TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 461/2025/HS-ST
Ngày: 30-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Hoàng Xuân Hồng
- Ông Nguyễn Văn Phòng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Lữ Ngọc Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 415/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 457/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
Võ Đình Đ; sinh ngày: 10/10/1995 tại tỉnh Hà Tĩnh; Nơi thường trú: Tổ C, Ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Nơi cư trú: Nhà không số, đường A, Khu phố A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Võ Văn Q, sinh năm: 1970 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1973; bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có 04 anh em; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 07/7/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngô Tây N; sinh ngày: 05/01/1995 tại tỉnh Bình Dương; Nơi thường trú: 5 đường C, Khu phố H, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: không; con ông Ngô Văn L, sinh năm: 1956 và bà Bồ Thị N1, sinh năm: 1960; bị cáo là con thứ 3 trong gia đình có 04 anh em; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/7/2024, bị Công an phường T, thành phố T lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị áp dụng biện biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/7/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 55 phút, ngày 07/7/2024, Tổ Công tác Công an phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra đến trước nhà không số đường 128, Khu phố A, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện chị Trần Thị Ngọc T1 (sinh năm: 2000) là lái xe ôm công nghệ G đang giao 01 hộp nhựa màu xanh cho Võ Đình Đ, Đ nhận hộp nhựa màu xanh, cầm trên tay phải, có biểu hiện nghi vấn nên Tổ công tác yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong hộp nhựa do Đ cầm trên tay có 29 viên nén màu trắng và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Sau đó Tổ công tác đưa Đ cùng tang vật về Công an phường P để xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Võ Đình Đ khai nhận Đ bắt đầu sử dụng ma túy vào tháng 02/2024 nhưng không sử dụng thường xuyên. Vào cuối tháng 6/2024, Đ lên mạng xã hội Facebook lướt thấy trang facebook có tên “Nước đá Thành phố Hồ Chí Minh” đăng với nội dung “Có bán nước đá ở Quận I, T. Ai cần thì để lại bình luận” nên Đ đã để lại bình luận “.” do Đ biết đó là trang bán ma túy. Sau đó khoảng 01 ngày sau thì có một số tài khoản Zalo liên hệ tên “Bé Nhỏ”, chủ tài khoản là Ngô Tây N và nhắn tin kết bạn và Đ đã hỏi mua ma túy từ Nam 03 lần vào các ngày 26/6/2024, 30/6/2024 và 07/7/2024. Mỗi lần mua với giá trị 300.000 đồng, thanh toán bằng hình thức chuyển khoản cho số tài khoản 0381000554470, Ngân hàng V, chủ tài khoản Ngô Tây N, giao nhận ma túy bằng hình thức giao hàng thông qua xe ôm công nghệ do Ngô Tây N đặt. Ngày 07/7/2024, Đ đặt mua 300.000 đồng ma túy về sử dụng thì N gửi xe ôm công nghệ G giao cho Đ 01 hộp nhựa, bên trong có 29 viên thuốc nén và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (ma túy), giao đến nơi ở của Đ tại địa chỉ nhà không số Đ, Khu phố A, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 13 giờ 52 phút, chị T1 (mặc áo xe ôm công nghệ) điều khiển xe mô tô tới gặp Đ giao hộp bằng nhựa màu xanh, Đ nhận và cầm trên tay phải của Đ, cùng lúc này bị Tổ công tác Công an phường P kiểm tra phát hiện thu giữ.
Qua truy xét Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã đưa Ngô Tây N về làm việc, N khai nhận toàn bộ hành vi bán ma túy cho Võ Đình Đ 03 lần như trên. Đồng thời khai nguồn gốc ma túy do N mua từ người thanh niên tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 500.000 đồng tại đường số H, Ngã tư Cầu vượt L, phường L, thành phố T để sử dụng và có phân nhỏ để bán cho Đ. Tại đây, T2 giao ma túy được bọc trong túi đen cho N, N đưa 500.000 đồng cho T2.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Võ Đình Đ cho kết quả: Âm tính (Bút lục 58). Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Ngô Tây N cho kết quả dương tính.
Kết luận giám định số 8213/KL-KTHS ngày 16 tháng 07 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận:
- - 29 viên nén màu trắng được ký hiệu mẫu m1 có tổng khối lượng 40,7939 gam, không tìm thấy ma túy.
- - Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 là mà túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1065 gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng vụ án:
- - 01 hộp nhựa màu xanh bên trong hộp nhựa có 29 viên nén màu trắng, không chứa ma túy và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, có khối lượng 0,1065 gam, là ma túy loại Methamphetamine;
- - 01 Điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, số thuê bao 0986775614, thu giữ của Võ Đình Đ;
Cáo trạng số 415/CT-VKSTPTĐ ngày 16/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo: Võ Đình Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Ngô Tây N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Võ Đình Đ từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Ngô Tây N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 hộp nhựa màu xanh bên trong hộp nhựa có 29 viên nén màu trắng, không chứa ma túy và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, có khối lượng 0,1065 gam, là ma túy loại Methamphetamine; tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 Điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, số thuê bao 0986775614, thu giữ của Võ Đình Đ; Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- - Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T (nay là Công an Thành phố H), của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét, quá trình tố tụng, các bị cáo Võ Đình Đ, Ngô Tây N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo đều thống nhất với nhau trong các Bản tự khai, Bản tường trình; Biên bản ghi lời khai; Biên bản hỏi cung bị can và phù hợp với: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; Kết luận giám định số 8213/KL-KTHS ngày 16 tháng 07 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố H, cùng các cùng các tài liệu, tang vật chứng thu giữ được có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 11 giờ 55 phút, ngày 07/7/2024, tại đến trước nhà không số đường 128, Khu phố A, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có hành vi tàng trữ 0,1065 gam là ma túy loại Methamphetamine. Nguồn gốc số ma túy này do Đ mua của Ngô Tây N, mục đích để sử dụng. Thực tế, Ngô Tây N đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho Võ Đình Đ 03 lần, vào các ngày 26/6/2024, 30/6/2024, 07/7/2024 với giá 300.000 đồng/lần, ma túy loại Methamphetamine, giao dịch thông qua tài khoản mạng xã hội Zalo. Sau khi Đ chuyển khoản thanh toán qua số tài khoản của N, Nam đặt tài xế giao hàng công nghệ để giao ma túy cho Đ, tại địa chỉ nhà không số đường A, Khu phố A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Hành vi trên của Võ Đình Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; hành vi của bị cáo Ngô Tây N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp phậm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Lời khai của các bị cáo đã thống nhất với tội danh và Điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với các bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất vụ án: Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, không chỉ gây tổn hại đến sức khoẻ và tinh thần của người sử dụng mà còn làm phá sản về kinh tế của gia đình người nghiện và là một trong những nguyên nhân gây ra tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo tuổi đời còn trẻ, không tu chí làm ăn và đều là người nghiện ma túy, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của các bị cáo rất kém. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy do các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy, bài trừ tệ nạn sử dụng lậu và lạm dụng chất ma túy, mà còn ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người xung quanh. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, cũng xét trong quá trình điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên giảm cho các bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Đối với người thanh niên tên T2 (không rõ lai lịch), bán ma túy cho Ngô Tây N, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ xử lý sau.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là có phần phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, cửa các bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Vật chứng vụ án:
- - 01 hộp nhựa màu xanh bên trong hộp nhựa có 29 viên nén màu trắng, không chứa ma túy và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, có khối lượng 0,1065 gam, là ma túy loại Methamphetamine. Đây là chất ma tuý mà Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu, tiêu hủy;
- - 01 Điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, số thuê bao 0986775614, thu giữ của Võ Đình Đ, bị cáo sử dụng việc việc phạm tội nên tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
[7] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- - Tuyên bố bị cáo Võ Đình Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- - Xử phạt bị cáo Võ Đình Đ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/7/2024.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- - Tuyên bố bị cáo Ngô Tây N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- - Xử phạt bị cáo Ngô Tây N 08 (tám) năm tù về tội. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021.
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 hộp nhựa màu xanh; 01 gói niêm phong ghi số vụ 2518/24 có chữ ký GĐV Phạm Huỳnh Minh T3 và Nguyễn Thị Phương M –cán bộ CATP. Thủ Đức bên tronglà ma túy còn lại sau khi giám định.
- - Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 Điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, số thuê bao 0986775614.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 323/QĐ-VKS ngày 11/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Biên bản bàn giao tang, tài vật ngày 16/6/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức).
Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
Buộc các bị cáo Võ Đình Đ, Ngô Tây N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, nộp tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021:
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được thực hiện quyền kháng cáo bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Nguyệt |
Bản án số 461/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự (tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 461/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Tàng trữ và Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt tù giam
