|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 462/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06/6/2025
V/v: “ Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Trần Ái Vy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Xuân Thảo
- Ông Lê Văn Ngọc
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Mỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 924/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 156/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Trần Thanh N, sinh năm 1979; Địa chỉ: 4 Đ, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
- - Bị đơn: Bà Phan Ngọc Thanh T, sinh năm 1984; Địa chỉ: B C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/5/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Thanh N trình bày:
Ông Trần Thanh N và bà Phan Ngọc Thanh T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 096/2010 ngày 08/10/2010.
Trong quá trình chung sống, ông và bà T phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng quan điểm sống và mối quan hệ giữa hai gia đình. Cả hai đã nhiều lần hàn gắn nhưng không giải quyết được mâu thuẫn. Ông và bà đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông N khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà T để sớm ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: Ông N khai không có con chung với bà T.
Về tài sản chung: Ông N khai không có tài sản chung với bà T.
Về nợ chung: Ông N khai không có nợ chung với bà T.
Bị đơn bà Phan Ngọc Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa:
- - Nguyên đơn ông Trần Thanh N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu theo đơn khởi kiện.
- - Bị đơn bà Phan Ngọc Thanh T vắng mặt không lý do.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về việc thực hiện thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quá trình diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trần Thanh N; Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông N khai không có nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 096/2010 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/10/2010 thì quan hệ hôn nhân giữa ông Trần Thanh N và bà Phan Ngọc Thanh T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được Luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Ông N nộp đơn khởi kiện xin ly hôn bà T, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bị đơn bà T cư trú tại địa chỉ: B C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về sự có mặt của các đương sự:
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ông Trần Thanh N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Phan Ngọc Thanh T vì mâu thuẫn giữa vợ chồng và hai bên gia đình kéo dài nhiều năm, đời sống hôn nhân không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, đã lâm vào tình trạng trầm trọng không thể hàn gắn. Ông N xác định không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên mong muốn được ly hôn với bà T để sớm ổn định cuộc sống riêng.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ sống chung với nhau, yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau tuy nhiên ông N và bà T đã sống ly thân nhiều năm, không có sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau. Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bà T đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng bà T không đến, điều này thể hiện bà T hoàn toàn không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng hôn nhân của ông N và bà T thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, không thể cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của ông N là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 19, Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung, về tài sản chung, và nợ chung: Ông N khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí:
Ông N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 2 Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 19, Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh N.
- - Về hôn nhân: Ông Trần Thanh N được ly hôn với bà Phan Ngọc Thanh T.
- - Về con chung: Ông Trần Thanh N khai không có.
- - Về tài sản chung: Ông Trần Thanh N khai không có.
- - Về nợ chung: Ông Trần Thanh N khai không có.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Trần Thanh N chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) do ông N đã nộp theo biên lai thu số 0002857 ngày 20/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông N đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Ông Trần Thanh N, bà Phan Ngọc Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Trần Ái Vy |
Bản án số 462/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 462/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
