phiên toà, các bị cáo C, Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Từ ngày 25-12-2023 đến ngày 26-12-2023, tại quán L2 tại khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do chị Nguyễn Thị L làm chủ, Huỳnh Quốc C và Nguyễn Phùng Khắc Đ đã thực hiện 02 (hai) vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất:
Khoảng 12 giờ ngày 25-12-2023, C và Đ trộm cắp 01 (Một) cục L3 1,5Hp ATKC35AVMV, 01 (một) cục lạnh máy lạnh Daikin 1,5Hp FTNE35MV1V9 và 01 (Một) cục lạnh LG 01Hp F09CE (HS-C096W4A0) có tổng trị giá là: 6.300.000đồng (sáu triệu ba trăm nghìn đồng)”.
Vụ thứ hai:
Khoảng 09 giờ ngày 26-12-2023, C và Đ trộm cắp 03 (ba) bộ M (gồm cục nóng và cục L3) Casper 1,5Hp HC121A33, 01 (một) bộ máy lạnh (gồm cục nóng và cục L3) Mitsubishi 1,5Hp MSZ- ZW637S-W, 01 (một) cục nóng máy lạnh Daikin 1,5Hp ATKC35AVMV, 01 (một) cục nóng máy lạnh Daikin 1,5Hp FTNE35MV1V9 và 03 (Ba) quạt treo tường Senko T1680 có tổng trị giá là: 34.523.600đồng (ba mươi bốn triệu năm trăm hai mươi ba nghìn sáu trăm đồng). Đến ngày 31-5-2024, C và Đ bị khỏi tố, điều tra, xử lý.
Tổng giá trị tài sản mà Đ và C trộm cắp được là 40.823.600đồng (Bốn mươi triệu tám trăm hai mươi ba nghìn sáu trăm đồng).
- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định Huỳnh Quốc C, Nguyễn Phùng Khắc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, bản Cáo trạng số 411/CT-VKSBH ngày 11/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo Huỳnh Quốc C, Nguyễn Phùng Khắc Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã cố tình xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được hành vi Trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý.
- Về tính chất đồng phạm và vai trò của bị cáo trong từng tội danh: Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc tổ chức phân công vai trò cụ thể mà rủ rê cùng phạm tội; trong đó bị cáo C có vai trò cao hơn do là người rủ rê, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội và sử dụng toàn bộ số tiền thu lợi bất chính; Đ tham gia với vai trò giúp sức tích cực.
- Về nhân thân: các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo C, Đ thực hiện hành vi phạm tội hai lần trở lên và mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm; thuộc tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; thuộc tình tiết quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra, bị cáo Đ đã khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho bị hại, cha mẹ bị cáo Đ đều làm việc trong ngành Công an, có nhiều cống hiến, được tặng nhiều Huy chương, Giấy khen; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, nhân thân của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm; Hội đồng xét xử xét áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Huỳnh Quốc C để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của pháp luật, giáo dục răn đe phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Nguyễn Phùng Khắc Đ có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và việc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội là không cần thiết. Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xét thấy bị cáo Nguyễn Phùng Khắc Đ có đủ các điều kiện được áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[3] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự:
Người bị hại là chị Nguyễn Thị L đã nhận lại tài sản, đã nhận tiền bồi thường từ bị cáo Đ, không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh Bùi Thanh T3 đã nhận lại số tiền 4.300.000đ (bốn triệu ba trăm nghìn đồng) từ bị cáo C, không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về vật chứng và các vấn đề khác có liên quan vụ án:
- Đối với 03 (ba) bộ máy lạnh (gồm cục nóng và cục L3) nhãn hiệu Casper, 01 (một) bộ máy lạnh (gồm cục nóng và cục L3) nhãn hiệu Mitsubishi và 02 (hai) cục nóng máy lạnh nhãn hiệu Daikin thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi, trả lại cho chị L là phù hợp quy định pháp luật.
- Đối với 01 (một) cái thang rút, 01 (một) cái kìm và 01 (một) khoá bằng sắt M10 thuộc sở hữu của anh Bùi Thanh T3 cho C mượn để sử dụng, anh T3 không biết C sử dụng làm công cụ phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho anh Thế là đúng quy định pháp luật.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX, biển số 60AA-273.39 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Hoàng V là phương tiện đã giúp C và Đ chở tài sản trộm cắp được mang đi bán nhưng anh V không biết đó là tài sản do C và Đ trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho anh V là phù hợp quy định pháp luật.
- Đối với 01 (một) USB ghi nhận nội dung sự việc nên cần lưu hồ sơ vụ án
- Đối với 03 (Ba) quạt treo tường nhãn hiệu Senko sau khi trộm cắp được C và Đ đã vứt bỏ bên đường nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được nên Hội đồng không xem xét.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Vario (không rõ biển số) của anh Đình Nguyễn Gia L1 (bạn của Đ) cho Đ mượn để đi lại, anh L1 không biết Đ sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu giữ là đúng quy định pháp luật.
[5] Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Do bị cáo bị xác định là có tội nên mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:
- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.
- Đối với phần trình bày của các bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Về tội danh: Xác định các bị cáo Huỳnh Quốc C, Nguyễn Phùng Khắc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử hình phạt: xử phạt Huỳnh Quốc C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173 và Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 17, 58, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phùng Khắc Đ 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Phùng Khắc Đ cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo Đ có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1, Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc mỗi bị cáo Huỳnh Quốc C, Nguyễn Phùng Khắc Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Các bị cáo quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Huệ |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHIÊN TOÀ |
THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ |
9
10
Bản án số 463/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 463/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Quốc C, Nguyễn Phùng Khắc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”
