Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 463/2024/DS-ST

Ngày: 17 - 7 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP.HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Xuân Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Hoàng Nam
  2. Bà Trần Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 496/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 327/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 314/2024/QĐST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP T

Địa chỉ trụ sở: Phường V, Quận B, Thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức danh: Tổng Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV T

(Văn bản ủy quyền ngày 12/10/2022)

Ủy quyền lại cho: Ông Trần Gia T, sinh năm 1971

Địa chỉ liên hệ: Phường V, Quận B, Thành phố H.

(Văn bản ủy quyền ngày 30/8/2023)

2. Bị đơn: Ông Hứa Thanh N, sinh năm 1988

Địa chỉ: Nhà không số, Tổ H, Ấp B, xã V, huyện C, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/9/2023 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Ngân hàng TMCP T do ông Trần Gia T đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 02/6/2019 ông Hứa Thanh N có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP T (sau đây gọi chung là Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 02/6/2019) với Ngân hàng TMCP T (gọi tắt là Ngân hàng T). Căn cứ vào thu nhập của ông N, Ngân hàng T đã đồng ý cấp cho ông N 01 (một) Thẻ tín dụng JCB, số thẻ 356481-4297, hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân.

Kể từ ngày được cấp và kích hoạt thẻ tín dụng, ông N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 21.300.000 đồng (Hai mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng) và chỉ thanh toán lại cho Ngân hàng T số tiền 17.410.000 đồng (Mười bảy triệu bốn trăm mười nghìn đồng) theo thứ tự thanh toán được quy định tại Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP T. Sau đó, ông N đã không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận mặc dù đã được Ngân hàng T nhiều lần nhắc nhở.

Do ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP T nên ngày 23/10/2021 Ngân hàng T đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông N. Đồng thời, Ngân hàng T đã chuyển toàn bộ dư nợ tính đến ngày 23/10/2021 của ông N là 17.160.378 đồng (Mười bảy triệu một trăm sáu mươi nghìn ba trăm bảy mươi tám đồng) thành nợ gốc và áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn tính trên nợ gốc là 3,9%/tháng theo quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP T.

Nay Ngân hàng T yêu cầu ông N phải thanh toán cho Ngân hàng T số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 02/6/2019 tính đến ngày 22/5/2014 là 38.196.822 đồng (Ba mươi tám triệu một trăm chín mươi sáu nghìn tám trăm hai mươi hai đồng), trong đó tiền gốc là 17.160.378 đồng (Mười bảy triệu một trăm sáu mươi nghìn ba trăm bảy mươi tám đồng) và tiền lãi quá hạn là 21.036.444 đồng (Hai mươi mốt triệu không trăm ba mươi sáu nghìn bốn trăm bốn mươi bốn đồng). Ngoài ra, ông N còn phải thanh toán cho Ngân hàng T tiền lãi phát sinh theo quy định tại Hợp đồng đã ký từ ngày 23/5/2024 cho đến khi trả hết nợ.

Đồng thời, do bận công việc nên ông Trần Gia T là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng T yêu cầu được xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Hứa Thanh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng ông N vẫn vắng mặt, không rõ lý do; ông N cũng không cung cấp cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn Ngân hàng T vắng mặt, nhưng có văn bản yêu cầu ông Hứa Thanh N phải thanh toán cho Ngân hàng T tổng số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 02/6/2019 tính đến ngày 17/7/2024 là 39.446.070 đồng (Ba mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm bảy mươi đồng), trong đó tiền gốc là 17.160.378 đồng (Mười bảy triệu một trăm sáu mươi nghìn ba trăm bảy mươi tám đồng), tiền lãi quá hạn là 22.585.692 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm chín mươi hai đồng); và yêu cầu ông N tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng T tiền lãi phát sinh theo quy định tại Hợp đồng đã ký từ ngày 18/7/2024 cho đến khi trả hết nợ.

- Bị đơn ông Hứa Thanh N vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T. Buộc ông Hứa Thanh N phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 17/7/2024 là 39.446.070 đồng (Ba mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm bảy mươi đồng), trong đó: dư nợ gốc: 17.160.378 đồng (Mười bảy triệu một trăm sáu mươi nghìn ba trăm bảy mươi tám đồng), lãi quá hạn: 22.585.692 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm chín mươi hai đồng). Ông Hứa Thanh N có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 18/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

- Về án phí: Đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tò và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng T khởi kiện yêu cầu ông Hứa Thanh N trả số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 02/6/2019. Đây là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự có quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 02/6/2019 thể hiện bị đơn ông Hứa Thanh N cư trú tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP T do ông Trần Gia T đại diện theo ủy quyền có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông Hứa Thanh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[3]. Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T, Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.1]. Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 02/6/2019 gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 02/6/2019, Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ của Ngân hàng TMCP T được ông Hứa Thanh N và đại diện Ngân hàng T ký tên xác nhận có cơ sở xác định ông N đã được Ngân hàng T đồng ý cấp cho 01 (một) Thẻ tín dụng JCB có số thẻ là 356481-4297 với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để tiêu dùng cá nhân.

Việc giao kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 02/6/2019 giữa Ngân hàng T và ông N là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đã phát sinh hiệu lực; phù hợp với các quy định tại Điều 117, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3.2]. Theo nội dung được ghi nhận trong Bảng tóm tắt sao kê ngày 16/7/2024 xác định:

  • - Từ ngày 22/6/2019 đến ngày 22/10/2019 ông N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 21.300.000 đồng (Hai mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng).
  • - Từ ngày 22/7/2019 đến ngày 22/6/2021 ông N đã nhiều lần thanh toán cho Ngân hàng T với tổng số tiền là 17.410.000 đồng (Mười bảy triệu bốn trăm mười nghìn đồng), nhưng vi phạm thời hạn thanh toán nên phát sinh các khoản lãi và phí được các bên thỏa thuận trong Hợp đồng.
  • - Tính đến ngày 17/7/2024 ông N còn nợ Ngân hàng T tổng số tiền là 39.446.070 đồng (Ba mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm bảy mươi đồng), trong đó tiền gốc là 17.160.378 đồng (Mười bảy triệu một trăm sáu mươi nghìn ba trăm bảy mươi tám đồng), tiền lãi quá hạn là 22.585.692 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm chín mươi hai đồng).

[3.3]. Theo quy định tại Điều 20 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP T thì số tiền ông N đã trả cho Ngân hàng T sẽ được áp dụng thanh toán theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Ngày 23/10/2021 Ngân hàng T chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông N và tính đến ngày 23/10/2021 số tiền ông N còn nợ Ngân hàng T là 17.160.378 đồng (Mười bảy triệu một trăm sáu mươi nghìn ba trăm bảy mươi tám đồng) đã được Ngân hàng T chuyển sang nợ gốc quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP T.

[3.4]. Căn cứ Quyết định số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 của Ngân hàng TMCP T về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ Thẻ T phát hành tại Việt Nam và Điều 22, Điều 23 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP T thì mức lãi suất trong hạn được áp dụng đối với thẻ tín dụng JCB là 2,6%/tháng và mức lãi suất quá hạn là 3,9%/tháng.

[3.5]. Ngân hàng T yêu cầu ông N phải thanh toán cho Ngân hàng T tổng số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 02/6/2019 tính đến ngày 17/7/2024 là 39.446.070 đồng (Ba mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm bảy mươi đồng), trong đó tiền gốc là 17.160.378 đồng (Mười bảy triệu một trăm sáu mươi nghìn ba trăm bảy mươi tám đồng), tiền lãi quá hạn là 22.585.692 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm chín mươi hai đồng); và yêu cầu ông N tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 18/7/2024 theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[3.6]. Đối với ông Hứa Thanh N, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng ông N vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T xem như ông N từ bỏ quyền lợi và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T.

[3.7]. Xét thấy, ông N không thanh toán cho Ngân hàng T số tiền nợ phát sinh từ các giao dịch sử dụng thẻ tín dụng là vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, Ngân hàng T yêu cầu ông N có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 02/6/2019 tính đến ngày 17/7/2024 là 39.446.070 đồng (Ba mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm bảy mươi đồng), trong đó tiền gốc là 17.160.378 đồng (Mười bảy triệu một trăm sáu mươi nghìn ba trăm bảy mươi tám đồng), tiền lãi quá hạn là 22.585.692 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm chín mươi hai đồng); và yêu cầu ông N tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 18/7/2024 theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là phù hợp với quy định tại Điều 351, Điều 352, Điều 357, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.8]. Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T và Quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh là có căn cứ, phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4]. Về án phí: Ông Hứa Thanh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 117, Điều 280, Điều 351, Điều 352, Điều 357, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T đối với ông Hứa Thanh N về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc ông Hứa Thanh N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP T số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 02/6/2019 là 39.446.070 đồng (Ba mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm bảy mươi đồng), trong đó tiền gốc là 17.160.378 đồng (Mười bảy triệu một trăm sáu mươi nghìn ba trăm bảy mươi tám đồng), tiền lãi quá hạn là 22.585.692 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm chín mươi hai đồng).

Các đương sự thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày 18/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết.

2. Về án phí: Ông Hứa Thanh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.972.304 đồng (Một triệu chín trăm bảy mươi hai nghìn ba trăm lẻ bốn đồng).

Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 804.900 đồng (Tám trăm lẻ bốn nghìn chín trăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0020396 ngày 06/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bùi Xuân Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 463/2024/DS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP.HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 463/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP.HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP T "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" với ông Hứa Thanh N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger