Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 461/2025/DS-PT

Ngày 14 - 11 - 2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Quang Thế

Các Thẩm Phán: Bà Giang Thị Cẩm Thúy

Tiêu Hồng Phượng

- Thư ký phiên tòa:Nguyễn Ngọc Chọn – Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 334/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 35/2025/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 404/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kiều O, sinh năm 1966; Địa chỉ cư trú: Số G, Trương Phùng X, khóm D, phường L, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1964. Địa chỉ cư trú: Số B, Lý Văn L, khóm A, phường A, tỉnh Cà Mau. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1954; Địa chỉ cư trú: Số C, Trương Phùng X, khóm D, phường P, tỉnh Cà Mau. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Trung N1, sinh năm 1950. Địa chỉ cư trú: Số D, Trương Phùng X, khóm D, phường L, tỉnh Cà Mau. (Có mặt)
  2. Miếu (C) Ông B. Địa chỉ: Đường T, khóm D, phường L, tỉnh Cà Mau. Do ông Quách Vĩnh S, sinh năm 1947 - Trưởng Ban trị sự Miếu Đ. (xin vắng mặt)
  3. Anh Trần Nguyễn K, sinh năm 1987. Địa chỉ cư trú: Số C, Trương Phùng X, khóm D, phường L, tỉnh Cà Mau. (Có mặt)
  1. Chị Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1987. Địa chỉ cư trú: Số C, Trương Phùng X, khóm D, phường L, tỉnh Cà Mau.
  2. Nguyễn Thị T1, sinh năm 1957. Địa chỉ cư trú: Số C, Trương Phùng X, khóm D, phường L, tỉnh Cà Mau.
  3. Ông Dương Hùng L1, sinh năm 1966. Địa chỉ cư trú: Đường T, khóm D, phường L, tỉnh Cà Mau.
  4. Ông Lê Huy K1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Số G, Trương Phùng X, khóm D, phường L, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của ông K1: Ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1964. Địa chỉ cư trú: Số B, Lý Văn L, khóm A, phường A, tỉnh Cà Mau. (Có mặt).

- Người kháng cáo: Bà Trần Thị Kiều O là nguyên đơn. Ông Lê Huy K1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, được bổ sung tại phiên tòa của người đại diện nguyên đơn là ông Nguyễn Hữu N trình bày: Năm 2002, bà Trần Thị Kiều O có nhận chuyển nhượng của ông Lê Trung N1 một phần đất có diện tích 187,7m² thuộc thửa số 157, tờ bản đồ số 10, tọa lạc khóm D, phường H, thành phố C (nay là phường L, tỉnh Cà Mau). Khi chuyển nhượng các bên chỉ viết giấy tay, đồng thời ông N1 giao bà O giữ toàn bộ bản chính giấy tờ mua bán nhà giữa ông N1 với bà Trần Thị K2 và bà K2 với bà Trịnh Thị X1. Hiện giấy tay mua bán bà O đã làm thất lạc.

Tại thời điểm chuyển nhượng trên phần đất có căn nhà cột kê, tuy nhiên do nhà cũ, xuống cấp nên bà O đã tháo dỡ, hiện trạng là đất trống không có nhà. Quá trình sử dụng đất, do bà O bận công việc làm ăn xa nên ít thời gian tới lui trông coi phần đất. Đến vài năm cách đây thì bà O phát hiện ông Trần Văn H đã lấn chiếm phần đất của bà O để trồng nấm (cụ thể là giáp ranh phần đất của bà O với ông H). Vào thời điểm đó, bà O có mời trưởng khóm đến ngăn cản thì ông H nói mượn tạm khi nào bà O cần thì trả lại.

Đến năm 2023, ông H đã cho xây nhà trên phần đất mượn tạm của bà O để trồng nấm, đồng thời ông H còn tiếp tục lấn chiếm xây dựng nhà trên phần đất phía sau. Theo biên bản xác minh, đo đạc của UBND phường H1 (nay là phường L, tỉnh Cà Mau) thì phần đất lấn chiếm có kích thước ngang 8m, dài một bên 4m, một bên 6m. Tổng diện tích lấn chiếm là 51m².

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của bà Trịnh Thị X1 bán cho bà Trần Thị K2 vào ngày 15/8/1985, đến ngày 28/9/1992 bà K2 bán lại cho ông Lê Trung N1, sau đó ông N1 bán lại cho bà O vào năm 2002. Hiện bà O chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất trên. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng thì bà O có cậm 06 trụ đá, tuy nhiên hiện các trụ đá trên đã không còn, ông H đã cất nhà chồng lấn lên các trụ đá.

Nay bà Trần Thị Kiều O yêu cầu ông Trần Văn H tháo dỡ, di dời nhà, công

trình xây dựng trên đất trả lại phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 41,4m² tọa lạc đường T, khóm D, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (nay là phường L, tỉnh Cà Mau).

Tại các lời khai của bị đơn là ông Trần Văn H trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, được bổ sung tại phiên tòa thể hiện: Ông với các anh em ông đã sinh sống trên phần đất của ông, bà ngoại là cụ Dương Văn X2 và Trần Thị C1 (đã chết thời gian quá lâu nên không nhớ rõ) để lại cho anh em ông tọa lạc số 38, Trương Phùng X, khóm D, phường H, thành phố C từ năm 1966 đến nay. Phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng hiện tại phần đất này tại Trích đo hiện trạng thì thuộc thửa số 178, tờ bản đồ số 10.

Trước năm 1975 phần đất của gia đình giáp với bà Nguyễn Thị S1 là người thờ cúng Miếu Ông B đến năm 1975 nhà nước tiếp thu Miếu Ông B làm trụ sở Công an và đến năm 1994 Miếu Ông B được trùng tu lại.

Khoảng trước năm 1985, bà Nguyễn Thị S1 sang căn nhà cho bà Trịnh Thị X1 đến năm 1992 bà Trịnh Thị X1 sang nhượng căn nhà cho bà Trần Thị K2. Sau đó, bà K2 sang nhượng lại căn nhà cho ông Lê Trung N1. Đến năm 2006 ông N1 chuyển nhà đi nơi khác và theo thông tin ông được biết ông N1 đã bán lại căn nhà cho bà O.

Đến năm 2007, ông K1 (chồng bà O) có nhờ ông ký giáp ranh tuy nhiên ông không ký vì không có cơ quan chức năng đo đạc và ông không có chứng kiến đo đạc. Từ thời điểm này giữa các bên bắt đầu phát sinh mâu thuẫn.

Năm 2017, thực hiện chủ trương của chính quyền địa phương về việc mở rộng đường T. Ông đã giao đất phía trước để làm đường và sửa chữa, xây dựng lại căn nhà lùi về phía sau trên đất hiện hữu. Ngày 31/5/2017, Ban trị sự Miếu Ông B có đơn yêu cầu về việc xác định lại ranh giới thửa đất. Sau quá trình làm việc, Ban trị sự Miếu T2 cho ông sửa chữa xây dựng và sử dụng phần đất này.

Đến năm 2023, do nhà xuống cấp hư hỏng và cần được cải tạo, trong quá trình sửa chữa thì bị bà O ngăn cản. Sự việc đã được UBND phường H1 hòa giải nhưng không thành. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả phần đất xác định do ông lấn chiếm có diện tích 41,4m² thì ông không đồng ý theo toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Lý do ông không lấn chiếm đất của bà O.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của bà Nguyễn Thị T1, anh Trần Nguyễn K, chị Nguyễn Ngọc T trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày và yêu cầu của ông Trần Văn H. Không có ý kiến bổ sung.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của ông Dương Hùng L1 trình bày: Hiện ông là người đứng tên trên sổ mục kê đất đai (năm 2009) thửa đất số 178, tờ bản đồ số 10, tổng diện tích 2131.3m² tọa lạc đường T, khóm D, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (nay là phường L, tỉnh Cà Mau). Hiện phần đất trên ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc phần đất là từ ông, bà nội tên Dương Văn X2 (chết năm 1958), Trần Thị C1 (chết năm 1980) nhận chuyển nhượng của người khác, sau khi nhận chuyển nhượng đến khi cụ X2,

Cầm qua đời thì giao toàn bộ phần đất cho con ruột là cụ Dương Thị N2 (đã chết 2003) quản lý, sử dụng. Ngày 08/7/1993 thì bà N2 có tờ di chúc để lại toàn bộ phần nhà, đất trên cho các cháu quản lý và do ông đại diện đứng tên trên sổ mục kê cho đến nay. Thực tế trên phần đất thuộc thửa số 178, tờ bản đồ 10 có 06 hộ đang sinh sống trong đó có căn nhà ông Trần Văn H. Ông H với ông có mối quan hệ họ hàng là bà con cô cậu ruột (mẹ ông H là con ruột của ông X2). Ông H từ nhỏ sống chung với bà Dương Thị N2 được bà N2 nuôi dưỡng, đến khi lập gia đình thì bà N2 cho ông H phần đất để cất nhà ở ổn định đến nay. Ông không nhớ rõ thời gian tặng cho và cũng không rõ diện tích là bao nhiêu, tuy nhiên giữa các anh em ông sinh sống ổn định, không tranh chấp đối với phần đất này. Việc tặng cho giữa bà N2 với ông H theo sự hiểu biết của ông chỉ nói miệng, không lập thành văn bản.

Đối với sự việc bà Trần Thị Kiều O khởi kiện yêu cầu ông H trả lại phần đất mà bà O xác định ông H đã lấn chiếm thì do phần đất này bà N2 đã tặng cho ông H nên ông H quản lý, sử dụng, việc ông H có lấn chiếm đất bà O hay không thì Tòa án tiến hành các thủ tục và giải quyết theo quy định, ông không có ý kiến gì.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, được bổ sung tại phiên tòa của ông Lê Trung N1 trình bày: Vào năm 2002, ông có chuyển nhượng cho bà Trần Thị Kiều O căn nhà cất trên phần đất có kích thước ngang 08m, dài khoảng 23m tọa lạc khóm D, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Việc chuyển nhượng giữa các bên có lập thành văn bản hay không thì ông nhớ rõ. Thời điểm chuyển nhượng trên phần đất có căn nhà cột kê, giá chuyển nhượng là 65 triệu đồng. Bà O đã thanh toán đủ tiền và ông đã bàn giao nhà, đất ngay thời điểm chuyển nhượng. Nguồn gốc nhà đất trước đây là do ông mua của bà Trần Thị K2 vào năm 1992, khi mua của bà K2 là có sẵn nhà. Căn nhà thời điểm này có kích thước ngang khoảng 07m, dài thì ông không nhớ rõ. Hiện tại căn nhà trên bà O đã tháo dỡ. Phần đất trên ông đã chuyển nhượng cho bà O do đó ông không còn liên quan gì, Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của đại diện M (C) Ông B trình bày:

Miếu (Chùa) Ông B được thành lập cách nay trên 200 năm, hiện do ông Quách Vĩnh S là Trưởng Ban trị sự Miếu. Theo Trích lục bản đồ địa chính năm 1994 thì phần đất của Miếu Ông B có diện tích 1.042m². Như vậy, theo trích lục họa đồ năm 1994 của Sở xây dựng thì phần đất tranh chấp giữa các bên nằm trong diện tích trên của Miếu Ông B. Thời gian gần đây, ông H có xây cất nhà lúc đó Miếu Ông B có gửi đơn yêu cầu đến UBND phường H1 để xác định lại ranh giới. Sự việc được U các bên thống nhất thỏa thuận tạm thời cho ông H tiếp tục xây cất. Đối với sự việc tranh chấp đất giữa bà O với ông H thì M không có ý kiến và không có yêu cầu gì. Vụ việc tranh chấp giữa các bên yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 35/2025/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau Quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kiều O về việc yêu cầu buộc ông Trần Văn H trả lại phần đất theo đo đạc thực tế tại Bản vẽ hiện trạng ngày 11/7/2024 của Công ty TNHH MTV T3 có diện tích là 41,4m² thuộc thửa số 157, tờ bản đồ 10 (Bản đồ địa chính năm 2009) tọa lạc tại khóm D, phường L, tỉnh Cà Mau.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 06/8/2025 bà O, ông K1 cùng kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà O.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông N đại diện bà O cho rằng bà O mua nhà và đất có vị trí kích thước cụ thể, ông H cất nhà lấn sang đất của bà O nên kiến nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bà O.

Ông H yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, phía nguyên đơn mua nhà trên diện tích đất đúng căn nhà, khi căn nhà hư hỏng nguyên đơn giỡ nhà để đất trống. Khi ông H cất nhà đã lấn sang đất của bà O, nên kiến nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà O, tuy nhiên ông H cất nhà kiên cố nên buộc ông H hoàn trả lại giá trị đất theo mức giá đã định. Nên kiến nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà O ông K1, sửa bản án sơ thẩm nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hình thức, về nội dung và thời hạn kháng cáo được bà O, ông K1 thực hiện đúng quy định tại các Điều 272, 273 Bộ luật TTDS, đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo của ông, bà theo quy định. Về thẩm quyền cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 26, 35 Bộ luật TTDS.

[2] Do bà O và ông K1 là vợ chồng và có cùng nội dung kháng cáo nên HĐXX đồng thời xét kháng cáo của hai người cùng thời điểm. Xét kháng cáo của ông K1 bà O: Về nguồn gốc đất của ông bà do bà O nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông N1, tuy hiện tại giấy tờ chuyển nhượng giữa hai bên không còn nhưng bên chuyển nhượng là ông N1 xác định việc chuyển nhượng hai bên đã thực hiện xong, ông N1 giao toàn bộ giấy tờ chuyển nhượng của ông với chủ trước cho bà O quản lý gồm đơn xin mua bán nhà bà Trịnh Thị X1 sang bà Trần Thị K2 năm 1985, từ bà Trần Thị K2 sang ông Lê Trung N1 năm 1992 (bút lục số 09,10), như vậy cho dù hiện nay giấy tờ mua bán giữa ông N1 với bà O không còn nhưng vẫn đủ căn cứ xác định căn nhà là của bà O, theo đó phần đất thuộc căn nhà cũng thuộc quyền quản lý sử dụng của bà O.

Qua xem xét hai giấy mua bán nhà từ chủ trước giao lại cho ông N1, mặc dù tiêu đề của hai văn bản đều là đơn xin mua bán nhà nhưng thực chất các bên

chuyển nhượng cả nhà và đất, bởi tại thời điểm năm 1985 (thời điểm bà X1 bán nhà cho bà K2) đất thuộc sở hữu nhà nước, người dân không được phép chuyển nhượng QSDĐ, ngược lại người dân được phép mua bán nhà, khi mua nhà người mua được quyền sử dụng phần đất thuộc căn nhà đã chuyển nhượng (quy định tại điều 17 và điều 49 Luật đất đai năm 1987), đến giai đoạn năm 1992 (thời điểm bà K2 bán nhà cho ông N1) người dân được phép chuyển nhượng QSDĐ khi đất sử dụng có giấy tờ hợp pháp và không tranh chấp (quy định tại điều 30 và điều 73 Luật đất đai năm 1993) tương ứng với các quy định này Chính phủ ban hành các biểu mẫu về việc mua bán nhà và chuyển QSDĐ, bà X1, bà K2 và ông N1 khi mua bán nhà thực hiện đúng mẫu quy định của Chính phủ và được UBND phường 8 thị xã C tại thời điểm đó xác nhận, như vậy hai lần chuyển nhượng này là hoàn toàn phù hợp. Theo hai giấy mua bán nhà từ chủ trước đều thể hiện có kích thước nhà và diện tích sân sau, đến thời điểm ông N1 mua lại ông đã đăng ký kê khai QSDĐ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền với diện tích đất là 187,7m² (BL số 11,12). Về phía ông H cho rằng nguồn gốc đất của ông là do bà ngoại và D Năm cho từ năm 1966 đến năm 1985 mới cất nhà, nhưng giấy tờ cho đất không có, quá trình ở trên phần đất này ông cũng không kê khai đăng ký diện tích đất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để chứng minh diện tích đất ông đang sử dụng là của ông. Ngoài ra qúa trình chuẩn bị xét xử cấp sơ thẩm đã ghi lời khai của đại diện chính quyền địa phương là trưởng khóm 4 phường 8 cũ (nay là khóm D phường L) ông Võ Hùng D1 (BL số 165), ông D1 khai “...Thời điểm năm 2010 ông về đây làm Trưởng khóm, ông H bà O đã có tranh chấp, nguyên nhân là do ông H trồng rau trên đất của bà O, 02 năm sau bà O trình báo với Ban ND khóm ông H làm mái che lấn qua phần đất của bà để trồng nấm, hiện trạng thời điểm đó ông H cất che qua từ nhà sau thẳng ra nhà trước để trồng nấm, thời điểm này Ban ND tiến hành động viên thì ông H xác định chỉ cất để trồng nấm, lúc này bà O cũng đồng ý nên các bên tạm thời không yêu cầu cấp thẩm quyền giải quyết...” điều này chứng minh rằng ông H đã cất nhà lấn sang phần đất của bà O, và theo bản vẽ hiện trạng của Công ty TNHH Một Thành Viên T3 ngày 11/7/2024 được các đương sự xác định diện tích tranh chấp là 41,4m² nên cần buộc ông H hoàn trả cho bà O phần đất này.

Tuy nhiên hiện phần đất tranh chấp ông H đã xây cất nhà tường xây gạch cột bê tông nên không nhất thiết phải buộc ông trả lại phần diện tích đất này mà buộc ông hoàn trả lại giá trị, theo kết quả thẩm định của Công ty T4 phần đất tranh chấp có trị giá 186.300.000 đồng, ông H hoàn trả cho bà O giá trị này là hoàn toàn phù hợp.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[3] Về chi phí tố tụng ông H phải chịu, quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm bà O đã tạm ứng thanh toán khoản chi phí này, ông H có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà O.

[4] Về án phí dân sự: Án phí sơ thẩm ông H phải chịu. Bà O, ông K1 được hoàn lại khoản tiền dự nộp án phí sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định tại Điều 147, 148 Bộ luật TTDS.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, 309, 147, 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T5 quy định về án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Trần Thị Kiều O và ông Lê Huy K1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 35/2025/DS-ST ngày 24/7/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kiều O. Buộc ông Trần Văn H hoàn trả cho bà O giá trị phần đất theo đo đạc thực tế tại Bản vẽ hiện trạng ngày 11/7/2024 của Công ty TNHH MTV T3 có diện tích là 41,4m² (Thuộc thửa số 2) (Thuộc một phần thửa số 157, tờ bản đồ 10 bản đồ địa chính năm 2009) tọa lạc khóm D, phường L, tỉnh Cà Mau bằng 186.300.000 đồng.
  2. Chi phí tố tụng: Ông Trần Văn H phải chịu. Bà Trần Thị Kiều O đã tạm ứng thanh toán xong, ông có nghĩa vụ hoàn lại cho bà O số tiền chi phí đo đạc 12.587.000 đồng và thẩm định giá 12.000.000đồng.

    Các khoản tiền hoàn trả, kể từ ngày bà O có đơn yêu cầu THA ông H có nghĩa vụ thanh toán số tiền này, nếu chậm trả ông còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi quy định tại khoản 2 điều 468 BLDS trên số tiền và thời gian chậm trả cho đến khi thi hành xong.

  3. Về án phí dân sự:
    • - Án phí sơ thẩm: Ông Trần Văn H phải chịu 9.315.000 đồng (chưa nộp).
    • - Bà Trần Thị Kiều O không phải nộp án phí sơ thẩm và phúc thẩm. Ngày 02/02/2024, 08/8/2025 bà đã dự nộp số tiền 600.000 đồng theo biên lai số 0008050 và 0011900 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Cà Mau) và Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được hoàn lại.
    • - Án phí phúc thẩm ông Lê Huy K1 không phải chịu, ngày 15 tháng 8 năm 2025 ông đã nộp tạm ứng số tiền 300.000 đồng theo lai thu số 0011951 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được hoàn lại.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau;
  • - Phòng THADS khu vực 1 - Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Ninh Quang Thế

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 461/2025/DS-PT ngày 14/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 461/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận 1 phần kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger