Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 462/2024/DSPT

Ngày: 06/11/2024

V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Dung
  • - Các thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang
  • Bà Hà Thị Phương Thanh
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Ban – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Hồng Phil – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số 344/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024.

Do Bản án sơ thẩm số 164/2024/DSST ngày 10/7/2024 Của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xử có kháng cáo, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ông Lâm Tấn N, sinh năm 1980. Xin vắng mặt.
  • Nơi cư trú: Số B B, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
  • * Bị đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1).
  • Hội sở chính: Số 19-21-23-25 Nguyễn Huệ, phường Bến Nghé, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
  • Địa chỉ Chi nhánh Cần Thơ: Số 213-215-217, Đường 30/4, phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang T – Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Ngọc H – Giám đốc tư vấn Dịch vụ tài chính cá nhân (Giấy ủy quyền ngày 05/11/2024). Có mặt

Người kháng cáo: Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 18/10/2023, ông Lâm Tấn N trình bày:

Ngày 17/8/2017, ông có ký Hợp đồng lao động (HĐLĐ) số 2672/HĐLĐ-SCB-CNCT-2017 với Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1), xác định thời hạn 12 tháng (từ ngày 17/8/2017-16/8/2018). Chức danh chuyên môn: Chuyên viên cấp 1 khách hàng doanh nghiệp, làm việc tại Chi nhánh C (Địa chỉ: Số B, Đường C, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ).

Đến ngày 16/8/2018 hết hạn HĐLĐ, ông có đơn đề nghị không tái ký HĐLĐ và yêu cầu S1 thanh lý HĐLĐ, ban hành quyết định chấm dứt HĐLĐ theo quy định pháp luật. Quá trình công tác tại S1, vào tháng 11/2017, SCB có cấp cho ông 01 Thẻ tín dụng Visa với hạn mức 80.000.000 đồng (tín chấp CBNV), đến ngày 15/8/2018 dư nợ thẻ là 84.869.743 đồng. Ngày 17/8/2018, ông và S1 đã tiến hành ký Biên bản bàn giao công việc, dụng cụ lao động và ông đã thanh toán số tiền nợ thẻ 84.869.743 đồng cho S1 theo sao kê Thẻ tín dụng ngày 15/8/2018.

Điều 2 quy định: Trách nhiệm và quyền lợi của Bên B. Biên bản thỏa thuận thanh lý hợp đồng ngày 17/8/2018, nêu: “...Kể từ ngày hai bên ký Biên bản thỏa thuận thanh lý HĐLĐ, Bên B phải bồi thường cho Bên A các khoản tiền sau:

“……… Tất toán dư nợ thẻ MasterCard/Visa (nếu có)”.

Như vậy, điều kiện nghỉ việc là ông phải hoàn thành nghĩa vụ tài chính Thẻ tín dụng tại SCB, nếu chưa thực hiện kể từ ngày ký biên bản thì phải chịu lãi suất chậm trả tối đa 150% lãi suất do Ngân hàng N1 quy định tại thời điểm chậm trả.

Điều 2 Quyết định số 4907.1/SĐ-TGĐ.18 ngày 17/8/2018 về việc chấm dứt HĐLĐ quy định: “...Ông Lâm Tấn N có trách nhiệm: Giải quyết các vấn đề có liên quan đến trách nhiệm cá nhân (nếu có) với Ngân hàng TMCP S trước khi nghỉ việc...”. Như vậy, ông đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ Thẻ tín dụng tại SCB kể từ ngày 17/8/2018. Kể từ ngày nghỉ việc đến nay đã hơn 05 năm, ông và S1 không phát sinh tranh chấp liên quan HĐLĐ, Hợp đồng tín dụng, SCB không thông báo nghĩa vụ nợ đối với ông, không có biên bản xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại hoặc nghĩa vụ tài chính khác. Như vậy, có đủ cơ sở SCB đến thời điểm hiện tại không bị mất quyền lợi, tổn thất trong thời gian ông làm việc mà ông phải bồi thường thiệt hại.

Đối với Hợp đồng Thẻ tín dụng đã hết thời hiệu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự là 03 năm.

Do đó, có căn cứ ông không còn trách nhiệm đối với S1 (bao gồm nợ thẻ tín dụng). Tuy nhiên, ngày 17/10/2023, ông tra cứu thông tin tín dụng khách hàng vay cá nhân từ Trung tâm T1 (C1), theo số phiếu 2023/K11.1 thì ông có phát sinh nợ thẻ tín dụng tại SCB, số tiền 805 triệu đồng, số ngày chậm thanh toán 998 ngày.

Với thông tin này, ảnh hưởng rất lớn đến uy tín, nhân thân tín dụng, hơn nữa làm cho ông không xin được việc làm tại tổ chức khác. Cụ thể là Ngân hàng TMCP Q (V) – Chi nhánh H1 đã yêu cầu ông bổ sung thông tin, chứng minh tính hợp lệ của khoản nợ theo quy định pháp luật hạn chót vào ngày 31/10/2023, là điều kiện tuyển dụng nhân sự làm việc.

Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình, ông yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  1. Buộc SCB ban hành thông báo gửi ông Lâm Tấn N, V – Chi nhánh H1 (địa chỉ: Số B Đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ) và các Tổ chức tín dụng khác, với nội dung: “Ông Lâm Tấn N không còn trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan (bao gồm nghĩa vụ nợ vay) tại Ngân hàng thương mại cổ phần S kể từ ngày 17/8/2018".
  2. Buộc SCB thông báo cho Trung tâm T1 (C1) về việc yêu cầu gỡ toàn bộ thông tin nợ thẻ tín dụng phát sinh tại S1 kể từ ngày 17/8/2018.

Theo đơn khởi kiện bổ sung ngày 24/01/2024, ông Lâm Tấn N trình bày:

Sau khi nghỉ việc tại S1, ông chuyển công tác vào làm việc tại Công ty TNHH Q1 và khai thác tài sản ngân hàng TMCP Q2 (MBAMC) từ tháng 10/2018 đến tháng 5/2023, vị trí Chuyên viên cao cấp tố tụng, mức lương gần nhất trước khi nghỉ việc tại MBAMC là 31.352.000 đồng/tháng.

Sau đó, đến đầu tháng 10/2023, ông có nộp hồ sơ xin việc tại V – Chi nhánh H1, ông đã đạt được kết quả phỏng vấn vị trí Chuyên viên cao cấp quản lý nợ với mức lương 20.000.000 đồng/tháng.

Trong quá trình hoàn thiện thủ tục, hồ sơ làm việc thì phía V có thông báo bằng điện tử yêu cầu ông cung cấp chứng từ chứng minh không phát sinh nợ quá hạn tại S1, số tiền 805 triệu đồng, số ngày chậm thanh toán 998 ngày, thời gian cung cấp từ 17/8/2018 – 31/10/2023.

Nếu sau thời gian này không cung cấp, thì V hủy kết quả phỏng vấn và từ chối tuyển dụng, vì đối với người lao động tuyển dụng mới phải là không phát sinh nợ quá hạn, nợ xấu tại các Tổ chức tín dụng là điều kiện để tuyển dụng nhân sự vào làm việc. Mặc dù ông đã nhiều lần liên hệ SCB làm việc phát sinh nợ quá hạn, nợ xấu nhưng SCB không thiện chí phối hợp giải quyết dẫn đến nhà tuyển dụng có khả năng từ chối nhận ông vào làm việc.

Do đó, ngày 19/10/2023, ông nộp đơn khởi kiện S1 ra TAND quận Ninh Kiều. Thời gian chờ giải quyết, vì nguồn thu nhập lo cuộc sống gia đình hàng ngày, nên ông có xin việc tại Công ty L, ngày 16/10/2013, Công ty thông báo nhận ông vào làm việc với vị trí Chuyên viên pháp lý phụ trách mảng kinh doanh thương mại, dân sự, lĩnh vực ngân hàng với mức lương 25.000.000 đồng/tháng, thời gian HĐLĐ là 12 tháng, kể từ ngày 01/11/2023.

Trước khi vào làm việc, ông có cung cấp hồ sơ nhân thân xin việc theo yêu cầu của Công ty vào ngày 19/10/2023.

Sau khi làm việc được 07 ngày (từ ngày 01-07/11/2023), Công ty ban hành thông báo số 08/TB-ĐCV ngày 07/11/2023 v/v tạm ngưng HĐLĐ số 006/HĐLĐ/ĐCV ngày 01/11/2023, vì lý do phát sinh nợ quá hạn, nợ xấu tại SCB số tiền 805 triệu đồng..., nên đã chấm dứt HĐLĐ với ông.

Như vậy, với hành vi không thông báo cho Trung tâm T1 (C1) về việc ông đã hoàn thành nghĩa vụ nợ tại SCB từ ngày 17/8/2018, mà vẫn còn báo cáo nợ xấu của ông đến nay, đã làm ảnh hưởng đến uy tín chất lượng tín dụng cá nhân, ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm (không được tuyển dụng), làm cho ông không có nguồn thu nhập, dẫn đến khó khăn tài chính cá nhân và gia đình....

Do đó, ông khởi kiện bổ sung, buộc SCB bồi thường thiệt hại cho ông số tiền 50.000.000 đồng của 02 tháng tiền lương, tháng 11, 12/2023, tiếp tục bồi thường tiền lương (từ tháng 01/2024) từ nguồn thu nhập HĐLĐ số 006/HĐLĐ/ĐCV ngày 01/11/2023 đã bị chấm dứt mà ông không nhận được cho đến khi Trung tâm T1 (C1) tháo gỡ toàn bộ thông tin nợ xấu của ông khỏi hệ thống.

* Theo bản ý kiến ngày 01/3/2024, S1 trình bày:

SCB là bị đơn trong vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng với ông Lâm Tấn N, ông N yêu cầu S1 về các vấn đề sau:

  1. Buộc SCB ban hành thông báo gửi cho ông Lâm Tấn N, V – Chi nhánh H1 (địa chỉ: Số B Đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ) và các Tổ chức tín dụng khác, với nội dung: “Ông Lâm Tấn N không còn trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan (bao gồm nghĩa vụ nợ vay) tại Ngân hàng thương mại cổ phần S kể từ ngày 17/8/2018".
  2. Buộc SCB thông báo cho Trung tâm T1 (C1) về việc yêu cầu gỡ toàn bộ thông tin nợ thẻ tín dụng phát sinh tại S1 kể từ ngày 17/8/2018.

3. Buộc SCB bồi thường thiệt hại số tiền 50.000.000 đồng của 02 tháng tiền lương, tháng 11, 12/2023, tiếp tục phải bồi thường tiền lương (từ tháng 01/2024) từ nguồn thu nhập HĐLĐ số 006/HĐLĐ/ĐCV ngày 01/11/2023 đã bị chấm dứt mà ông không nhận được cho đến khi Trung tâm T1 (C1) tháo gỡ toàn bộ thông tin nợ xấu của ông khỏi hệ thống.

SCB kính đề nghị Tòa án xem xét bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, với lý do: Ông Lâm Tấn N hiện đang là khách hàng quá hạn Thẻ tín dụng nhóm 5 với số tiền 985.117.622 đồng tạm tính đến ngày 15/02/2024 tại S1. Thẻ tín dụng của ông Lâm Tấn N đã quá hạn 1.983 ngày.

Yêu cầu ông Lâm Tấn N phải thanh toán đầy đủ nghĩa vụ nợ tại SCB theo đúng quy định.

* Theo đơn sửa đổi nội dung đơn khởi kiện ngày 16/5/2024, ông Lâm Tấn N trình bày:

Ngày 18/10/2023, ông có khởi kiện S1, yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều giải quyết:

  • Buộc SCB ban hành thông báo gửi ông Lâm Tấn N, V – Chi nhánh H1 (địa chỉ: Số B Đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ) và các Tổ chức tín dụng khác, với nội dung: “Ông Lâm Tấn N không còn trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan (bao gồm nghĩa vụ nợ vay) tại Ngân hàng thương mại cổ phần S kề từ ngày 17/8/2018".
  • Buộc SCB thông báo cho Trung tâm T1 (C1) về việc yêu cầu gỡ toàn bộ thông tin nợ thẻ tín dụng phát sinh tại S1 kể từ ngày 17/8/2018.
  • Buộc SCB bồi thường thiệt hại số tiền 50.000.000 đồng của 02 tháng tiền lương, tháng 11, 12/2023, tiếp tục phải bồi thường tiền lương (từ tháng 01/2024) từ nguồn thu nhập HĐLĐ số 006/HĐLĐ/ĐCV ngày 01/11/2023 đã bị chấm dứt mà ông không nhận được cho đến khi Trung tâm T1 (C1) tháo gỡ toàn bộ thông tin nợ xấu của ông khỏi hệ thống.

Ngày 15/5/2024, Tòa án mở phiên tòa xét xử công khai. Tại phiên tòa ông N đã rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu bồi thường thiệt hại, giữ lại yêu cầu đối với đơn khởi kiện ngày 18/10/2023, về việc buộc SCB ban hành thông báo gửi ông Lâm Tấn N, V – Chi nhánh H1 (địa chỉ: Số B Đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ) và các Tổ chức tín dụng khác, với nội dung: “Ông Lâm Tấn N không còn trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan (bao gồm nghĩa vụ nợ vay) tại Ngân hàng thương mại cổ phần S kể từ ngày 17/8/2018” và buộc S1 thông báo cho Trung tâm T1 (C1) về việc yêu cầu gỡ toàn bộ thông tin nợ thẻ tín dụng phát sinh tại S1 kể từ ngày 17/8/2018.

Sau phần hỏi, Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để làm rõ thêm một số vấn đề liên quan đến vụ án. Mặc dù ông đã thanh toán toàn bộ nghĩa vụ nợ cho ngân hàng vào ngày 18/8/2018 với số tiền 84.869.743 đồng, giấy nộp tiền bản gốc ông đã giao nộp cho Ngân hàng để thực hiện thủ tục, chính sách nghỉ việc cho người lao động theo quy định, hiện nay ông không còn lưu giữ bản gốc để chứng minh đã tất toán hợp đồng tín dụng.

Do đó, để cân bằng lợi ích, quyền lợi các bên, ông đồng ý còn nợ SCB số tiền gốc 80.000.000 đồng, ông không đồng ý tiền lãi phát sinh.

Như vậy, ông đã đồng ý còn nợ tín dụng SCB số tiền gốc 80.000.000 đồng, nên Hội đồng xét xử quay lại phần hòa giải là cần thiết, để giải quyết triệt để vụ án.

Căn cứ pháp lý:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/10/2023, Nguyên đơn yêu cầu ông Lâm Tấn N không còn nghĩa vụ nợ tại SCB, hôm nay nguyên đơn thay đổi yêu cầu, tự nguyện chấp nhận còn nợ SCB, từ việc không có nợ thành còn nợ là hướng có lợi cho bị đơn.

Mặt khác toàn bộ quá trình giải quyết vụ án Bị đơn không yêu cầu phản tố, buộc ông N trả nợ hợp đồng tín dụng.

Như vậy, Nguyên đơn sửa đổi yêu cầu khởi kiện vẫn thuộc phạm vi khởi kiện ban đầu đối với “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, giữa ông Lâm Tấn N với SCB, theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 12/3/2024, Nguyên đơn có yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện để giải quyết vụ án. Tại các lần hòa giải, xét xử tại Tòa, SCB đều xác định ông N quá hạn vào ngày 11/9/2018, nhưng S1 vẫn không khởi kiện để buộc ông N trả nợ tín dụng là đã hết thời hiệu khởi kiện 03 năm theo quy định tại Điều 429 Bộ luật tố tụng dân sự. Nay yêu cầu tuyên bố ông Lâm Tấn N còn nợ SCB số tiền gốc 80.000.000 đồng. Sau khi thanh toán xong nợ gốc, thì S1 phải ban hành thông báo cho Trung tâm T1 về việc gỡ thông tin dư nợ của ông Lâm Tấn N thể hiện trên hệ thống CIC.

* Theo bản ý kiến ngày 30/5/2024, S1 trình bày:

Căn cứ Đơn sửa đổi bổ sung nội dung khởi kiện của ông Lâm Tấn N ngày 16/5/2024, với nội dung đề nghị Hội đồng xét xử “Tuyên bố ông Lâm Tấn N còn nợ SCB số tiền gốc 80.000.000 đồng”. Việc này đồng nghĩa rằng, ông Lâm Tấn N đã thừa nhận một phần nghĩa vụ của mình đối với S1. Theo đó, căn cứ vào Điều 157 Bộ luật dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được bắt đầu lại đối với toàn bộ nghĩa vụ nợ của ông Lâm Tấn N tại S1. Do đó, đề nghị quý Tòa yêu cầu ông Lâm Tấn N thanh toán toàn bộ nghĩa vụ nợ tại S1.

Tạm tính đến ngày 15/02/2024, tổng nợ ông N cần thanh toán cho S1 là 985.117.622 đồng (gốc: 83.999.996 đồng, lãi: 220.024.546 đồng, phí: 681.093.080 đồng).

Tại phiên tòa sơ thẩm;

Ý kiến của Nguyên đơn:

Rút lại yêu cầu khởi kiện, buộc SCB bồi thường số tiền 50.000.000 đồng;

Thay đổi yêu cầu khởi kiện, tuyên bố ông Lâm Tấn N tự nguyện trả cho SCB số nợ thẻ tín dụng 80.000.000 đồng và SCB phải thông báo cho Trung tâm T1 (C1) tháo gỡ thông tin về số nợ của ông N thể hiện trên hệ thống CIC.

Quá trình giải quyết vụ án, SCB không yêu cầu phản tố nhưng xác nhận số nợ của ông N đã quá hạn vào ngày 11/9/2018, Nguyên đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện theo Điều 429, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015, nên chỉ trả cho SCB số nợ gốc là 80.000.000 đồng, không chịu lãi suất.

SCB có ý kiến bằng văn bản, về việc nguyên đơn thay đổi nội dung khởi kiện đồng ý hoàn trả SCB số nợ gốc 80.000.000 đồng, đồng nghĩa với việc thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại đối với toàn bộ nghĩa vụ nợ của ông N tại SCB theo quy định tại Điều 157 Bộ luật dân sự năm 2015. Nhưng trong vụ án này ông N là người khởi kiện, SCB là người bị kiện và không có yêu cầu phản tố, nên căn cứ Điều 157 Bộ luật dân sự năm 2015 bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện là không đúng.

Ý kiến của S1:

Theo Đơn khởi kiện thay đổi bổ sung ngày 16/5/2024, ông N yêu cầu “Tuyên bố ông Lâm Tấn N còn nợ SCB số tiền gốc 80.000.000 đồng”. Việc này đồng nghĩa rằng ông N đã thừa nhận một phần nghĩa vụ của mình đối với S1. Theo đó, căn cứ Điều 157 Bộ luật dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được bắt đầu lại đối với toàn bộ nghĩa vụ nợ của ông N tại S1. Đề nghị ông N thanh toán cho SCB tổng số nợ tạm tính đến ngày 15/02/2024 là 985.117.622 đồng (Gốc 83.999.996 đồng, lãi 220.024.546 đồng, phí 681.093.080 đồng). Đề nghị bác toàn bộ yêu cầu của Nguyên đơn và ông N phải thanh toán đầy đủ nghĩa vụ nợ tại S1.

Tại Bản án sơ thẩm số 164/2024/DSST ngày 10/7/2024 Của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu của Nguyên đơn.

Ghi nhận việc ông N tự nguyện giao nộp cho Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng);

Sau khi ông N giao nộp xong số tiền 80.000.000 đồng, Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) phải ban hành thông báo gửi cho Trung tâm T1 (C1), tháo gở toàn bộ thông tin về ông Lâm Tấn N không còn nợ tại S1.

  1. Đình chỉ đối với yêu cầu buộc SCB bồi thường thiệt hại 50.000.000 đồng.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông N phải nộp số tiền 300.000 đồng.

Ông N đã nộp 300.000 đồng (theo Biên lai thu số 0000597 ngày 28/11/2023), sẽ được trừ vào án phí.

Đối với số tiền tạm ứng án phí 1.250.000 đồng (theo Biên lai thu số 0000885 ngày 31/01/2024) và 2.000.000 đồng (theo Biên lai thu số 0001442 ngày 07/6/2024); tổng cộng là 3.250.000 đồng, ông N được nhận lại số tiền này.

Ngoài ra Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo qui định.

Ngày 24/7/2024 S1 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, cho rằng án tuyên không phù hợp với tình tiết của vụ án ảnh hưởng đến quyền lợi của SCB, đề nghị sửa án sơ thẩm bác yêu cầu của Nguyên đơn chấp nhận yêu cầu của Bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm Nguyên đơn xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm của Kiểm sát viên:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ theo qui định
  • - Về nội dung: Trên cơ sở xem xét tài liệu chứng cứ, Nguyên đơn rút lại yêu cầu buộc SCB bồi thường 50 triệu đồng; thay đổi yêu cầu khởi kiện, tự nguyện giao nộp cho SCB số tiền 80.000.000 đồng và đề nghị áp dụng thời hiệu theo Điều 429 Bộ luật dân sự 2015, không chấp nhận phần lãi suất là phù hợp.
  • Sau khi nguyên đơn giao nộp xong số tiền 80.000.000 đồng, thì SCB phải thông báo cho CIC tháo gở thông tin về số nợ của ông N tại S1.
  • Đề nghị chấp nhận một phần khởi kiện của nguyên đơn, ghi nhận việc ông N tự nguyện nộp cho S1 số tiền 80.000.000 đồng, đình chỉ đối với yêu cầu buộc SCB bồi thường 50 triệu đồng.

Bị đơn kháng cáo yêu cầu đòi nợ đối với Nguyên đơn nhưng tại cấp sơ thẩm Bị đơn không có yêu cầu phản tố nên kháng cáo không có cơ sở để xem xét. Vì vậy không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bị đơn. Đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp:

Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) có Chi nhánh đặt tại quận N, thành phố Cần Thơ, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều và đây là tranh chấp Hợp đồng tín dụng, giữa cá nhân với pháp nhân theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên áp dụng Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt theo qui định.

[3]. Về nội dung khởi kiện của Nguyên đơn:

Năm 2017, S1 và ông Lâm Tấn N có ký kết Hợp đồng lao động thời hạn 12 tháng. Năm 2018, S1 và ông N chấm dứt Hợp đồng lao động và hai bên bàn giao công việc, tài sản và hồ sơ liên quan trong thời gian công tác.

Ngoài ra, khi công tác tại S1, ông N được cấp Thẻ tín dụng Visa Gold Star vào ngày 20/9/2017, hạn mức 80.000.000 đồng. Tuy nhiên, từ khi hai bên chấm dứt hợp đồng lao động vào năm 2018 đến nay phía S1 không hề thông báo cho ông N về khoản nợ thẻ tín dụng và S1 cũng không khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bởi lẽ, theo ông N trình bày ông cũng đã thanh toán xong số nợ thẻ cho S1. Do trên hệ thống Trung tâm thông tin T1 (C1), vẫn còn thể hiện thông tin ông N đang nợ tại SCB.

Nên vào ngày 18/10/2023, ông N khởi kiện ra Tòa án, từ việc yêu cầu SCB ban hành thông báo với nội dung: “Ông Lâm Tấn N không còn trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan (bao gồm nghĩa vụ nợ vay) tại Ngân hàng thương mại cổ phần S kể từ ngày 17/8/2018” và chuyển qua yêu cầu tự nguyện hoàn trả cho SCB số nợ gốc 80.000.000 đồng và yêu cầu áp dụng thời hiệu theo Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015, không chịu lãi suất; và buộc SCB gửi thông báo cho Trung tâm T1 (C1), tháo gở toàn bộ thông tin về ông Lâm Tấn N không còn nợ tại S1.

Nhận thấy, vào năm 2017, ông N được SCB cấp thẻ tín dụng với hạn mức 80.000.000 đồng, tính đến nay đã hơn 06 năm. Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện là 03 năm nên không còn thời hiệu khởi kiện. Ngoài ra ngày 16/8/2018 khi hết thời hạn của Hợp đồng lao động giữa hai bên ngân hàng và ông N đã chấm dứt HĐLĐ, ngày 17/8/2018 giữa ông N và S1 đã ký Biên bản bàn giao công việc, dụng cụ lao động và khi đó ông N đã thanh toán cho S1 số tiền 84.869.743 đồng theo sao kê tín dụng thẻ ngày 15/8/2018.

Do đó, việc ông N tự nguyên giao nộp cho SCB số tiền 80.000.000 đồng là hoàn toàn phù hợp, nên ghi nhận.

Nguyên đơn rút lại yêu cầu buộc SCB bồi thường thiệt hại số tiền 50.000.000 đồng, căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ yêu cầu này.

Về phía S1, quá trình giải quyết tranh chấp, Tòa sơ thẩm đã giải thích và cho thời gian để SCB làm đơn phản tố yêu cầu ông N trả nợ nhưng không thực hiện, xem như đã từ chối quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Song, SCB lại cho rằng, việc ông N đề nghị Tòa án “Tuyên bố ông Lâm Tấn N còn nợ SCB số tiền gốc 80.000.000 đồng” là đồng nghĩa với việc ông N thừa nhận một phần nghĩa vụ của mình đối với SCB và căn cứ Điều 157 Bộ luật dân sự năm 2015, để xác định thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại đối với toàn bộ nghĩa vụ nợ của ông N tại S1. Và đề nghị ông N thanh toán toàn bộ nghĩa vụ nợ tại SCB tạm tính đến ngày 15/02/2024 là 985.117.622 đồng (gốc: 83.999.996 đồng, lãi: 220.024.546 đồng, phí: 681.093.080 đồng) là không phù hợp.

Như nguyên đơn đã trình bày, trong vụ án này ông N là người khởi kiện (nguyên đơn), S1 là người bị kiện (bị đơn) và không có yêu cầu phản tố buộc ông N trả nợ, nên áp dụng Điều 157 Bộ luật dân sự năm 2015 để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện là không đúng với tinh thần mà điều luật đã quy định; trong trường hợp này, SCB không có tư cách để yêu cầu tính lại thời hiệu khởi kiện.

[4]. Về yêu cầu kháng cáo của S1 đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn và buộc ông N trả cho SCB số tiền dư nợ tạm tính đến ngày 15/02/2024 là 985.117.622 đồng (gốc 83.999.996 đồng, lãi 220.024.546 đồng, phí 681.093.080 đồng).

Xét thấy như trên nhận định ý kiến trình bày và yêu cầu của S1 không có cơ sở chấp nhận. Mặt khác tại cấp sơ thẩm SCB không có yêu cầu phản tố về việc đòi nợ nên cấp sơ thẩm không xem xét. Vì vậy SCB kháng cáo phần này cấp phúc thẩm không thể xem xét.

Tại phiên tòa phúc thẩm SCB cung cấp tài liệu sao kê quá trình sử dụng thẻ tín dụng của ông N trong năm 2017 và 2018 (trước thời điểm chấm dứt Hợp đồng lao động), ngoài ra không cung cấp được chứng cứ mới nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo. Vì vậy không có căn cứ để xem xét yêu cầu kháng cáo của S1. Bản án sơ thẩm xử là có căn cứ được giữ nguyên.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông N phải chịu án phí 300.000 đồng. Ông N đã nộp 300.000 đồng (theo Biên lai thu số 0000597 ngày 28/11/2023), sẽ được trừ vào án phí.

Đối với số tiền tạm ứng án phí 1.250.000 đồng (theo Biên lai thu số 0000885 ngày 31/01/2024) và 2.000.000 đồng (theo Biên lai thu số 0001442 ngày 07/6/2024); tổng cộng là 3.250.000 đồng, ông N được nhận lại số tiền này.

[6]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của S1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo qui định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: - Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của S1
  • - Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của SCB

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm;

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn.

Ghi nhận việc ông N tự nguyện giao nộp cho Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng);

Sau khi ông N giao nộp xong số tiền 80.000.000đồng, Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) phải ban hành thông báo gửi cho Trung tâm T1 (C1), tháo gở toàn bộ thông tin về ông Lâm Tấn N không còn nợ tại S1.

  1. Đình chỉ đối với yêu cầu buộc SCB bồi thường thiệt hại 50.000.000 đồng.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông N phải nộp số tiền 300.000 đồng.

Ông N đã nộp 300.000 đồng (theo Biên lai thu số 0000597 ngày 28/11/2023), sẽ được trừ vào án phí.

Đối với số tiền tạm ứng án án phí 1.250.000 đồng (theo Biên lai thu số 0000885 ngày 31/01/2024) và 2.000.000 đồng (theo Biên lai thu số 0001442 ngày 07/6/2024); tổng cộng là 3.250.000 đồng, ông N được nhận lại số tiền này.

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn phải nộp 300.000đồng. Chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0001697 ngày 31/7/2024 của Chi Cục THA dân sự quận N thành án phí (nộp xong).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 06/11/2024.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - TAND Q. Ninh Kiều;
  • - Chi cục THADS Q. Ninh Kiều;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Hồng Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 462/2024/DSPT ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 462/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger