Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 462/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 9 - 2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Bá Võ
Ông Mai Xuân Thường

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thanh Tâm, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 271/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024, về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 347/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1994.

    Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm M, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Hiện nay đang ở Nhật Bản. Có đơn xin xử vắng mặt.

  2. Bị đơn: Anh Phan Văn B, sinh năm 1990.

    Địa chỉ: Xóm M, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xử vắng mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn L, sinh năm 1943 và bà Võ Thị G, sinh năm 1950; Địa chỉ: Đ, thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có đơn xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, trình bày tại bản tự khai nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày:

Chị và anh Phan Văn B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 18 tháng 12 năm 2013, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống hạnh phúc và có 01 người con. Vì điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên vợ chồng bàn bạc, năm 2017 anh B đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản làm ăn, kiếm tiền. Năm 2022, thì chị T cũng đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, con cái gửi nhờ ông bà ngoại chăm sóc, sau khi chị T sang được một thời gian thì vợ chồng vẫn rất tình cảm. Đến giữa năm 2023, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do trái ngược nhau về quan điểm sống, nuôi dạy con cái và cắt đứt liên lạc với nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phan Văn B.

Về con chung: Chị và anh Phan Văn B có 01 con chung là cháu Phan Quỳnh A, sinh ngày 07/7/2014. Hiện nay cháu đang sống cùng với ông bà ngoại là ông Hoàng Văn L, bà Võ Thị G. Ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và ủy quyền cho chị Lê Thị Kim S, sinh năm 1977; địa chỉ: Lô A, KQH Đ, N đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An thay mặt chị nộp và nhận các văn bản của Tòa án.

Theo bản tự khai của bị đơn là anh Phan Văn B trình bày: Anh Phan Văn B và chị Hoàng Thị T kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 18 tháng 12 năm 2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc với nhau. Vì điều kiện kinh tế khó khăn năm 2017 anh đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản làm ăn. Đến tháng 11/2022 chị T quay trở lại Nhật Bản để làm việc, từ thời điểm vợ quay lại Nhật Bản anh B và chị T thỉnh thoảng mới liên lạc với nhau, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần, không ai ai xen vào cuộc sống của ai, việc của ai người đó làm. Ngày 06/7/2024, anh B trở về Việt Nam và được biết chị T làm đơn khởi kiện ly hôn tại Tòa án. Nhận thấy tình cảm giữa anh và chị T không còn, nay chị T làm đơn khởi kiện ly hôn thì anh đồng ý ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh và chị Hoàng Thị T có 01 con chung là cháu Phan Quỳnh A, sinh năm 07/7/2014. Hiện nay, cháu đang sống cùng với ông bà ngoại là ông Hoàng Văn L, bà Võ Thị G. Ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con và không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con thì anh đồng ý.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo đơn trình bày của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn L, bà Võ Thị G:

Con gái ông bà là Hoàng Thị T kết hôn với Phan Văn B, có đăng ký kết hôn đàng hoàng. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian và sinh được một cháu tên là Phan Quỳnh A, cháu sinh ngày 07/07/2014.

Năm 2017, vì điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên vợ chồng bàn bạc để con rể đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản làm ăn, kiếm tiền. Năm 2022 thì con gái cũng đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, con cái gửi nhờ vợ chồng ông bà chăm sóc, nuôi dưỡng. Bây giờ, vợ chồng mâu thuẫn thể nào ông bà cũng không được biết mà thấy con gái về báo sẽ ly hôn chồng, ông bà cũng đã khuyên can nhưng con gái vẫn quyết tâm ly hôn nên ông bà cũng để con quyết định, không can thiệp được vì đó là hạnh phúc của các con. Hiện nay, cả hai vợ chồng đang sống ở N, ông bà nuôi con cho vợ chồng con từ năm 2022 đến nay và từ khi con gái ông bà sang N thì có gửi tiền cấp dưỡng nuôi con, nhờ ông bà chăm sóc. Bây giờ, cháu Phan Quỳnh A vẫn đang sống cùng ông bà, nếu Tòa án cho vợ chồng con gái chúng tôi ly hôn và khi cả hai vợ chồng nó không có mặt ở Việt Nam thì ông bà tự nguyện tiêp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu cho đến khi bố mẹ cháu về nước thì lúc đó cháu ở với ai do cháu lựa chọn và cũng không yêu cầu bố mẹ cháu cấp dưỡng.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Hoàng Thị T ly hôn với anh Phan Văn B.

Về con chung: Chị Hoàng Thị T và anh Phan Văn B có 01 con chung là cháu Phan Quỳnh A, sinh năm 07/7/2014. Hiện nay cháu đang sống cùng với ông bà ngoại là ông Hoàng Văn L, bà Võ Thị G. Ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con thì anh B đồng ý. Xét hoàn cảnh thực tế của của các bên thấy rằng hiện nay, chị T đang sống và làm việc ở nước ngoài. Anh Phan Văn B đang sống và làm việc tại Việt Nam, có địa chỉ cụ thể. Cháu Phan Quỳnh A đang học tập và sinh sống tại Việt Nam. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Phan Quỳnh A cho anh Phan Văn B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu nên không xem xét; dành quyền khởi kiện về chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hoàng Thị T hiện cư trú tại Nhật Bản làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Văn B có địa chỉ tại Xóm M, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 130 Luật hôn nhân và gia đình.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Hoàng Thị T đã nộp đơn khởi kiện, viết bản tự khai và cung cấp đầy đủ chứng cứ, tài liệu cho Tòa án nhưng do đang ở Nhật Bản nên không tham gia phiên tòa được và đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Phan Văn B có đơn đề nghị vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn L, bà Võ Thị G do hiện nay đang sinh sống ở Huế và tuổi đã cao, đi lại khó khăn nên làm đơn xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Phan Văn B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống hạnh phúc và có 01 người con. Vì điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên vợ chồng bàn bạc, năm 2017 anh B đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản làm ăn, kiếm tiền. Năm 2022 thì chị T cũng đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, con cái gửi nhờ ông bà ngoại chăm sóc, sau khi chị T sang được một thời gian thì vợ chồng vẫn rất tình cảm. Đến giữa năm 2023 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do trái ngược nhau về quan điểm sống, nuôi dạy con cái và cắt đứt liên lạc với nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phan Văn B.

Xét thấy, chị T và anh B không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Phan Văn B.

[2.2] Về con chung: Chị Hoàng Thị T và anh Phan Văn B có 01 con chung là cháu Phan Quỳnh A, sinh năm 07/7/2014. Hiện nay, cháu đang sống cùng với ông bà ngoại là ông Hoàng Văn L, bà Võ Thị G. Ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con vì cháu đã ổn định nơi sống, học tập và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung, anh B cũng đồng ý.

Xét hoàn cảnh thực tế của của các bên thấy rằng chị T đang ở nước ngoài, anh B đang ở Việt Nam và đều có địa chỉ cụ thể, cháu Phan Quỳnh A được ông bà ngoại chăm sóc, nuôi dưỡng từ khi chị T đi nước ngoài (Năm 2022) và đã học tập, sinh sống ổn định. Ly hôn chị T và anh B đều có nguyện vọng giao con chung cho chị T chăm sóc nuôi dưỡng. Cháu Quỳnh A cũng có nguyện vọng được ở với mẹ và ông bà ngoại. Xét nguyện vọng của hai bên là chính đáng và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Quỳnh A. Do đó, căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị T. Giao cho chị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tuy nhiên, do hiện nay chị T đang ở nước ngoài không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nên chị T tiếp tục nhờ ông Hoàng Văn L, bà Võ Thị G chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Quỳnh A. Ông L, bà G cũng đồng ý tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Quỳnh A trong thời gian chị T ở nước ngoài. Xét thấy sự thoả thuận này là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung nên cần ghi nhận sự nội dung thoả thuận này.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

[3] Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 4 Điều 207, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Phan Văn B.
  • - Về con chung: Giao con chung Phan Quỳnh A, sinh năm 07/7/2014, cho chị Hoàng Thị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
  • Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T chưa yêu cầu nên không giải quyết.

Sau khi ly hôn, anh Phan Văn B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Ghi nhận sự thoả thuận giữa chị Hoàng Thị T với ông Hoàng Văn L, bà Võ Thị G về việc ông L, bà G sẽ thay chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phan Quỳnh A, sinh năm 07/7/2014 cho đến khi chị T về nước.

  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.

Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.

2. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012889 ngày 04/6/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

3. Chị Hoàng Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án. Anh Phan Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã T, H. T;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Thái Thị Hồng Vân

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 462/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 462/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Phan Văn B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger