TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
Bản án số: 461/2024/DS-PT
Ngày: 18-7-2024
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Lan Anh |
| Các Thẩm phán: | Ông Vũ Toàn Giang |
| Ông Chu Tuấn Anh |
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương-Thẩm tra viên chính - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Mai Thanh Kiểm sát viên.
Ngày 17 và ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 585/2024/TLPT - DS ngày 05 tháng 12 năm 2023 về: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 169/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960; Vắng mặt.
Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà L: Ông Nguyễn Chí H, sinh năm 1953.
Nơi ĐKHKTT: thôn M, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Theo Giấy ủy quyền ngày 11/10/2018. Vắng mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1965; Có mặt.
Nơi ĐKHKTT: thôn G, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1975. Địa chỉ: P, tòa H, số B đường N, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Có mặt.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hoàng Thị L1, sinh năm 1966; Có mặt.
- Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1987; Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1990; Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Đức T1, sinh năm 1993; Có mặt.
- Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1996; Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1998; Vắng mặt.
Nơi ĐKHKTT: thôn G, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của chị H2, anh T, anh T1, chị L2, anh Tuấn A1: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1965; Nơi ĐKHKTT: thôn G, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Theo Giấy ủy quyền ngày 15/6/2021. Có mặt.
- Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1987 (con bà L); Có mặt.
HKTT: thôn M, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
- Chị Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1989 (con bà L); Vắng mặt.
HKTT: thôn T, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội;
- Anh Nguyễn Duy L3, sinh năm 1991 (con bà L); Vắng mặt.
HKTT: thôn T, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội;
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1953; Có mặt.
- Ông Nguyễn Duy T3, sinh năm 1954; Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1962; Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1964; Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1969; Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1967; Có mặt.
Đều ĐKHKTT: thôn T, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội;
- Ông Nguyễn Văn P (đã chết) có vợ là bà Ngô Thị Q; Vắng mặt.
Địa chỉ: thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
- Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1956; Vắng mặt.
Địa chỉ: S, đường S, phường A, Quận A, TP ..
- Bà Nguyễn Thị H5, sinh năm: 1963; Có mặt.
Địa chỉ: thôn T, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H5: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1970. ĐKHKTT: thôn G, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Theo Giấy ủy quyền ngày 16/6/2021. Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1970; Có mặt.
ĐKHKTT: thôn G, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thị H6, sinh năm 1964; Có mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
- Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1971; Có mặt.
Địa chỉ: số nhà A, ngách B, Đ, phường C, quận H, TP ..
- Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1975; Có mặt.
Địa chỉ: số B, thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo ủy quyền của bà H6, ông K, bà Y: Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1967; ĐKHKTT: thôn T, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; Theo Giấy ủy quyền ngày 16/6/2021. Có mặt.
Do có kháng cáo của bị đơn là ông Nguyễn Văn Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của chị Nguyễn Thị D, chị Nguyễn Thị Bích N, anh Nguyễn Duy L3 là bà Nguyễn Thị L trình bày: Thửa đất hiện đang có tranh chấp giữa bà và ông Đ có nguồn gốc là của bà ngoại chồng bà cho mẹ chồng bà là bà Nguyễn Thị S1, cho thời điểm nào bà không biết và việc cho của các cụ không có giấy tờ gì. Sau khi các cụ cho mẹ chồng bà thì mẹ chồng bà cho em trai là ông Nguyễn Hữu H7 sử dụng, trông nom. Đến năm 1993, ông H7 viết giấy trả bà S1 tại UBND xã Viên Nội, sau đó ít ngày thì bà S1 cũng viết giấy cho chồng bà là ông Q1 thửa đất này. Sau khi được cho thửa đất này thì vợ chồng bà xuống quây rào bảo vệ, giữ đất. Đến khoảng năm 1994, ông Nguyễn Văn Đ là con trai của ông Nguyễn Hữu H7 phá hàng rào vợ chồng bà làm để trồng rau trên thửa đất này. Bà có xuống thăm đất thấy vậy và về hỏi ông Q1 là chồng bà thì ông Q1 có nói kệ cho ông Đ trồng trọt trên đó vì nhà ông Đ gần đó. Bẵng một thời gian bà không hỏi đến nơi. Năm 2017, bà đi làm sổ đỏ cho thửa đất này thì đại diện UBND xã có nói đất này nhà bà có liên quan đến đất công nên phải đo đạc lại. Nhưng khi xã xuống đo đạc thì ông Đ không cho đo. Từ đó, phát sinh mâu thuẫn, bà có làm đơn xuống xã yêu cầu xã giải quyết nhưng không có kết quả. Do đó, bà nộp đơn ra Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa đề nghị tòa án giải quyết buộc ông Đ phải trả cho gia đình bà thửa đất số 781, tờ bản đồ 21, ở thôn G, xã V, huyện Ứ, TP .. Hiện thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và vẫn do ông Đ là người quản lý sử dụng và trên đất không có ai sinh sống, không có tài sản gì trên đất ngoài mấy cây bưởi do ông Đ mới trồng từ năm 2018. Phía ngoài của thửa đất theo bà được biết là phần diện tích đất công thì ông Đ có xây dựng một ngôi nhà cấp 4, lợp proximăng khoảng năm 2010.
Về án phí và chi phí tố tụng: Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải đại bị đơn, người đại diện theo uỷ quyền của anh Nguyễn Đức T, anh Nguyễn Đức T1, chị Nguyễn Thị L2, anh Nguyễn Tuấn A là ông Nguyễn Văn Đ trình bày:
Thửa đất hiện đang có tranh chấp giữa gia đình ông và bà L theo bản đồ 299 thành lập năm 1984 thì thửa đất này là thửa đất số 33, tờ bản đồ số 6 diện tích 1280m²; theo bản đồ thành lập năm 2003 thì thửa đất tranh chấp là thửa đất số 500, tờ bản đồ 05, diện tích 331m², đứng tên chủ sụng dụng là ông Nguyễn Văn Đ; theo bản đồ Vlap thành lập năm 2013 thì thửa đất hiện đang có tranh chấp là một phần của thửa đất số 781, tờ bản đồ 21, diện tích 542.3m² đứng tên chủ sử dụng là ông Nguyễn Văn Đ. Thửa đất này tọa lạc ở thôn G, xã V, huyện Ứ, TP .. Hiện thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất có nguồn gốc là của các cụ ngày xưa cho bố ông là ông Nguyễn Hữu H7. Bố ông chết năm 2000, trước khi chết năm 1996, bố ông có cho ông thửa đất này. Từ khi được cho đất vợ chồng ông quản lý sử dụng, không có bất kỳ tranh chấp, hay khiếu kiện gì. Vợ chồng ông trồng cây, nâng nền từ lúc ông Q1 còn sống, ông bà còn xin đất ở nhà ông Nguyễn Văn Đ là em trai ông Q1 cũng không ai có ý kiến gì. Ông Q1 chết năm 2012, đến năm 2017 bà L vợ ông Q1 mới xuống đòi đất và bảo vợ chồng ông nếu không trả sẽ kiện ra tòa. Việc bà Nguyễn Thị S1 viết giấy cho ông Nguyễn Duy Q2 thửa đất mà vợ chồng ông đang sử dụng thì ông bà không hề hay biết. Đến năm 2017, bà L mới mang tờ giấy này ra vào bảo đất của nhà bà thì gia đình ông mới biết. Ông khẳng định chữ viết trong văn bản chia đất thổ cư ngày 29/9/1996 là chữ của ông Nguyễn Hữu H7. Quan điểm của gia đình ông là đất bố mẹ cho ông thì ông được quản lý, sử dụng, ông không trả cho bất kỳ ai.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hoàng Thị L1: nhất trí quan điểm trình bày của ông Đ.
- Ông Nguyễn Văn P1 trình bày: ông biết việc mẹ ông cho ông Q2 đất. Nhưng mẹ cho ai thì người đó được hưởng nên ông không có ý kiến, đề nghị gì. Nay ông Q2 đã chết, đề nghị ông Đ, bà L1 phải trả lại đất cho gia đình bà L theo yêu cầu của bà L. Về quyền lợi của ông trong vụ án này, ông không có đòi hỏi gì, không ý kiến, đề nghị gì về quyền lợi của ông.
- Ông Nguyễn Duy T3, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị H4, bà Nguyễn Thị H6, ông Nguyễn Văn X, ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị Y: có cùng quan điểm nhất trí quan điểm trình bày của bị đơn ông Nguyễn Văn Đ. Đất là của nhà ông Đ, bà L1, bà L không có quyền đòi. Các ông bà không có đòi hỏi gì về quyền lợi của mình trong vụ án này.
- Chị H2, Ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị M không có quan điểm trình bày.
- Ông Nguyễn Văn P (chết) có vợ là bà Nguyễn Thị Q3: Toà án đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được địa chỉ của gia đình ông P do đó, không có quan điểm trình bày.
Tại biên bản thẩm định và định giá tài sản: diện tích thửa đất số 781 có diện tích thực tế đo là: 491m². Giá trị quyền sử dụng đất là 3.500.000 đồng/m². Tài sản trên đất có giá trị là: 1.485.800 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, TP . có quan điểm về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình này quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, đại diện viện kiểm sát đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tính công sức cho vợ chồng ông Đ, bà L1. Thửa đất có một lối đi duy nhất do đó cần bớt lại một phần diện tích làm ngõ đi chung, phần diện tích đất còn lại thì chia đôi cho bà L và ông Đ mỗi người ½ diện tích đất. Buộc nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí, chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
Bản án sơ thẩm số 18/2023/DS- ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội đã xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.
- Giao cho bà Nguyễn Thị L một phần quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 781, tờ bản đồ số 21 diện tích là 170,3m² toạ lạc tại thôn G, xã V, huyện Ứ, TP . được (giới hạn bởi các điểm 3; 3'; 4; 5; 10; 9; 3). Phần diện tích có số đo và tứ cận là:
Phía Tây Bắc giáp phần diện tích đất giao cho ông Nguyễn Văn Đ, có số đo là: 18.67 m (giới hạn bởi các điểm 3; 9);
Phía Tây Nam giáp phần diện tích đất còn lại của thửa đất ( phần đất sử dụng chung), có số đo là: 9.52m; (giới hạn bởi các điểm 9; 10)
Phía Đông Nam giáp phần đất của một phần giáp đất công có số đo là 14,7m; một phần giáp phần diện tích đất còn lại của thửa đất (phần đất sử dụng chung), có số đo là: 3,54m. (giới hạn bởi các điểm: 4, 5, 10)
Phía Đông Bắc giáp thửa đất số 24 nhà ông Nguyễn Văn Đ1, có số đo là 9,05m; (Giới hạn bởi các điểm: 3, 3',4).
- Giao cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị L1 một phần quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 781, tờ bản đồ số 21 diện tích là 170,3m² toạ lạc tại thôn G, xã V, huyện Ứ, TP . (giới hạn bởi các điểm: 1, 2, 3, 9, 8, 1). Phần diện tích có số đo và tứ cận là:
Phía Tây Bắc giáp thửa đất số 746 nhà ông Nguyễn Văn X, có số đo là: 22,97m; (Giới hạn bởi các điểm: 1,2)
Phía Tây Nam giáp mương xây, có số đo là: 8,3m; (Giới hạn bởi các điểm: 1, 8);
Phía Đông Nam giáp một phần giáp phần diện tích đất còn lại của thửa đất (phần đất sử dụng chung), có số đo là: 4,0m; một phần diện tích đất giáp phần còn lại của thửa đất ( chia cho bà L), có số đo là: 18,67m;. (giới hạn bởi các điểm: 3, 9, 8).
Phía Đông Bắc giáp thửa đất số 24 nhà ông Nguyễn Văn Đ1, có số đo là 6,65m. (Giới hạn bởi các điểm: 2, 3)
- Phần còn lại của thửa đất có diện tích là: 151,1m² được dùng làm ngõ đi chung của hai phần diện tích đất nêu trên (giới hạn bởi các điểm: 5, 6, 7, 8, 9, 10, 5), có tứ cận và số đo là:
Phía Tây Bắc giáp thửa đất chia cho ông Nguyễn Văn Đ, có số đo là: 4,0m; một phần giáp thửa đất chia cho bà Nguyễn Thị L có số đo là: 3,54m; (giới hạn bởi các điểm: 8,9 và 10, 5)
Phía Tây Nam giáp mương xây, có số đo là: 27,62m; (giới hạn bởi các điểm: 7, 8).
Phía Đông Nam giáp đường bê tông, có số đo là: 5,17m; (giới hạn bởi các điểm: 6, 7).
Phía Đông Bắc một phần giáp đất công, có số đo là: 18,2m; một phần giáp đất chia cho bà L có số đo là: 9,52m. ( Giới hạn bởi các điểm: 5, 6 và 9, 10)
Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
(Có sơ đồ phần chia xác định giới hạn bởi các điểm vị trí diện tích đất kèm theo bản án)
- Chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền là: 2.500.000 đồng.
- Dành quyền khởi kiện cho hàng thừa kế của ông Nguyễn Văn P khi có yêu cầu.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn Đ kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm và đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị HĐXX bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn cũng nhất trí với quan điểm của bị đơn đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới và không thỏa thuận với nhau để giải quyết vụ kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng và đầy đủ các bước tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án; Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định.
Về nội dung: sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, VKS đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn và áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ kiện, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Ông Nguyễn Văn Đ nộp đơn kháng cáo và tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm trong thời hạn quy định của pháp luật nên được hợp lệ về hình thức.
- Bị đơn kháng cáo, một số người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan có mặt tại phiên toà. Nguyên đơn và người đại diện uỷ quyền của nguyên đơn, một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt không có lý do, HĐXX áp dụng Điều 296 BLTTDS xét xử theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
Xét toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ không đồng ý yêu cầu của bà Nguyễn Thị L về việc buộc ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị L1 phải trả lại quyền sử dụng đất tại thửa đất số 781, tờ bản đồ số 21 tại thôn G, xã V, huyện Ứ, TP ..
Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1]. Về nguồn gốc, quá trình sử dụng diện tích đất đang tranh chấp:
- Xét về nguồn gốc thửa đất:
Nguyên đơn trình bày đất là của mẹ chồng bà là cụ Nguyễn Thị S1 cho bố ông Đ là cụ Nguyễn Hữu H7 mượn. Năm 1993, cụ H7 đã viết giấy trả cho cụ S1 và sau đó, cụ S1 viết giấy cho ông Q2 là chồng của bà. Việc trả đất và cho đất có lập văn bản, xác nhận của chính quyền địa phương.
Bị đơn trình bày, đất là của các cụ cho bố ông, năm 1996 bố ông có viết giấy chia cho các con. Việc chia đất của bố ông chỉ có giấy viết tay, không có giấy tờ gì khác. Quá trình xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy: theo bản đồ 299 thành lập năm 1984 thì thửa đất này là thửa đất số 33, tờ bản đồ số 6 diện tích 1280m² không có sổ mục kê; theo bản đồ thành lập năm 2003 thì thửa đất tranh chấp là thửa đất số 500, tờ bản đồ 05, diện tích 331m², đứng tên chủ sụng dụng là ông Nguyễn Văn Đ; theo bản đồ Vlap thành lập năm 2013 thì thửa đất hiện đang có tranh chấp là một phần của thửa đất số 781, tờ bản đồ 21, diện tích 542.3m² đứng tên chủ sử dụng là ông Nguyễn Văn Đ.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Thửa đất hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quá trình sử dụng đất theo các đương sự trình bày cũng như qua xác minh tại chính quyền địa phương thấy từ trước đến nay là do vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ là người quản lý, sử dụng. Các bên đều thừa nhận là đất cha ông để lại.
Trong quá trình giải quyết gia đình bà L xuất trình 02 đơn gồm Đơn xin giao lại thừa kế của Nguyễn Hữu H7 và Đơn xin thừa kế sử dụng đất cụ thể: ngày 15/4/1993 cụ Nguyễn Hữu H7 là bố đẻ của ông Nguyễn Văn Đ có đơn giao lại đất sử dụng được thừa kế cho cụ Nguyễn Thị S1 với nội dung: cụ H7 trả lại cho cụ S1 phần diện tích đất mà cụ H7 đã mượn của cụ S1. Ngày 20/4/1993, cụ S1 có đơn xin được thừa kế quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Duy Q2 với nội dung ông Q2 được thừa kế 400m² đất mà cụ H7 giao trả cụ S1. Hai văn bản này đều có xác nhận của chính quyền địa phương. Tại bút lục 109 có thể hiện nội dung do cụ H7 là người viết: “tôi có bà chị là Nguyễn Thị S1 đất ông cha để lại nay em là Nguyễn Hữu H7, ông cha để lại cho bà chị Nguyễn Thị S1 1/2, nay bà chị thương cậu đông con bà chị để lại cho cậu sử dụng tất cả số vườn ao từ ngày làm đơn 29/9/1996.” Căn cứ vào các văn bản nêu trên, có thể khẳng định đất này là của bố mẹ cụ S1.
Ngày 15/4/1993 cụ H7 viết giấy trả đất cho cụ S1 và ngày 20/4/1993, cụ S1 viết giấy cho ông Q2, các đương sự cho rằng, chữ ký của cụ S1, cụ H7 trong các văn bản có xác nhận của UBND xã là không đúng. Quá trình làm việc, các đương sự có yêu cầu giám định chữ ký trong các văn bản đó, tuy nhiên, các tài liệu mà đương sự nộp không đủ cơ sở để thực hiện giám định. Toà án cấp sơ thẩm cũng đã tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương nhưng không thu thập thêm được chứng cứ có chữ viết của ông H7. Do đó, không thể thực hiện được việc giám định.
Tại đơn kháng cáo ông Đ cho rằng tên của bố ông là Nguyễn Văn H8 chứ không phải Nguyễn Hữu H7 tuy nhiên ông Đ cung cấp cho Toà án một số giấy tờ như giấy chia đất thổ cư thì chữ ký của bố ông vẫn ghi Nguyễn Hữu H7; hay cho rằng ông H7 bị bệnh tâm thần tuy nhiên không có căn cứ chứng minh mặt khác tại phiên toà hôm nay các đương sự xác nhận ông Nguyễn Văn H8 và Nguyễn Hữu H7 là một người vì vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo này của ông Đ.
Quá trình làm việc, ông Nguyễn Văn T4 là phó chủ tịch UBND xã V vào thời điểm tháng 4/1993, là người ký vào 02 giấy giao đất có trình bày: chữ ký của cụ S1 trong giấy giao đất là không phải do cụ S1 ký mà do ông Q2 ký. Nhưng ông khẳng định, tại buổi làm việc ngày 15/4/1993 và 20/4/1993, ông có hỏi rõ cụ S1, cụ H7 và ông Q2 nội dung văn bản và các bên đều khẳng định đó là ý chí của mình và cụ H7, ông Q2 trực tiếp ký trước mặt ông, còn cụ S1 không tự ký được nên nhờ ông Q2 là con trai ký hộ trước mặt ông, tuy nhiên cụ S1 không điểm chỉ vào các văn bản.
Về “Đơn xin được thừa kế sử dụng đất” ngày 20/4/1993, ông Đ xác định cụ S1 không biết chữ, ông T4 cũng xác nhận đây là văn bản được viết sẵn ở nhà do ai viết thì ông không biết, chữ ký của cụ S1 là do ông Q2 ký hộ mà không có sự điểm chỉ của cụ S1; cuối đơn không thể hiện có việc đọc lại nội dung đơn cho cụ S1. Tại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm hai con đẻ cụ S1 là ông Nguyễn Duy T3 và ông Nguyễn Văn Đ (sinh năm 1964) khẳng định thửa đất trên là cha ông đã chia cho cụ H7; cụ S1 không biết chữ, chưa bao giờ nghe cụ S1 nói có diện tích đất này và viết thừa kế cho ông Q2, lúc còn sống ông Q2 cũng không nói gì đến thửa đất này, chỉ đến năm 2018 khi xảy ra tranh chấp các ông mới biết sự việc. Hơn nữa, như đã phân tích ở trên, ông Q2 là người được hưởng thừa kế làm chứng vào đơn này là không khách quan, cho nên đơn này không thể được coi là di chúc hợp pháp, không thoả mãn các điều kiện về di chúc quy định tại Điều 12, 13, 14 Pháp lệnh thừa kế năm 1990 (ông Q2 là người được hưởng di chúc thì không được ký và viết vào văn bản theo điều 19 Pháp lệnh thừa kế năm 1990 ).
- Xét về quá trình sử dụng đất:
Tại Công văn số 51/CV- UBND ngày 21/6/2023 của UBND xã Viên Nội có ghi: Nguồn gốc của thửa đất dang tranh chấp giữa bà nguyễn THị L4 và ông Nguyễn Văn Đ là đất cha ông để lại; theo bản đồ 299 thành lập năm 1984 thì thửa đất này là thửa đất số 33, tờ bản đồ số 6 diện tích 1280 m2( có sổ mục kê kèm theo) tên chủ sử dụng là H7; theo bản đồ thành lập năm 2003 (có sổ mục kê kèm theo) thì thửa đất tranh chấp là thửa đất số 500, tờ bản đồ 05, diện tích 331 m2, đứng tên chủ sụng dụng là ông Nguyễn Văn Đ; Bản đồ địa chính chính quy năm 2014( có sổ mục kê kèm theo) thì thửa đất đang có tranh chấp là thửa đất số 781, tờ bản đồ 21, diện tích 542.3 m2 đứng tên chủ sử dụng là ông Nguyễn Văn Đ. Hiện thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tiền thuế sử dụng đất là ông Nguyễn Văn Đ đóng.
Theo trình bày của các đương sự thì từ trước năm 1993, đến sau khi có 02 văn bản giao đất trên cho đến nay thì gia đình ông Nguyễn Văn Đ vẫn là người quản lý, sử dụng, không có bất kỳ tranh chấp gì. Đến năm 2017, bà L4 có đơn đòi đất nên phát sinh tranh chấp giữa bà L4 và ông Đ. Quá trình sử dụng đất, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông T3, ông Đ (em trai ông Q2), bà H3, bà H5, bà H6, ông X, ông K, bà Y, bà H4 đều khẳng định vợ chồng ông Đ là người quản lý, trông nom, tôn tạo và duy trì thửa đất, các ông bà không có đòi hỏi gì về quyền lợi của mình trên thửa đất này.
Xét yêu của bà Nguyễn Thị L về việc buộc ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị L1 phải trả lại quyền sử dụng đất tại thửa đất số 781, tờ bản đồ số 21 tại thôn G, xã V, huyện Ứ, TP ..
Hội đồng xét xử nhận thấy:
Như đã phân tích ở trên Đơn giao lại đất sử dụng được thừa kế ngày 15/4/1993 của ông Nguyễn Hữu H7 và Đơn xin được thừa kế sử dụng đất của cụ Nguyễn Thị S1 không phù hợp với pháp luật. Mặt khác theo đơn xin giao lại đất có nội dung: cụ H7 trả lại cho cụ S1 phần diện tích đất mà cụ H7 đã mượn của cụ S1 nhưng sau thời điểm đó cụ S1 cũng không nhận lại thửa đất nói trên; ngày 20/4/1993, cụ S1 có đơn xin được thừa kế quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Duy Q2 nhưng ông Q2 cũng không kê khai đăng ký quyền sử dụng đất cũng không sử dụng thưả đất này, đến năm 2011 ông Đ còn là người làm chứng cho gia đình ông Đ và gia đình ông T bà L5 khi hai bên có tranh chấp tại thời điểm ông T xây nhà ép cọc sát nhà; ông Q2 cũng không nói với bà L chỉ khi ông Q2 chết sau nhiều năm bà L mới xuất trình 02 văn bản nói trên.
Mặc dù các bên đương sự đều thống nhất xác nhận phần đất tranh chấp là do các cụ Nguyễn Thị D1 và cụ K1 là bố mẹ đẻ cụ Nguyễn Hữu H7 và cụ Nguyễn Thị S1, cụ Nguyễn Văn N1, tuy nhiên trong sổ mục kê, địa chính qua các thời kỳ thể hiện tên cụ Nguyễn Hữu H7 sau này là ông Nguyễn Văn Đ.
Do đó, cấp sơ thẩm căn cứ vào Đơn giao lại đất sử dụng được thừa kế ngày 15/4/1993 của ông Nguyễn Hữu H7 và Đơn xin được thừa kế sử dụng đất của cụ Nguyễn Thị S1 chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L là chưa đủ căn cứ, cần chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L
Quá trình làm việc, Toà án không xác định được hàng thừa kế của ông Nguyễn Văn P (Đã chết).
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, cần sửa Bản dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 15/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà theo hướng phân tích trên.
[3] Về chi phí tố tụng và án phí:
Về chi phí tố tụng: Vì yêu cầu khởi kiện của bà L không được chấp nhận nên bà L phải chịu chi phí này.
Về án phí: Bà L thuộc trường hợp người cao tuổi được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Do sửa án sơ thẩm nên ông Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 26, khoản 1 Điều 38, Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 160, Điều 161, Điều 221, Điều 223 Bộ luật Dân sự; Luật Đất đai năm 1993; Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 202, 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25.11.2015 của Quốc hội về việc thi hành Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ.
- Sửa bản bản án dân sự sơ thẩm 18/2023/DS- ST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc buộc ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị L1 phải trả lại quyền sử dụng đất tại thửa đất số 781, tờ bản đồ số 21 tại thôn G, xã V, huyện Ứ, TP ..
- Về chi phí tố tụng: bà Nguyễn Thị L phải chịu chi phí tố tụng (xác nhận bà L đã nộp đủ chi phí tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm).
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Hoàn trả bà Nguyễn Thị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) theo biên lai số 0009887 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa ngày 02/11/2020.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Hoàn trả ông Nguyễn Văn Đ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0058164 ngày 20/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Lan Anh |
Bản án số 461/2024/DS-PT ngày 18/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 461/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn và sửa bản bản án dân sự sơ thẩm: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
