Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 462/2023/HS-PT
Ngày: 26-12-2023

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang.

Các Thẩm phán:

  1. Ông Phan Thanh Nguyễn
  2. Ông Ngô Ngọc Thắng

Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mạnh Thị Tú Uyên - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 416/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Lê Thanh T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 62/2023/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Thanh T, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1982 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: G T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Bá T1 (đã chết) và bà Lê Thị Hồng C; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: 1. Tại Bản án số 299/2012/HSST ngày 29/8/2012 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án phúc thẩm số 193/2012/HSPT ngày 19/12/2012 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên y án sơ thẩm). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/01/2014; 2. Tại Bản án số 173/2014/HSST ngày 23/7/2014 cuả Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/10/2017; 3. Tại bản án số 98/2018/HSST ngày 23/5/2018 của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/12/2022.

Tiền sự: Không.

Bị bắt, tạm giam ngày 03/4/2023 – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 15 phút ngày 03/4/2023, Lê Thanh T điều khiển xe mô tô biển số 59K2-070.48 đi tìm người có tài sản sơ hở để cướp giật bán lấy tiền tiêu xài. Khi lưu thông đến trước cổng số 2 nhà thi đấu Phú Thọ, đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, T nhìn thấy phía bên trái đường có bà Nguyễn Thị Kim C1 đang đứng sát vỉa hè trên tay cầm điện thoại nên T chuyển hướng xe sang phần đường ở chiều ngược lại, điều khiển xe áp sát chỗ bà C1 đứng rồi T dùng tay trái giật điện thoại di động hiệu Iphone XS Max của bà C1 và nhanh chóng điều khiển xe chạy về đường N, Phường A, Quận A để tẩu thoát. Lúc này, anh Nguyễn Văn Đ là bạn trai của bà C1 tri hô cũng chạy xe đuổi theo T. Khi T điều khiển xe mô tô đến trước số A lô C chung cư P, Phường A, Quận A, T điều khiển xe lấn trái sang phần đường ngược chiều gây tai nạn với xe mô tô biển số 54R3-4946 do bà Bùi Thị Minh T2 chở bà Đào Thị D đang lưu thông chiều ngược lại. Vụ va chạm làm cho người và xe của tất cả các bên ngã xuống đường. T bỏ xe chạy bộ đến trước nhà số I N, Phường 1, quận T thì bị anh Nguyễn Xuân T3 đuổi theo bắt được T cùng điện thoại di động của bà C1 trong túi áo của T. Sau đó, T cùng tang vật được anh T3 đưa về trụ sở Công an P, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Đối với bà Đào Thị D sau tai nạn bị gãy xương đùi trái nên được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện T4. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Q đã Trưng cầu giám định thương tích đối với bà D và thực hiện quyết định dẫn giải nhưng bà D không đồng ý đi giám định, không yêu cầu xử lý hành vi này với T. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Q chưa đủ căn cứ để xử lý T về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” cũng như đề nghị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% đối với T.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐ ĐGTS ngày 10/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Công an Q kết luận: Giá trị điện thoại đi động hiệu Iphone XS Max là 8.250.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 62/2023/HS-ST ngày 26-9-2023 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Thanh T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn giải quyết phần dân sự, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/9/2023, bị cáo Lê Thanh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thanh T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như đã nêu trên. Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản như nội dung bản án sơ thẩm, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về hòa nhập xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Lê Thanh T không tự bào chữa và không tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Thanh T về nội dung quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân Quận A, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận 11, Thẩm phán, Thư ký Tòa án trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Căn cứ lời khai của bị cáo Lê Thanh T tại phiên tòa phúc thẩm, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Vào lúc 07 giờ 15 phút ngày 03/4/2023 tại khu vực trước cổng số 2 Nhà thi đấu Phú Thọ, đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Lê Thanh T đã lợi dụng sở hở của bị hại Nguyễn Thị Kim C1 trong việc quản lý tài sản, để điều khiển xe mô tô biển số 54R3-4946 áp sát bị hại Chi rồi nhanh chóng chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, sau đó tăng ga bỏ chạy về hướng đường N, Phường I, quận T thì bị khống chế, bắt giữ. Tài sản chiếm đoạt qua định giá trị giá 8.250.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo T đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm”. Đồng thời, xét nhân thân bị cáo T có 03 tiền án về cùng hành vi cướp giật, đã “tái phạm nguy hiểm”. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2023/HS-ST ngày 26-9-2023 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo T về tội phạm tội “Cướp giật tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Thanh T, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để quyết định mức hình phạt 07 năm tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tại phiên tòa phúc thẩm không trình bày được tình tiết giảm nhẹ nào mới để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, giảm nhẹ hơn nữa hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2023.

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TC; (1)
  • - TAND cấp cao tại Tp. HCM (1)
  • - VKSND TP.HCM; (3)
  • - VKSND Quận 11; (2)
  • - P.V06 - CATP; (1)
  • - Bị cáo; (2)
  • - THADS Quận 11; (1)
  • - TAND Quận 11; (2)
  • - Công an Quận 11; (1)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (21) (4)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 462/2023/HS-PT ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 462/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh T bị Tòa án cấp phúc thẩm xử phạt 07 năm tù về tội "Cướp giật tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger