|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 463/2023/DS-PT Ngày: 16/11/2023 V/v“tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tuyết Mai
Các Thẩm phán: Bà Hà Thị Phương Thanh
Bà Võ Bích Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần thơ
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 315/2023/TLPT-DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về “tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 17/2023/DS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Ô Môn bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 482/2023/QĐ-PT ngày 19 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đặng Văn T, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Minh Đ, sinh năm: 1986
Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Phan Văn T1, sinh năm 1960.
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đặng Văn H, sinh năm 1976;
- Bà Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1962;
- Chị Phan Thanh L, sinh năm 1984;
- Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1985;
- Anh Phan Ngọc S, sinh năm 1986;
- Đại diện ủy quyền của ông S, bà T3 có ông Phan Văn T1, sinh năm 1960 (có mặt).
- Ông Võ Minh H1, sinh năm 1946;
- Bà Trần Thị A, sinh năm 1946;
- Ông Võ Văn C, sinh năm 1973;
- Ông Võ Tân X, sinh năm 1979;
- Bà Trần Thị Tuyết N, sinh năm 1977.
Cùng ngụ: Khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị Ẩ, sinh năm 1952.
Địa chỉ: khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- Bà Đặng Thị L1, sinh năm 1954.
Địa chỉ: khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- Bà Nguyễn Thị Ẩ, sinh năm 1952.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc thửa đất 236 tờ bản đồ số 01 diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1.126m² (ODT + LNK), đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ là của bà Nguyễn Thị N1 là người sử dụng hợp pháp và được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay nguyên đơn là người thừa kế hợp pháp tại thửa đất này. Phía bị đơn ông Phan Văn T1 đã bao chiếm phần đất của nguyên đơn với diện tích ngang 9m, dài khoảng 30m (đất cây lâu năm) tổng diện tích bao chiếm là 270m² tại thửa 236 tờ bản đồ số 01 diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Ông H1 cho rằng phần đất này là mua lại của bà Nguyễn Thị N1 vào năm 1996. Đến năm 2000, thì ông H1 tự ý bán lại phần đất này cho ông Phan Văn T1, gia đình ông cũng không hay biết là có sự mua bán này. Nay Ông Võ Minh H1 yêu cầu nguyên đơn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để tách thửa.
Tại thời điểm năm 2000, bị đơn ông T1 xin gia đình ông cho ở nhờ thì cha ông là ông Đặng Văn T4 đồng ý cho ở nhờ và bị đơn xin cất nhà tạm nếu sau này gia đình nguyên đơn có sử dụng phần đất này thì bị đơn ông T1 phải trả lại và di dời toàn bộ tài sản trên đất.
Nay nguyên đơn yêu cầu buộc ông Phan Văn T1 có trách nhiệm trả lại cho ông diện tích đất cho ở nhờ. Tổng diện tích 396,4m², tại thửa 236, tờ bản đồ số 01 theo bản trích đo địa chính số 11/TTKTTNMT ngày 25/02/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C, đất tọa lạc tại Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Hoặc ông T1 muốn ổn định phần đất trên thì ông T1 phải thối lại giá trị đất cho ông là 800.000.000 đồng.
- Bị đơn ông Phan Văn T1 (có đơn phản tố) trình bày rằng: Nguyên vào ngày 15/6/2000, ông có mua một miếng đất của vợ chồng ông Võ Minh H1, cùng ngụ tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ với số vàng là 19 chỉ vàng 24k. Khi mua ông có hỏi ý kiến của bác ba gái là Nguyễn Thị N1 (bà nội của nguyên đơn) và anh ba tên Đặng Văn T4 (cha của nguyên đơn) là chủ đất cũ, hai người này cùng nói với ông là có mua thì mua, họ bán cho ông Võ Minh H1 rồi. Đến khi bà nội và cha của ông Đặng Văn T chết, ông T thừa kế toàn bộ số đất của cha và nội để lại; ông có nhờ mẹ, anh ông T, ông T và ông H1 đứng ra chỉ ranh đất cho ông cắm ranh. Trước ngày ông T chuộc bằng khoán thì mẹ ông T và vợ chồng ông H1 qua nhà ông, mẹ ông T có hứa là khi chuộc bằng khoán về thì sẽ tách cho ông H1 chứ không tách cho ông được, vì bà bán cho ông H1, rồi ông H1 làm hồ sơ chuyển nhượng lại cho ông. Ông cũng đồng ý vì ngày trước bằng khoán này bà nội và cha ông T cầm cố cho nên không tách được. Đến nay ông T chuộc về và ông T làm thủ tục thừa kế đứng tên bằng khoán, rồi ông T nói ông ở nhờ và chiếm dụng đất của gia đình ông T. Ông không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn vì sự thật ông không có chiếm dụng của ai hết, miếng đất này là ông mua của ông H1, ông H1 cũng thừa nhận có bán cho ông và cũng có làm giấy mua bán với ông, giấy báo đóng thế đất hàng năm cũng ghi tên ông và ông cũng đóng thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và ông cũng đã cất nhà ở ổn định từ năm 2000 đến nay không có ai tranh chấp, nếu việc ông T cho rằng ông ở nhờ và chiếm dụng đất của gia đình ông T thì tại sao 20 năm nay ông T không khiếu nại. Do ông đã mua đất của ông H1, bà A và cất nhà ở ổn định từ năm 2000 đến nay. Nay ông yêu cầu ông T giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H1 để ông H1 làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông đứng tên. Nay, ông yêu cầu tiếp tục ổn định diện tích đất 396,4m² theo theo bản trích đo địa chính số 11/TTKTTNMT ngày 25/02/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thanh T2 trình bày: Bà là vợ của ông T1, bà thống nhất với phần trình bày của chồng bà là ông Phan Văn T1. Do ông T1 đã mua bán đất với ông H1 và cất nhà ở ổn định từ năm 2000 đến nay. Nay bà yêu cầu ông T giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H1 để ông H1 làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T1 đứng tên.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn H trình bày: Vào năm 1996, ông không biết việc gia đình có mua bán đất, ông Võ Minh H1 cho rằng ông có ký tên trong Tờ mua bán đất là không có, mọi việc liên quan ông đều vắng mặt không hay biết. Ông không có ý kiến và không yêu cầu gì trong vụ án này. Trước năm 2000 thì ông ở Cà Mau đến sau năm 2000 thì ông có về phần đất này thì đã thấy ông T1 cất nhà thì ông có hỏi ông T1 lý do như thế nào mà cất nhà trên phần đất này thì ông T1 có nói là phần đất này ông T1 mua lại của ông H1.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Minh H1 trình bày: Vào năm 1996 giữa ông với gia đình ông Đặng Văn T4 (chết) (cha của Đặng Văn T) có mua bán đất có lập tờ mua bán tay, loại đất vườn, ngang 09m, dài giáp mươn vườn ông Bảy N2, có mẹ của ông T4 là bà Nguyễn Thị N1 (chết) và con của ông T4 là Đặng Văn H, Đặng Văn T ký tên. Có 02 người làm chứng là Phạm Văn N3 và Nguyễn Văn V chứng kiến (02 người làm chứng đã chết). Tờ mua bán đất này là do ông Đặng Văn T4 làm và đưa cho ông, ông Đặng Văn T4 nói là ông T4 viết và đưa cho ông. Ông không chứng kiến ai là người viết tờ mua bán. Đến năm 2000 ông bán lại cho vợ chồng ông Phan Văn T1, ông T1 đã xây dựng nhà ở đến nay.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị A (vợ ông Võ Minh H1) trình bày: Bà và ông H1 có mua phần đất hiện nay đang tranh chấp giữa ông T và ông T1. Khoảng vài năm gần đây ông T có đến hỏi bà giấy mua bán đất giữa gia đình ông T với ông H1 đâu thì bà nói đã mất nên phía ông T có nói với bà nếu mất thì nói mất luôn đi ông cho bà 01 cây vàng. Lúc này ông T đi cùng người lạ mặt nên bà không biết là ai nên bà không đem giấy mua bán đất giữa vợ chồng bà với ông T4 cho xem, thực tế thì tờ giấy mua bán đất bà đã cất trong tủ từ khi mua đến nay.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn C (con ông Võ Minh H1) trình bày: từ năm 1996 khi ông H1 mua đất của ông T4 thì ông có trồng cam trên phần đất này đến năm 2000 do ông H1 khó khăn nên có nói với ông muốn bán lại phần đất này cho ông T1 nên ông đồng ý và ông H1 cùng với những người trong gia đình làm tờ mua bán đất bán lại cho ông T1.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Tân X (con ông Võ Minh H1) trình bày: đối với phần đất này thì vào năm 1996 ông H1 có bán một phần đất cách nhà 500m để có tiền mua lại phần đất này cho liền ranh với phần đất nhà. Sau đó gia đình đã bán lại cho ông T1 và ông T1 đã sử dụng đến nay.
Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên Tòa án nhân dân quận Ô Môn đưa vụ án ra xét xử, tại bản án sơ thẩm số: 17/2023/DS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Ô Môn đã tuyên như sau:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn T về việc yêu cầu buộc ông Phan Văn T1 trả lại cho ông diện tích đất có tổng diện tích 396,4m², tại thửa 236, tờ bản đồ số 01 theo bản trích đo địa chính số 11/TTKTTNMT ngày 25/02/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C, đất tọa lạc tại Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Hoặc ông T1 muốn ổn định phần đất trên thì ông T1 phải thối lại giá trị đất cho ông Đặng Văn T là 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng).
Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phan Văn T1 về việc yêu cầu tiếp tục ổn định diện tích đất 396,4m² theo theo bản trích đo địa chính số 11/TTKTTNMT ngày 25/02/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C.
Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo bản trích đo địa chính số 11/TTKTTNMT ngày 25/02/2022 của Trung tâm K)
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, nguyên đơncó đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nhưng có bổ sung thêm là yêu cầu hủy bản án sơ thẩm do vi phạm tố tụng.
Người có quyền và nghĩa vụ lien quan ông H thống nhất yêu cầu của nguyên đơn.
Bị đơn và những người có quyền và nghĩa vụ lien quan như bà T2, bà L, ông H1 bà A và ông C cùng thống nhất yêu cầu bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn và thời hạn nộp tạm ứng kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự thể hiện phần đất nguyên đơn tranh chấp là của bà Nguyễn Thị N1 (bà nội của nguyên đơn). Ngày 05/4/1991, bà N1 có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất thửa 236, diện tích 1.126m2 (có 300m² đất loại T) và thửa 305, diện tích 214m2 (đất LNK), TBĐ số 1, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện Ô (cũ). Ngày 01/6/1991, bà Năm UBND huyện Ô (cũ) được cấp GCNQSD đất số 000482, thửa 236 và 305. Ngày 03/5/2006, bà N1 chết không để lại di chúc. Ngày 06/7/2020, ông Đặng Văn T làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế của bà N1 và được Chi nhánh VP ĐKQSD đất quận Ô điều chỉnh đứng tên quyền sử dụng đất vào ngày 17/7/2020. Ông T cho rằng việc mua bán đất giữa ông Võ Minh H1 với bà N1 và gia đình ông vào năm 1996 và đến năm 2000 ông H1 bán lại cho bị đơn ông T1 gia đình ông không hay biết, cũng không ký tên vào tờ mua bán đất. Việc ông T1 sử dụng phần đất trên là do ông T1 xin cha ông là Đặng Văn T4 cho ở nhờ, cất nhà tạm, cha ông có nói khi nào gia đình cần thì ông T1 phải di dời trả lại đất. Tuy nhiên, nguyên đơn không cung cấp được các giấy tờ, tài liệu nào để chứng minh việc gia đình nguyên đơn cho hộ ông T1 ở nhờ do đó Tòa án cấp sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của nguyên đơn nhưng căn cứ vào “Tờ mua bán” ngày 30/9/1996 giữa ông Võ Minh H1 và bà Nguyễn Thị N1, ông Đặng Văn T4, Đặng Văn H, Đặng Văn T thể hiện gia đình nguyên đơn có bán đất cho ông H1 sau này ông H1 bán lại cho ông T1 gia đình nguyên đơn không có ý kiến gì. Ngoài ra, Tại bản kết luận giám định số 144/KL-KTHS-TL ngày 02/02/2023 của Phòng K Công an Thành phố C kết luận: Không đủ cơ sở kết luật chữ ký mang họ tên Đặng Văn T4 trên tài liệu cần giám định so với chữ ký tên Đặng Văn T4 trên các tài liệu mẫu có phải do một người cùng ký ra hay không, nhưng tại thời điểm mua bán bà N1 là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà N1 mới là người có quyền định đoạt, chuyển nhượng. Từ những nhận định như trên, xét thấy kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại tòa phúc thẩm; Căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên; của luật sư và những người tham gia tố tụng khác.
[1] Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại đất, phía bị đơn phản tố yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đang tranh chấp cho bị đơn. Do đó, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp quyền sử dụng đất là phù hợp.
[2] Xét kháng cáo của ông Đặng Văn T Hội đồng xét xử nhận thấy:
Thứ nhất: đối với yêu cầu giám định lại chữ ký của ông Đặng Văn T4 thấy rằng, tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không cung cấp được mẫu chữ ký bổ sung ngoài những mẫu chữ ký đã được giám định lần đầu ở cấp sơ thẩm. Đồng thời, nguyên đơn cũng không có chứng cứ để chứng minh Kết luận giám định chữ ký số 144 ngày 02/02/2023 của Phòng K Công an thành phố C là không chính xác hoặc có vi phạm pháp luật để cần phải giám định lại. Do đó, căn cứ khoản 5 Điều 102 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
Thứ hai: Tại phiên tòa, phía nguyên đơn cho rằng ông T1 sử dụng phần đất trên là do ông Đặng Văn T4 cho ở nhờ nhưng nguyên đơn không cung cấp được các giấy tờ, tài liệu nào để chứng minh việc gia đình nguyên đơn cho hộ ông T1 ở nhờ. Tuy nhiên, phía bị đơn thì cho rằng phần đất tại thửa 236 gia đình bị đơn đang sử dụng là mua lại từ ông Võ Minh H1 vào năm 2000, điều này được ông H1 xác nhận tại phiên tòa. Chứng cứ mà bị đơn ông T1 và người liên quan ông H1 cung cấp là “Tờ mua bán” ngày 30/9/1996 giữa ông Võ Minh H1 và bà Nguyễn Thị N1, ông Đặng Văn T4, Đặng Văn H, Đặng Văn T và “Tờ mua bán đất thổ cư” ngày 15/6/2000 giữa ông Phan Văn T1 và ông Võ Minh H1. Thấy rằng, tại biên bản ghi lời khai ngày 18/01/2021 (bút lục 54) của người làm chứng bà Võ Thị C1 trình bày: “Bà là người cùng xóm với vợ chồng ông Võ Minh H1, bà Trần Thị A và gia đình ông Phan Văn T1. Vào năm 1996, bà có thấy vợ ông H1 làm cỏ bên bờ đất của bà N1 nên bà mới hỏi “sao thiếm làm cỏ bên bờ bà N1 nên vợ ông H1 nói là mua đất này của bà N1, bà N1 ngồi trong hàng ba nhà bà N1 trả lời là đã bán đất cho vợ chồng chú H1 rồi”.....Mấy năm sau bà nghe nói vợ chồng ông H1 bán phần đất này lại cho ông T1, ...sau đó bà thấy ông T1 có cất nhà che lá tạm bợ trên phần đất đã mua của ông H1, khoảng 02 năm sau có cất lại nhà hai mái cột tre, khoảng mấy năm sau thì ông T1 có cất nhà tường ở từ đó cho đến nay”. Bên cạnh đó, tại biên bản ghi lời khai ngày 18/01/2021 (bút lục 53) bà Phan Thị H2 cho rằng “khoảng tháng 5/2020 bà có đến nhà của ông Phan Văn T1 chơi cũng trong thời gian này có mẹ của ông Đặng Văn T – tên thường gọi là bà ba T5 qua chơi, thì vợ ông T1 nói với mẹ của ông T là thời gian nào bà tách giấy đất cho tôi thì mẹ ông T nói là bà cố gắng chuộc lại giấy để tách cho vợ chồng chú H1 xong thì vợ chồng chú H1 tách lại cho ông T1”. Đồng thời, lời trình bày của bà Trần Thị Ẩ1 (mẹ ruột của ông T) tại phiên tòa sơ thẩm đã thừa nhận “từ năm 1996, bà có biết vợ ông H1 sử dụng phần đất đang tranh chấp, sau đó là gia đình ông T1 cất nhà ở. Từ trước đến nay bà cũng không có tranh chấp gì về đất đai với gia đình ông H1 hay ông T1”. Kết hợp với lời khai của ông H là anh của nguyên đơn cho rằng sau năm 2000 thì ông có về phần đất này thì đã thấy ông T1 cất nhà thì ông có hỏi ông T1 lý do như thế nào mà cất nhà trên phần đất này thì ông T1 có nói là phần đất này ông T1 mua lại của ông H1. Do đó, có cơ sở kết luận có sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà N1, ông T4 với ông H1 vào năm 1996 nên mới có việc bà A, ông X, ông C trồng cây, canh tác trên đất cũng như có việc chuyển nhượng đất giữa ông H1 với ông T1 vào năm 2000 và ông T1 sử dụng cho đến nay. Phần đất đang tranh chấp tại thửa 236 giao cho người khác quản lý sử dụng cụ thể là ông H1, sau khi ông H1 mua từ bà N1, ông T4, sau đó là ông T1 nhận chuyển nhượng từ ông H1 sử dụng hơn 20 năm, phía gia đình nguyên đơn không ai ngăn cản, tranh chấp hay khiếu nại gì. Mặc dù việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ về mặc hình thức (giấy viết tay). Tuy nhiên, căn cứ vào Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, tại phần II, mục 2.3, tiểu mục b.3 thì Toà án công nhận hợp đồng. Từ những phân tích trên, cho thấy nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Thứ ba, nguyên đơn yêu cầu hủy bản án sơ thẩm do cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, không đưa những người con của bà Nguyễn Thị N1 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền và nghĩa vụ liên quan, đồng thời một trong những người con của bà N1 đang định cư ở nước ngoài nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án cấp tỉnh. Thấy rằng, đất đang tranh chấp có nguồn gốc từ bà Nguyễn Thị N1 (bà nội của ông T), tuy nhiên bà N1 chết ngày 03/5/2006, không để lại di chúc đến ngày 06/7/2020, nguyên đơn ông Đặng Văn T làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế của bà N1 và được Chi nhánh Văn phòng Đ1 điều chỉnh đứng tên quyền sử dụng đất vào ngày 17/7/2020. Vì vậy, cấp sơ thẩm không đưa những người thừa kế của bà N1 tham gia tố tụng là phù hợp.
[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: do kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Đặng Văn T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn T về việc yêu cầu buộc ông Phan Văn T1 trả lại cho ông diện tích đất có tổng diện tích 396,4m², tại thửa 236, tờ bản đồ số 01 theo bản trích đo địa chính số 11/TTKTTNMT ngày 25/02/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C, đất tọa lạc tại Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Hoặc ông T1 muốn ổn định phần đất trên thì ông T1 phải thối lại giá trị đất cho ông Đặng Văn T là 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng).
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phan Văn T1 về việc yêu cầu tiếp tục ổn định diện tích đất 396,4m² theo theo bản trích đo địa chính số 11/TTKTTNMT ngày 25/02/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C.
Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. (Kèm theo bản trích đo địa chính số 11/TTKTTNMT ngày 25/02/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và Môi trường thành phố C)
- Chi phí đo đạc, thẩm định, định giá và lệ phí trích đo địa chính và chi phí giám định chữ ký: ông Đặng Văn T phải chịu 23.866.000 đồng (hai mươi ba triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn đồng). (Công nhận ông T đã tạm ứng và chi xong).
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Văn T1 được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 011661 ngày 27/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
- Nguyên đơn ông Đặng Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 011421 ngày 21/12/2020 (công nhận ông T đã nộp xong).
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông T nộp 300.000 đồng án phí, chuyển tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003593 ngày 23/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn thành án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Tuyết Mai |
Bản án số 463/2023/DS-PT ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 463/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSDĐ
