trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 461/2024/DSPT

Ngày: 22/5/2024

Về việc: Tranh chấp hợp đồng ủy

quyền và tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo

Các Thẩm phán: 1. Bà Đỗ Thị Hòa

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Thương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 295/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền và tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;

Do bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo và kháng nghị.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1739/2024/QĐPT-DS ngày 03 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5490/2024/QĐ-HPT ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1976 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Số E ấp E, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1997 (Có mặt);

Địa chỉ: Số I N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trung H (Xin Vắng mặt); – và ông Huỳnh Kim N1 (Có mặt) - Luật sư Công ty L, Đoàn luật sư Thành phố H.

2. Bị đơn: Bà Lữ Thị Ngọc M, sinh năm 1980 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Số H, đường P, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Phạm Bùi Diễm S, sinh năm 1995 (Có mặt);

Địa chỉ: Số A T, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lại Thị Ngọc N2, sinh năm 1978 (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: Số E ấp E, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền của bà N2: Bà Nguyễn Thị Cẩm T1, sinh năm 1996 (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: Số I N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Ông Hoàng Ngọc Tuấn A, sinh năm 1972 (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: Số H, đường P, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Văn phòng C Nguyễn Công T2 (Tên gọi cũ: Văn phòng C, Văn phòng C) (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: Số A đường I, KDC T, ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Công T2

Địa chỉ: Số A đường I, KDC T, ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 30/10/2021, đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 03/12/2021, bà Phạm Thị N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T trình bày:

Bà Lại Thị Ngọc N2 là vợ cũ của ông Nguyễn Ngọc T (đã ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 1142/2020/QÐST-HNGĐ ngày 01/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh). Trong thời kì hôn nhân, lợi dụng sự tin tưởng của ông T, bà N2 đã lén lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ) vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4921QSDĐ/Q5 do Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/09/2004 mang tên Nguyễn Ngọc T (đây là tài sản riêng của ông T được ba mẹ cho tặng) để đưa cho bà Lữ Thị Ngọc M nhằm thế chấp vay tiền. Sau đó, bà M uy hiếp nói là bà đang giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu ông T cùng với bà N2 phải ký Hợp đồng vay tiền đề tháng 03/2018 (không đề ngày cụ thể) nếu ông T không chịu ký thì bà M sẽ bán đất cho người khác. Do trình độ học vấn thấp, thiếu am hiểu pháp luật nên ông T đồng ý ký tên vào Hợp đồng vay tiền nêu trên. Ngày 13/4/2018, bà M và bà N2 tiếp tục lừa ông T ký vào Hợp đồng ủy quyền số 002892, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C - địa chỉ: B đường V, Ấp D, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận đối với Thửa đất 549, 550 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 149459, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4921 QSDĐ/Q5 do

Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 14/9/2004 cho ông Nguyễn Ngọc T. Nội dung cụ thể của hợp đồng ủy quyền thì ông T không rõ do ông không được đọc lại. Sau khi ông T ký hợp đồng vay tiền đề tháng 03/2018 và hợp đồng ủy quyền ngày 13/4/2018 thì ông T đi về, ông không nhận bất cứ số tiền vay nợ nào của bà M. Nhận thấy, việc ký hợp đồng ủy quyền số 002892 là giả tạo không đúng mục đích như nội dung ủy quyền nhằm che dấu bản chất thật là hợp đồng vay tiền. Nay ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án:

  1. Tuyên Hợp đồng ủy quyền số 002892, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C - địa chỉ: B đường V, Ấp D, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 13/4/2018 vô hiệu do giả tạo.
  2. Hậu quả pháp lý đối với yêu cầu tuyên Hợp đồng ủy quyền vô hiệu do giả tạo: Buộc bà Lữ Thị Ngọc M trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 149459, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 4921QSDĐ/Q5 do Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/09/2004 cho ông Nguyễn Ngọc T vì đây là tài sản riêng của ông Nguyễn Ngọc T.

Đối với đơn yêu cầu phản tố của bị đơn yêu cầu ông T và bà N2 cùng liên đới chịu trách nhiệm trả cho bà M tổng số tiền: 3.000.000.000 đồng. Trong đó bao gồm: Khoản vay 1.500.000.000 đồng theo Hợp đồng vay tiền đề tháng 03/2018 và khoản vay 1.500.000.000 đồng theo các Giấy vay nợ ngày 21/8/2018, ngày 23/11/2018, ngày 09/12/2018 thì nguyên đơn ông T không đồng ý yêu cầu phản tố này.

Bị đơn bà Lữ Thị Ngọc M có bà Phạm Bùi Diễm S đại diện theo ủy quyền trình bày:

Vào ngày 13/4/2018, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Lại Thị Ngọc N2 có vay của bà Lữ Thị Ngọc M số tiền 1.500.000.000 đồng. Do muốn vay số tiền lớn nên ông T, bà N2 đã thế chấp cho bà M quyền sử dụng phần đất diện tích 1.900m², thuộc trọn thửa 549, 550, tờ bản đồ số 09, tọa lạc tại xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 149459, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4921 QSDĐ/Q5 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 14/9/2004. Cùng ngày 13/4/2018, các bên đã ký kết Hợp đồng ủy quyền số công chứng 002892, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C, xã V, huyện B và bà M đã giao đủ số tiền 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng) cho vợ chồng ông T, bà N2. Sau đó, vợ chồng ông T, bà N2 tiếp tục vay của bà M nhiều lần với số tiền là 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng). Cụ thể:

  • - Vào ngày 21/8/2018, bà N2 đến gặp bà M để vay số tiền 600.000.000 đồng;
  • - Vào ngày 23/11/2018, bà N2 tiếp tục vay bà M số tiền 300.000.000 đồng;
  • - Vào ngày 09/12/2018, bà N2 tiếp tục vay bà M số tiền 600.000.000 đồng, tuy nhiên giấy tờ vay của lần vay tiền này đã bị thất lạc. Do đó, bà M không còn giấy vay tiền để cung cấp cho Tòa án.

Việc ký kết Hợp đồng ủy quyền số công chứng 002892, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/4/2018 tại Văn phòng C là để bảo đảm cho khoản tiền mà ông T, bà N2 vay của bà M.

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 thì: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che dấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che dấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan”.

Do đó, nếu ông T yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng ủy quyền ngày 13/4/2018 là vô hiệu do giả tạo thì các hợp đồng vay được Hợp đồng ủy quyền che dấu vẫn có hiệu lực pháp luật. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà M có ý kiến như sau: Đồng ý với yêu cầu tuyên Hợp đồng ủy quyền số 002892, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng nhận ngày 13/4/2018 vô hiệu do giả tạo. Bà M chỉ đồng ý trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 149459, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4921 QSDĐ/Q5 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 14/9/2004 khi nào ông T và bà N2 thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ cho bà M.

Tại thời điểm ký hợp đồng vay tiền tháng 3/2018 thì bà M không biết do có nội dung thế chấp quyền sử dụng đất thì hợp đồng phải đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền nên bà M chưa thực hiện.

Căn cứ nội dung trình bày ở trên, bà M đề nghị quý Tòa án chấp nhận những yêu cầu phản tố như sau: Yêu cầu ông T, bà N2 phải có nghĩa vụ liên đới trả lại số tiền tổng cộng là 3.000.000.000 (ba tỷ) đồng đã vay cho bà M theo hợp đồng vay tiền đề tháng 03/2018, giấy mượn tiền đề ngày 21/8/2018, ngày 23/11/2018, ngày 09/12/2018.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lại Thị Ngọc N2 có bà Nguyễn Thị Cẩm T1 đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt nhưng tại các bản tự khai nộp cho Tòa trình bày:

Bà Lại Thị Ngọc N2 là vợ cũ của ông Nguyễn Ngọc T (hiện bà N2 và ông T đã ly hôn). Trước đây, do thiếu tiền nên bà N2 có vay của bà Lữ Thị Ngọc M một khoản tiền. Số tiền vay này bà N2 tự đi vay và sử dụng cho mục đích cá nhân của bà N2 chứ không phải phục vụ cho mục đích chung của bà N2 và ông T trong thời kỳ hôn nhân. Ông T không biết và cũng không nhận số tiền này của bà M. Vào thời điểm đó, do bà N2 không đủ tiền để trả nợ nên đã lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 149459, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4921 QSDĐ/Q5 do UBND huyện B cấp ngày 14/9/2004 đứng tên ông Nguyễn Ngọc T để đưa cho bà M giữ. Sau khi bà M có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T, bà M và bà N2 có nói ông T

ký tên vào Hợp đồng ủy quyền số 002892, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng nhận ngày 13/4/2018 nhằm mục đích bảo đảm cho khoản vay nợ giữa bà N2 và bà M. Đồng thời, sau khi ký hợp đồng ủy quyền cho bà M thì bà M tiếp tục nói ông T ký tên vào hợp đồng vay tiền đề tháng 3/2018. Bà M đưa ra lý do là bà ấy đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nếu ông T không ký vào giấy vay tiền và hợp đồng ủy quyền thì bà M sẽ bán đất. Do lo sợ bà M bán đất của mình nên đã ký tên vào hợp đồng vay tiền này. Việc ông T ký tên vào hợp đồng vay tiền và hợp đồng ủy quyền nhưng thực tế ông T không nhận bất kỳ khoản tiền vay nợ nào từ bà M. Bên cạnh đó, ông T cũng không được đọc nội dung của hợp đồng vay tiền bởi vì bà M kêu ông cứ ký đi, sau này ông T sẽ không có liên quan tới vấn đề trả nợ giữa bà N2 với bà M.

Về khoản nợ theo hợp đồng vay tiền đề tháng 3/2018 bà N2 và bà M đã thỏa thuận, giải quyết xong. Hiện tại, bà N2 không còn nợ bà M về khoản vay này. Bản chính hợp đồng vay tiền đề tháng 3/2018 bà M đã hủy bỏ, hiện bà N2 không còn bản chính.

Về yêu cầu khởi kiện của ông T với bà M, bà N2 đồng ý tuyên Hợp đồng ủy quyền số 002892, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng nhận ngày 13/4/2018 vô hiệu do giả tạo và yêu cầu bà Lữ Thị Ngọc M trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 149459, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 4921QSDĐ/Q5 do Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/09/2004 cho ông Nguyễn Ngọc T.

Đối với yêu cầu phản tố của bà Lữ Thị Ngọc M yêu cầu ông T, bà N2 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà M số tiền đã vay tổng cộng là 3.000.000.000 đồng, thì bà N2 không đồng ý với yêu cầu phản tố của bà M yêu cầu bà N2 và ông T liên đới trả số tiền nợ 1.500.000.000 đồng theo hợp đồng vay tiền đề tháng 3/2018. Đối với khoản vay 1.500.000.000 đồng theo các Giấy vay nợ ngày 21/8/2018, ngày 23/11/2018, ngày 09/12/2018 thì bà đồng ý trả cho bà M nhưng bà N2 đề nghị Tòa án không giải quyết trong cùng vụ án này vì đây là nợ riêng của bà N2 với bà M.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng Công chứng Nguyễn Công T2 xin vắng mặt, tại Công văn ngày 27/7/2022 của Văn phòng C Nguyễn Công T2 trình bày:

Về quy trình tiếp nhận yêu cầu công chứng: Người yêu cầu phải ký vào phiếu yêu cầu (Chính ông Nguyễn Ngọc T đã ký vào phiếu yêu cầu), phải cung cấp, xuất trình các giấy tờ về quan hệ hôn nhân-gia đình, giấy tờ tùy thân, giấy tờ liên quan đến tài sản cần giao dịch. Bên yêu cầu công chứng đã chứng minh quyền sử dụng đất thuộc tài sản chung của vợ chồng: Ông Nguyễn Ngọc T kết hôn với bà Lại Thị Ngọc N2 vào tháng 11/2011, tài sản chung tạo lập tháng 9/2004 (không có văn bản thỏa thuận tài sản riêng). Trên cơ sở các giấy tờ có liên quan cung cấp, công chứng viên cho tiến hành dự thảo văn bản công chứng theo yêu cầu. Hai bên đã đọc nội dung dự thảo văn bản công chứng và đã tự tay ký vào từng trang và đã viết “Đã đọc và đồng ý”. Đã chứng minh hai

bên yêu cầu công chứng có đủ năng lực hành vi dân sự trong giao dịch dân sự. Đồng thời, công chứng viên cho điểm chỉ vào văn bản công chứng. Công chứng viên đã ký tên và cho số công chứng đúng quy trình. Do đó, Văn phòng Công chứng Nguyễn Công T2 đã tiến hành công chứng Hợp đồng ủy quyền số 002892, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/4/2018 giữa bên ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc T, bà Lại Thị Ngọc N2, bên nhận ủy quyền: Bà Lữ Thị Ngọc M đúng theo quy trình, có giá trị pháp lý để hai bên thực hiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Ngọc Tuấn A có đơn xin vắng mặt nhưng bản tự khai đề ngày 30/12/2022 nộp cho T3 trình bày:

Ông và bà Lữ Thị Ngọc M là vợ chồng hợp pháp (Giấy chứng nhận kết hôn số 12/2002, quyển số 01/P.13 do Ủy ban nhân dân phường A1, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/01/2002). Số tiền 3.000.000.000 đồng mà bà M cho vợ chồng ông T và bà N2 vay theo hợp đồng vay đề tháng 3/2018 và các Giấy mượn tiền đề ngày 21/8/2018, ngày 23/11/2018, ngày 09/12/2018 là tài sản chung của ông và bà M. Nay ông đồng ý với toàn bộ yêu cầu phản tố của bà M.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc T:
  2. Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền số công chứng 002892 lập ngày 13/04/2018 tại Văn phòng C vô hiệu do giả tạo.

    Buộc bà Lữ Thị Ngọc M phải trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4921 QSDĐ/Q5 do UBND huyện B cấp ngày 14/9/2004 đối với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 918, tờ bản đồ số 10 và thửa đất số 549,550 tờ bản đồ số 9 tại xã V cho ông Nguyễn Ngọc T. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền không cưỡng chế thu hồi được giấy chứng nhận nêu trên thì ông Nguyễn Ngọc T được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để cấp mới lại theo quy định, đồng thời bản chính giấy chứng nhận trên không còn giá trị sử dụng;

  3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Lữ Thị Ngọc M:
  4. Buộc ông Nguyễn Ngọc T và bà Lại Thị Ngọc N2 phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho ông Hoàng Ngọc Tuấn A và bà Lữ Thị Ngọc M số tiền 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng theo hợp đồng vay tiền đề tháng 03/2018. Cụ thể mỗi người phải chịu trách nhiệm trả cho ông Tuấn A và bà M số tiền 750.000.000 (Bảy trăm năm mươi triệu) đồng, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Buộc bà Lại Thị Ngọc N2 phải có nghĩa vụ trả nợ cho ông Hoàng Ngọc Tuấn A và bà Lữ Thị Ngọc M tổng số tiền 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng theo các giấy mượn tiền ngày 21/8/2018, ngày 23/11/2018 và ngày 09/12/2018, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  1. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lữ Thị Ngọc M về việc buộc ông Nguyễn Ngọc T có trách nhiệm liên đới trả số tiền 750.000.000 (Bảy trăm năm mươi triệu) đồng cho ông Hoàng Ngọc Tuấn A và bà Lữ Thị Ngọc M theo các giấy mượn tiền ngày 21/8/2018, ngày 23/11/2018 và ngày 09/12/2018.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu bên bị thi hành án chưa thi hành, thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 23 tháng 01 năm 2024, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.

Ngày 24 tháng 01 năm 2024, bị đơn bà Lữ Thị Ngọc M có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về phần án phí.

Ngày 01 tháng 02 năm 2024, Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình có quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKS-DS. Đề nghị phúc xử theo hướng sửa một phần bản án sơ thẩm, không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T có người đại diện theo ủy quyền là bà Phạm Thị N và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, bị đơn bà Lữ Thị Ngọc M có người đại diện theo ủy quyền là bà Phạm Bùi Diễm S vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quyết định kháng nghị, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T có người đại diện theo ủy quyền là bà Phạm Thị N và người bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm với lý do sau:

  • - Số tiền 1.500.000.000 đồng mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc ông T và bà N2 cùng liên đới trả cho bà M là không đúng, vì khoản vay tại giấy vay tiền tháng 3/2018 đã được tất toán xong, nên các bên đã xé bỏ bản chính, nhưng do bà M không trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, nên ông T mới khởi kiện bà M.

Bị đơn bà Lữ Thị Ngọc M có người đại diện theo ủy quyền là bà Phạm Bùi Diễm S yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm về phần án phí đối với phần phản tổ được chấp nhận.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh:

- Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm.

- Về nội dung: Với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định

Từ những phân tích trên nhận thấy có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình. Đề nghị Hội đồng xét xử, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm như nhận định trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo, kháng nghị: Ngày 17 tháng 01 năm 2024 Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử và ban hành bản án số 24/2024/DS-ST. Ngày 23 tháng 01 năm 2024, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm. Ngày 24 tháng 01 năm 2024 bị đơn bà Lữ Thị Ngọc M có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về phần án phí và ngày 01 tháng 02 năm 2024, Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKS-DS. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 thì kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh còn trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận.

[2] Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lại Thị Ngọc N2 có người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Cẩm T1, ông Hoàng Ngọc Tuấn A, ông Nguyễn Công T2 và ông Nguyễn Trung H là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.

[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T, bị đơn bà Lữ Thị Ngọc M và kháng nghị của Viện Trưởng viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Căn cứ vào lời trình bày và sự thừa nhận của các đương sự thể hiện ngày 13 tháng 4 năm 2018, ông Nguyễn Ngọc T có ký tên vào hợp đồng ủy quyền số 002892, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng nhận và một bản hợp đồng vay tiền.

Đối với hợp đồng ủy quyền các đương sự đều đã thừa nhận đây là hợp đồng giả tạo nhằm che dấu cho hợp đồng vay tiền tháng 3/2018, nên đã được

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận và tuyên bố hợp đồng ủy quyền số 002892, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng nhận vô hiệu do giả tạo và đã giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu nêu trên là buộc bà Lữ Thị Ngọc M phải trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4921 QSDĐ/Q5 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 14/9/2004 đối với quyền sử dụng đất tại thửa số 918, tờ bản đồ số 10 và thửa đất số 549, 550 tờ bản đồ số 9 tại xã V cho ông Nguyễn Ngọc T.

[3.1] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T cho rằng hợp đồng vay tiền tháng 3/2018 (bản phô tô) là giả mạo, chữ ký trên hợp đồng vay tiền này không phải của ông và bà N2. Tại Phòng công chứng bà M và bà N2 yêu cầu ông ký vào hợp đồng vay nhưng không cho ông đọc, nên ông không biết được nội dung của hợp đồng và số tiền cụ thể, ông cũng không nhận bất kỳ khoản tiền nào từ bà Lữ Thị Ngọc M. Việc vay mượn, giao dịch tiền bạc đều do bà N2 và bà M thỏa thuận với nhau. Sau khi nhận tiền vay của bà M, bà N2 sử dụng vào mục đích cá nhân chứ không dùng số tiền vay sử dụng cho mục đích chung của vợ chồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng vay tiền tháng 3/2018 được ký tại Phòng công chứng Nguyễn Văn N3 giữa ông T, bà N2 và bà M là có thật. Tuy nhiên, căn cứ vào bản tự khai ngày 27/4/2022 (BL 275, 276) bà N2 có người đại diện theo ủy quyền xác định hợp đồng vay tiền đề tháng 3/2018 với khoản vay 1.500.000.000 đồng mà bà M cung cấp cho Tòa án là giả mạo, ông T không biết cũng không nhận khoản tiền này. Bà N2 và bà M đã lừa để ông T ký vào hợp đồng vay tiền này. Sau khi biết được việc này, ông T đã yêu cầu bà N2 trả tiền cho bà M. Hai bên bà N2 và bà M đã giải quyết xong khoản vay này, đồng thời cũng hủy bỏ bản chính hợp đồng vay tiền đề tháng 3/2018, nên bà N2 và ông T không còn nợ bà M về khoản vay này. Mặt khác, bà M có đơn phản tố cho rằng ông T và bà N2 nợ bà 1.500.000.000 đồng theo hợp đồng vay đề tháng 3/2018, nhưng bà M không cung cấp được bản chính giấy vay tiền để chứng minh cho yêu cầu của mình, nhưng lại được cấp sơ thẩm chấp nhận là chưa phù hợp. Do đó, kháng cáo của nguyên đơn ông T là có cơ sở, nên được chấp nhận.

[3.2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Lữ Thị Ngọc M cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bà phải chịu án phí có giá ngạch trên số tiền 750.000.000 đồng mà ông Nguyễn Ngọc T không có trách nhiệm liên đới trả.

Xét, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: Căn cứ vào các giấy mượn tiền ngày 21/8/2018, ngày 23/11/2018 được ký giữa bà N2 và bà M, và lời khai của bà T1 là đại diện theo ủy quyền của bà N2 tại bản tự khai ngày 05/8/2022 (BL 277, 278) thể hiện bà N2 có vay của bà M tổng số tiền 1.500.000.000 đồng. Đây là số tiền bà N2 vay với tư cách cá nhân, không liên quan đến ông T nên đã không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn buộc ông T liên đới cùng bà N2 phải trả toàn bộ số tiền 1.500.000.000 đồng cho bị đơn, mà buộc bà N2 phải trả toàn bộ số tiền này cho bị đơn và phải chịu án phí có giá ngạch đối với phần nghĩa vụ phải thanh toán cho bị đơn. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm cũng

buộc bị đơn phải chịu án phí trên số tiền nguyên đơn không phải liên đới chịu, là đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn. Do đó, bị đơn kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm về phần án phí là có căn cứ, nên được chấp nhận.

[3.3] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại bản tường trình ngày 19/5/2022, bà Phạm Bùi Diễm S là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn xác định: “Bản chính giấy tay hợp đồng vay tiền đề tháng 3/2018 và bản chính giấy tay mượn tiền ngày 09/12/2018 trong quá trình làm hồ sơ bà M đã làm thất lạc, nên hiện tại bà M không có bản chính để cung cấp cho Tòa án, khi nào bà M tìm được sẽ cung cấp cho Tòa án theo quy định”.

Ngày 07/3/2022 bà Lữ Thị Ngọc M cũng đã xác định trong bản tường trình: “Bản chính giấy tay hợp đồng vay tiền đề tháng 3/2018 và bản chính giấy tay mượn tiền ngày 09/12/2018 trong quá trình làm hồ sơ tôi đã làm thất lạc, khi nào tôi tìm được bản chính sẽ cung cấp cho Tòa án theo quy định”.

Xét, như nhận định ở trên, ông T thừa nhận năm 2018 ông có ký tên vào hợp đồng vay tiền nhưng không được biết nội dung, ông cũng không nhận bất kỳ khoản tiền nào từ bà Lữ Thị Ngọc M. Toàn bộ số tiền trong hợp đồng vay đều do bà N2 nhận và sử dụng cho mục đích cá nhân của bà N2. Vấn đề này đã được bà N2 thừa nhận. Sau khi phát hiện bà M có ý định sử dụng hợp đồng ủy quyền để bán đất, lúc này ông T mới biết mình bị lừa, nên ông đã yêu cầu bà N2 trả cho bà M toàn bộ số tiền theo hợp đồng vay tiền có chữ ký của ông T năm 2018. Số nợ này bà M và bà N2 đã tất toán xong với nhau và các bên cũng đã xé bỏ bản chính của hợp đồng vay tiền này. Người đại diện của bà N2 cũng thừa nhận hợp đồng vay tiền đề tháng 3/2018 là giả mạo, và số tiền trong hợp đồng này bà N2 và bà M đã giải quyết xong. Vì vậy, giấy vay tiền đề tháng 3/2018 bản chính đã được các bên hủy bỏ. Hiện tại, bà N2 không còn nợ bà M khoản tiền này nữa.

Mặt khác, bị đơn phản tố yêu cầu ông T, bà N2 cùng liên đới trả cho bị đơn số tiền 1.500.000.000 đồng, nhưng không cung cấp được bản chính của hợp đồng vay tiền đề tháng 3/2018 để chứng minh cho yêu cầu của mình, mà nại ra lý do bản chính hợp đồng vay tiền này đã bị thất lạc, nhưng lại được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi lẽ:

  • - Bị đơn chưa chứng minh được nghĩa vụ phát sinh của ông T và bà N2 đối với khoản nợ 1.500.000.000 đồng theo hợp đồng vay tiền đề tháng 3/2018.
  • - Ông T và bà N2 đều thống nhất cho rằng thực tế có phát sinh việc vay số tiền 1.500.000.000 đồng theo hợp đồng đề tháng 3/2018 từ việc ký kết hợp đồng, nhưng đã hoàn tất việc vay mượn và hoàn trả, nên các bên đã hủy bản chính của hợp đồng đề tháng 3/2018, không đồng ý yêu cầu phản tố của bà M. Nghĩa là, ông T và bà N2 không thừa nhận việc chưa hoàn trả số tiền vay theo

hợp đồng vay tiền đề tháng 3/2018, không thừa nhận có nghĩa vụ đối với bà M từ hợp đồng photo không có bản chính.

Ngoài ra, bị đơn cung cấp cho Tòa án 2 USB ghi âm vào các ngày 15/6/2020, ngày 16/6/2020, ngày 28/9/2022 kèm theo 03 bản giải trình về nội dung ghi âm giữa bà M và bà N2. Theo đó, cuộc hội thoại giữa bà M và bà N2 ghi nhận thông tin chung chung giữa hai bên có phát sinh quan hệ vay mượn, nhưng không xác định rõ ông T và bà N2 có vay tiền của bà M theo khoản vay nào, thời điểm vay, số tiền vay cụ thể, không thể xác nhận các bên thực hiện việc giao nhận, hoàn trả các đợt vay như thê nào, đã vay bao nhiêu, hoàn trả bao nhiêu, còn bao nhiêu, khi nào hoàn trả...

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận khi vay tiền có lập 02 bản chính và các bên không bên nào còn giữ bản chính giấy mượn tiền tháng 3/2018.

Lý do ông T gửi giấy vay tiền tháng 3 năm 2018 bản photo kèm theo đơn khởi kiện là để chứng minh khoản tiền vay này đã được tất toán và các bên đã xé bỏ bản chính.

Do đó, không có cơ sở xác định ông T và bà N2 có nghĩa vụ đối với bà M cho khoản nợ 1.500.000.000 đồng theo hợp đồng vay tiền đề tháng 3/2018, nên yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc ông T liên đới cùng bà N2 trả khoản tiền vay này là không có căn cứ chấp nhận.

Như vậy, xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T, bị đơn bà Lữ Thị Ngọc M và kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình là có cơ sở, được chấp nhận.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, sửa một phần bản án sơ thẩm là có căn cứ.

Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và kháng nghị của viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, sửa một phần bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án nên các đương sự không phải chịu.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T;

Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lữ Thị Ngọc M;

Chấp nhận kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sửa một phần bản án sơ thẩm.

Áp dụng Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 124, Điều 131, Điều 288, Điều 401, Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 27, Điều 30, Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T:
  2. Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền số công chứng 002892 lập ngày 13/04/2018 tại Văn phòng C vô hiệu do giả tạo.

    Buộc bà Lữ Thị Ngọc M phải trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4921 QSDĐ/Q5 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 14/9/2004 đối với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 918, tờ bản đồ số 10 và thửa đất số 549, 550 tờ bản đồ số 9 tại xã V cho ông Nguyễn Ngọc T. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền không cưỡng chế thu hồi được giấy chứng nhận nêu trên, thì ông Nguyễn Ngọc T được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để xin cấp mới lại theo quy định, đồng thời bản chính giấy chứng nhận trên không còn giá trị sử dụng;

  3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lữ Thị Ngọc M về việc buộc ông Nguyễn Ngọc T và bà Lại Thị Ngọc N2 có trách nhiệm liên đới trả số tiền 1.500.000.000 (Một tỷ năm trăm triệu) đồng cho ông Hoàng Ngọc Tuấn A và bà Lữ Thị Ngọc M theo giấy mượn tiền đề tháng 3/2018.
  4. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Lữ Thị Ngọc M:
  5. Buộc bà Lại Thị Ngọc N2 phải có nghĩa vụ trả nợ cho ông Hoàng Ngọc Tuấn A và bà Lữ Thị Ngọc M tổng số tiền 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng theo các giấy mượn tiền ngày 21/8/2018, ngày 23/11/2018 và ngày 09/12/2018, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu bên bị thi hành án chưa thi hành, thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

    3/ Án phí dân sự sơ thẩm:

    • - Ông Nguyễn Ngọc T không phải chịu. Hoàn trả cho ông T số tiền tạm ứng án phí T đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2021/0030763 ngày 27/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
    • - Bà Lữ Thị Ngọc M phải chịu 34.000.000 (Ba mươi bốn triệu) đồng.

Hoàn trả cho bà Lữ Thị Ngọc M số tiền tạm ứng án phí đã nộp 46.000.000 (Bốn mươi sáu triệu) đồng theo biên lai thu số AA/2021/0031101 ngày 14/03/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình.

  • - Bà Lại Thị Ngọc N2 phải chịu 34.300.000 (Ba mươi bốn triệu ba trăm nghìn) đồng

4. Án phí dân sự phúc thẩm các đương sự không phải chịu.

Hoàn trả cho ông Nguyễn Ngọc T 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001169 ngày 23/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hoàn trả cho bà Lữ Thị Ngọc M 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001174 ngày 24/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - TAND quận Tân Bình;
  • - VKSND cấp cao tại Tp. HCM;
  • - VKSND Tp.HCM;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Thảo

CÁC THẨM PHÁN

TÒA

Đỗ Thị Hòa Nguyễn Thị Thanh H1

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN

Phạm Thị T4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 461/2024/DSPT ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng ủy quyền và tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 461/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng ủy quyền và tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, Chấp nhận kháng cáo của bị đơn, Chấp nhận kháng nghị của Viện Trưởng Viện Kiểm Sát nhân dân
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger