|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 463/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 9 - 2024
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Thái Thị Hồng Vân |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Hồ Bá Võ |
| Ông Mai Xuân Thường | |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Lý Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. |
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 210/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024, về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 435/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Anh Lương Văn C, sinh năm 1990.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Đội 4, Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Số A, ngõ B, đường H, phường T, khu L, thành phố Đ, Đài Loan. Có đơn xin xử vắng mặt.
-
Bị đơn: Chị Hà Thị Kiều O, sinh năm 1993.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Đội 4, Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt tại phiên tòa.
-
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lữ Thị L, sinh năm: 1963; địa chỉ: Đ, Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, trình bày tại bản tự khai (Có chứng thực của văn phòng K tại Đ) nguyên đơn anh Lương Văn C trình bày:
Anh và chị Hà Thị Kiều O kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 30/3/2011, tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống hạnh phúc và có 01 người con. Vì điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, năm 2021, vợ chồng cùng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan làm ăn, con cái gửi nhờ bà nội chăm sóc. Cuối năm 2022, vợ chồng tôi bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống trái ngược nhau và cắt liên lạc với nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh C làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Hà Thị Kiều O.
Về con chung: Anh Lương Văn C và chị Hà Thị Kiều O có 01 con chung là cháu Lương Chí V, sinh năm 08/7/2011. Hiện nay cháu đang sống cùng với bà nội là bà Lữ Thị L. Ly hôn anh C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con và không yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do anh đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và ủy quyền cho chị Lê Thị Kim S, sinh năm 1977; địa chỉ: Lô A, KQH Đ, N đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An thay mặt anh nộp và nhận các văn bản của Tòa án.
Đối với bị đơn là chị Hà Thị Kiều O: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là chị Hà Thị Kiều O vắng mặt. Anh Lương Văn C không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay chị O cư trú, anh chỉ biết hiện nay chị O đang sinh sống tại Đài Loan. Tòa án đã hai lần gửi văn bản yêu cầu anh Hà Văn N (Là em trai ruột của chị O), trú tại: Xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu anh N thông báo với chị O để gửi lời khai về cho Tòa án.) Tuy nhiên, tại đơn trình bày anh N cho biết thời gian ở nước ngoài, chị O thường liên lạc về với gia đình qua điện thoại còn địa chỉ cụ thể của chị O thì chị O không cung cấp nên anh không biết. Anh đã thông báo cho chị O biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa anh C và chị O. Thông qua anh thì chị O đồng ý ly hôn anh C.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lữ Thị L trình bày:
Con trai của bà là Lương Văn C kết hôn với chị Hà Thị Kiều O trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có một con chung là cháu Lương Chí V, sinh ngày 08/07/2011, hiện nay cháu đang do bà trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng vì cả hai vợ chồng con trai bà đang sống ở nước ngoài. Vừa qua, bà biết vợ chồng con trai sống không hạnh phúc, con trai của bà có làm thủ tục ly hôn vợ ở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, về tình cảm của hai đứa do hai đứa quyết định, bà cũng không có ý kiến gì. Còn cháu Lương Chí V từ khi sinh ra cho đên bây giờ cháu sống cùng với bà cho đến bây giờ, nay vợ chồng con ly hôn thì bà không yêu cầu cả hai vợ chồng chi trả tiền công cũng như chi phí nuôi dưỡng hai cháu trước đây cho đến nay và từ nay cho đến khi con trai của tôi về nước, việc tôi nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu là xuất phát từ tình cảm, tự nguyện. Lúc nào bố mẹ các cháu về thì các cháu muốn ở với ai do các cháu quyết định.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Lương Văn C ly hôn với chị Hà Thị Kiều O.
Về con chung: Giao con chung là cháu Lương Chí V sinh ngày 08/7/2011, cho anh Lương Văn C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, trong thời gian anh C đang ở nước ngoài tạm giao cháu V cho bà Lữ Thị L (mẹ đẻ anh C) chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V cho đến khi anh C về nước. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bị đơn do nguyên đơn chưa có yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh C không yêu cầu nên không xem xét; dành quyền khởi kiện về chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Lương Văn C hiện cư trú tại Đài Loan làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hà Thị Kiều O hiện cũng cư trú ở nước ngoài; trước khi xuất cảnh, chị O có địa chỉ cư trú tại Đội 4, Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là chị Hà Thị Kiều O vắng mặt, Tòa án đã gửi công văn yêu cầu anh Hà Văn N (Là em trai ruột của chị O) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho chị O biết để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, anh N không cung cấp được địa chỉ hiện nay của chị O. Đến nay, Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của chị O liên quan đến yêu cầu khởi kiện, nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của chị O trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn anh Lương Văn C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lữ Thị Q có đơn xin xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lương Văn C và chị Hà Thị Kiều O kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Tại thời điểm đăng kí kết hôn, chị O đã 17 tuổi 4 tháng (đủ điều kiện kết hôn theo khoản 1 điều 9 Luật HNGĐ năm 2000) nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh C chị O về sống chung với bố mẹ anh C. Thời gian đầu kết hôn vợ chồng sinh sống hạnh phúc. Năm 2021, vợ chồng cùng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan làm ăn, gửi con cho bà nội chăm sóc. Cuối năm 2022, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống trái ngược nhau và cắt đứt liên lạc với nhau. Hiện nay tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, tình cảm giữa anh C và chị O không còn, anh C đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị O.
Xét thấy, anh C và chị O không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh C, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho anh Lương Văn C ly hôn chị Hoàng Thị Kiều O1.
[2.2] Về con chung: Anh Lương Văn C và chị Hà Thị Kiều O có 01 con chung là cháu Lương Chí V sinh ngày 08/7/2011, hiện đang chung sống với bà nội là bà Lữ Thị L. Ly hôn anh C có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con. Xét hoàn cảnh thực tế của các bên thấy rằng hiện nay anh C và chị O đều đang sống và làm việc tại nước ngoài không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con, cháu Lương Chí V hiện phải sống xa bố mẹ, do bà nội trực tiếp chăm sóc từ khi anh C, chị O đi nước ngoài đến nay. Ly hôn cháu V có nguyện vọng ở với anh C, trong thời gian anh C chưa về Việt Nam thì anh C ủy quyền cho mẹ đẻ anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Bà Lữ Thị L cũng đồng ý tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V trong thời gian anh C ở nước ngoài.
Nguyện vọng của anh C là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tế, vì hiện nay, chị O đang ở nước ngoài và cố tình dấu địa chỉ. Do đó, căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của anh C. Giao cho anh C được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cháu Lương Chí V sinh ngày 08/7/201, chị O có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cấm.
Đối với thoả thuận giữa anh Lương Văn C với bà Lữ Thị L về việc bà L sẽ thay anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lương Chí V trong thời gian anh C ở nước ngoài. Xét thấy sự thoả thuận này là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung nên cần ghi nhận nội dung thoả thuận này.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Lương Văn C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
[3] Về án phí sơ thẩm: Anh Lương Văn C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 4 Điều 207, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lương Văn C.
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh Lương Văn C được ly hôn chị Hà Thị Kiều O.
- - Về con chung: Giao con chung Lương Chí V sinh ngày 08/7/2011, cho anh Lương Văn C được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh C chưa yêu cầu nên không giải quyết.
Sau khi ly hôn, chị Hà Thị Kiều O có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Ghi nhận sự thoả thuận giữa Anh Lương Văn C với bà Lữ Thị L về việc bà L sẽ thay anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lương Chí V sinh ngày 08/7/2011 trong thời gian anh C ở nước ngoài.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
2. Về án phí: Anh Lương Văn C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012859 ngày 23/5/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
3. Anh Lương Văn C và chị Hà Thị Kiều O có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Thái Thị Hồng Vân |
Bản án số 463/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 463/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Lương Văn C được ly hôn chị Hà Thị Kiều O
