Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 463/2024/DSPT

Ngày: 06 - 11 - 2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

 

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Quyến;

Bà Hồ Thị Tuyết Phương.

Thư ký phiên tòa:

Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:

Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 06 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 270/2024/TLPT- DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 57/2021/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ bị nguyên đơn – ông Nguyễn Văn T kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 427/2024/QĐPT-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1964; địa chỉ: khu V T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
  2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Lê Văn P; địa chỉ: Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư thành phố C. (có mặt)
  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1945; địa chỉ: khu V T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Trần Tú N, sinh năm 1983; địa chỉ: khu V T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
    2. Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1946; địa chỉ: khu V T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
  5. Người kháng cáo: ông Nguyễn Văn T là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 6 năm 2022 của nguyên đơn ông Trần Văn T1 và quá trình giải quyết vụ án, ông T1 trình bày có nội dung như sau:

Nguyên trước đây, ông T1 có nhận chuyển nhượng của bà Trần Tú N phần đất có diện tích: 142 m² (đất CLN), thuộc thửa 1148, tờ bản đồ số 09, theo Giấy CNQSD đất số: BA 723614, số vào số cấp GCN: CH00468 do UBND quận Ô cấp ngày 16/10/2007, đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ. Tiếp giáp với phần đất của ông T1 là thửa đất 1156 của bà Trần Tú N. Trên thửa đất này có hộ của ông Nguyễn Văn T đang ở nhờ. Khi ông T1 xây dựng nhà thì có chừa lại phần đất từ vách nhà ra khoảng 0.3m để làm đường thoát nước mưa và đường ống dẫn nước sinh hoạt hằng ngày. Năm 2022, ông T1 có ý định sửa chữa lại nhà và nâng cấp đường thoát nước sinh hoạt, thì ông T đã tự ý rào chắn ngang con đường thoát nước này và ngăn cản cho rằng đất này thuộc quyền sử dụng của ông T. Nay, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn T phải tháo dỡ toàn bộ tài sản trên đất giao trả lại cho nguyên đơn phần đất có diện tích 5,3m², tại vị trí B, Bản trích đo địa chính số 186 ngày 11/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C.

Ngoài những vấn đề trên tại phiên tòa: Nguyên đơn còn xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của bà N, bị đơn sử dụng lấn chiếm và ngăn cản nguyên đơn làm đường thoát nước nên xác định khởi kiện bị đơn, giữa nguyên đơn với bà N không tranh chấp với nhau.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Nguyên vào năm 1975, ông T có ở nhờ trên đất của bà Trần Tú N là (điền chủ). Ông xây dựng căn nhà trên diện tích đất ngang 6m, dài 14m tổng diện tích khoảng 84m², gia đình ông sử dụng đến năm 1989 thì sửa lại căn nhà bằng cây cột thao lao, mái tole, nền gạch, gia đình ông T1 sử dụng từ đó đến nay không ai tranh chấp. Năm 2022, ông T1 tranh chấp cho là gia đình ông T lấn qua phần đất của ông chiều ngang 0,3m x dài 18, 5m = 5,55m² tại thửa đất số 1148, tờ bản đồ số 09 do ông T1 đứng tên sử dụng. Nay, ông T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông T thừa nhận phần đất đang ở hiện tại là của bà Trần Tú N, ông và bà N có thống nhất khi nào tòa án giải quyết xong ranh giới rõ ràng ông sẽ thỏa thuận với bà N mua lại phần đất đang sử dụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Tú N có ý kiến trình bày: Nguồn gốc phần đất ông T1 và ông T đang sử dụng là của bà, bà được cha là ông Trần Duy A tặng cho và được cấp giấy chứng nhận QSD đất số H01000 ngày 13/8/2007, diện tích 7.599,4m2. Sau đó bà và một số hộ đang ở nhờ trên đất của bà, trong đó có hộ ông T1 thỏa thuận chuyển nhượng và tách quyền sử dụng đất. Riêng hộ ông T thì hiện nay vẫn đang ở nhờ trên đất của bà. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà đề nghị Tòa án giải quyết đúng theo quy định pháp luật, vì khi tách giấy cho ông T1 thì có đo đạc và xác định ranh với ông T (do ông T có nhà kế bên phần đất của ông T1). Nếu đất của ông T1 thiếu thì bà sẽ chịu theo quyết định của Tòa án.

Sau khi thụ lý Tòa án đã tiến hành hòa giải động viên nhiều lần nhưng các đương sự vẫn không thỏa thuận được cách thức giải quyết vụ án nên được đưa ra xét xử theo quy định pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 57/2021/DS – ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Ô Môn tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Văn T phải tháo dỡ toàn bộ tài sản trên phần đất tranh chấp và giao trả diện tích 5,3m² tại vị trí B, Bản trích đo địa chính ngày 11/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cho ông Trần Văn T1.

(Kèm theo Bản trích đo địa chính ngày 11/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C)

Ngoài ra, bản án nêu trên còn tuyên về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng khác; án phí dân sự sơ thẩm; quyền kháng cáo và thời hiệu kháng cáo của các đương sự.

Ngày 12/7/2024 ông Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
  • Người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo;
  • Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp chứng cứ mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm Chủ tọa, thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T trong thời hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm

Xét nội dung kháng của bị đơn nhận thấy:

Phần đất do nguyên đơn ông Trần Văn T1 đang sử dụng có nguồn gốc tách từ thửa 99 của bà Trần Tú N (GCNQSDĐ số H01000 cấp ngày 13/8/2007). Sau khi lập thủ tục tách quyền sử dụng đất, phần đất ông T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1148 diện tích 142m² (CLN), đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ. Ngày 31/5/2010, ông T1 xin chuyển mục đích sử dụng đất và được cấp đổi GCNQSDĐ số CH00468 ngày 05/9/2010, diện tích đất 142m² (có 92m² ODT). Qua đo đạc thực tế thửa 1148 của ông T1 có diện tích là 128,7m², thiếu 13,3m².

Giáp ranh với thửa 1148 là thửa đất 1156 do bà Trần Tú N đứng tên GCNQSDĐ. Năm 2007, bà N thỏa thuận tách một phần diện tích đất tại thửa 99

cho ông Trần Văn T1 và một số hộ dân khác, bà N được cấp đổi GCNQSDĐ số H02599, thửa đất 1156 diện tích 218m². Trên phần đất của bà N có gia đình của ông Nguyễn Văn T đang ở nhờ, vị trí nhà của ông T giáp ranh với thửa 1148 của ông T1.

Kết quả đo đạc thực tế thể hiện, thửa 1156 của bà N có diện tích 221,3m², dư 3,3m² so với giấy chứng nhận được cấp mặc dù chưa cộng diện tích tranh chấp.

Về hình thể thửa đất, theo GCNQSDĐ của ông T1 thì thửa 1148 có chiều ngang giáp lộ GTNT là 7,3m, đo đạc thực tế là 7m, thiếu 0,3m, chiều ngang phía sau là 7,4m, đo đạc thực tế là 6,55m (thiếu 0,55m); nếu cộng chiều ngang tranh chấp ngang 0,3m thì vẫn còn thiếu 0,25m. Thửa đất 1156 của bà N chiều ngang giáp lộ GTNT đo đạc thực tế là 14m, nếu cộng chiều ngang tranh chấp thì dư 0,4m, chiều ngang cạnh sau đo đạc thực tế là 12,96m, chưa tính chiều ngang tranh chấp ngang vẫn dư 0,96m so với hình thể trong giấy chứng nhận được cấp.

Đất của ông T1 và bà N trước khi cấp GCNQSDĐ đều có đo đạc thực tế, nhưng nay đất của ông T1 thiếu, đất của bà N thì dư nên phần đất tranh chấp là thuộc thửa 1148 của ông T1. Ông T là người ở nhờ trên đất của bà N, bà N cũng có ý kiến: nếu đất ông T1 thiếu thì bà sẽ chịu theo phán quyết của Tòa án. Do đất của ông T1 thiếu nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tiếng L có cơ sở.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: không chấp nhận kháng cá bị đơn ông Nguyễn Văn T; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, các đương sự có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
  2. [2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn: Theo đơn kháng cáo và lời trình bày của bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét các vấn đề sau: xem xét lại thực trạng đất của ông T1 sử dụng từ năm 2007 đến nay; xem xét lại quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T1; yêu cầu được tiếp tục sử dụng ổn định phần đất bị đơn đang ở và bác đơn khởi kiện của nguyên đơn.
  • Xét yêu cầu của bị đơn về việc xem xét lại quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện và lời trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn không có yêu cầu về hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T1 nên cấp sơ thẩm chưa xem xét giải quyết. Do đó, yêu cầu kháng cáo này của ông T vượt quá phạm vi xét xử phúc thẩm nên không được chấp nhận.
  • Đối với yêu cầu xem xét lại thực trạng đất của ông T1. Nhận thấy, thửa đất 1148, tờ bản đồ số 09, diện tích 142m² ông T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/10/2007 do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Trần Tú N. Ông T cho rằng quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T1 bà N không có ký giáp ranh và bà N cũng xác định không biết ranh đất của bà với ông T1 ở vị trí nào. Tuy nhiên, theo hồ sơ thể hiện thửa đất 1148 trước đây thuộc thửa 99 do bà Trần Tú N là chủ sử dụng. Năm 2007 bà N có thỏa thuận chuyển nhượng cho ông T1 cùng các hộ khác một phần thửa 99. Việc chuyển nhượng này được thể hiện tại tờ trình số 57 ngày 17/09/2007 của Ủy ban nhân dân phường T. Theo đó, bà N chuyển nhượng cho ông T1 142m² và diện tích cụ thể được thể hiện tại bản trích đo địa chính ngày 12/09/2007 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Ô. Sau khi nhận chuyển nhượng ông T1 tiến hành tách thửa để hợp thức hóa quyền sử dụng đất và đã được cấp giấy nhận quyền sử dụng đất ngày 16/10/2007. Quá trình ông T1 thực hiện thủ tục hợp thức hóa và được cấp giấy chứng nhận bà N biết và không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Mặt khác, tại buổi hòa giải ngày 06/05/2022 của Ủy ban nhân dân phường T, bà N có ý kiến “yêu cầu đo đạc theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu bên nào thiếu thì trả lại theo đúng diện tích trên giấy chứng nhận”. Điều này thể hiện, bà N xác nhận diện tích, kích thước đất bà chuyển nhượng cho ông T1 theo đúng giấy chứng nhận ông T1 được cấp. Theo bản trích đo địa chính ngày 11/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C thì thửa 1156 của bà N có tổng diện tích đo đạc thực tế 221,3m², chiều ngang cạnh trước là 14m, chiều ngang cạnh sau đo đạc 12,96m. Đối chiếu với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà N thì tổng diện tích thừa 3,3m² và kích thước chiều ngang trước, sau của thửa đất cũng đều dư ra so với giấy chứng nhận. Nếu cộng luôn phần đất tranh chấp (5.3m² + 3.3m² ) thì thừa tới 8.6m². Trong khi đó, Thửa 1148 của ông T1 thì chiều ngang phía trước giáp lộ GTNT là 7,3m, hiện đo đạc thực tế chiều ngang 7m, thiếu 0,3m. Chiều ngang phía sau là 7,1m, đo thực tế là 6,55m, cộng thêm phần tranh chấp ngang 0,3m thì vẫn còn thiếu 0,55m. Như vậy, có cơ sở xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông T1.
  • Ông T cho rằng phần đất tranh chấp ông đã xây nhà và sử dụng ổn định từ năm 1989 đến nay, tuy nhiên phần đất này ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, về mặt pháp lý đất ông đang sử dụng thuộc quyền sử dụng của bà N. Thực tế theo biên bản đo đạc, thẩm định tại chỗ ngày 29/03/2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn có thể hiện, trên phần đất tranh chấp ông T1 xác định từ vách tường của ông qua 0,3m không ảnh hưởng đến mái tole nhà chính của ông T, mái che phía trước nhà của ông T có ảnh hưởng một phần ngang 0.3 x dài 04m = 1,2m², phần này không còn giá trị sử dụng và mái che có chiều ngang 0,3m dài 08m = 2,4m² cũng không còn giá trị sử dụng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn tháo dỡ các công trình này là có cơ sở.
  • Đối với yêu cầu được tiếp tục sử dụng, ổn định phần đất đang tranh chấp. Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình xét xử sơ thẩm ông T không có yêu cầu phản

tố về việc công nhận quyền sử dụng đất, mặt khác phần đất ông T đang sử dụng thuộc quyền sử dụng của bà N. Do đó, khi có yêu cầu công nhận hay chuyển nhượng thì giữa ông T và bà N thỏa thuận với nhau không thuộc phạm vi xét xử của cấp phúc thẩm.

Từ những nhận định trên cho thấy Bản án sơ thẩm đã tuyên là có cơ sở đúng luật. Ông T kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của ông nên các yêu cầu kháng cáo của ông không được chấp nhận.

  1. [4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận;
  2. [5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông T được miễn do thuộc trường hợp là người cao tuổi theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên án:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn T.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 57/2021/DS – ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Văn T phải tháo dỡ toàn bộ tài sản trên phần đất tranh chấp và giao trả diện tích 5,3m² tại vị trí B, Bản trích đo địa chính số 186 ngày 11/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cho ông Trần Văn T1.

(Kèm theo Bản trích đo địa chính số 186/VPĐKĐĐ ngày 11/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C).

  1. Về chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản tranh chấp: Buộc ông Nguyễn Văn T phải hoàn trả cho ông Trần Văn T1 số tiền là 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).
  2. Về án phí dân sự:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn được miễn.
    2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn được miễn nộp do thuộc trường hợp người cao tuổi theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND quận Ô Môn;
  • - Chi cục THA-DS quận Ô Môn
  • - Phòng KTNV& THA;
  • - Văn phòng;
  • - Đương sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyết Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 463/2024/DSPT ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 463/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tiếng - Tổng - T/C QSD đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger