|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 461/2024/DS – PT Ngày: 05.11.2024 V/v “Tranh chấp hụi”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Bích Hải
Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Hồng Dung
Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi- Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 255/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 49/2024/DSST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 371/2024/QĐ - PT ngày 04 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Bà Hà Thụy Thiên T, sinh năm 2000.
Nơi cư trú: ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thu T3, sinh năm 1991. Địa chỉ: Khóm T, thị Trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. (Văn bản uỷ quyền ngày 19/10/2024)
-
- Bị đơn: Bà Trần Ngọc T1, sinh năm 1997.
Nơi cư trú: khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Đại diện ủy quyền của bị đơn ông Huỳnh Minh Đ, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. (Văn bản uỷ quyền ngày 15/12/2023)
-
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Ngọc T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Thụy Thiên T trình bày: Vào năm 2022, bà Trần Ngọc T1 là chủ hụi do quen biết nên bà T có tham gia nhiều dây hụi do bà T1 làm chủ gồm: 01 chân hụi 5.000.000 đồng/1 tuần, khui ngày 29/10/2022 DL có 15 hụi viên bà đã đóng hụi sống được 14 lần số tiền là 52.320.000 đồng.
01 chân hụi 3.000.000 đồng/1 tuần, khui ngày 23/10/2022 DL có 16 hụi viên bà đã đóng hụi sống được 15 lần số tiền là 34.460.000 đồng.
01 chân hụi 3.000.000 đồng/15 ngày, khui ngày 09/8/2022 DL có 15 hụi viên bà đã đóng hụi sống được 12 lần số tiền là 56.520.000 đồng.
01 chân hụi 5.000.000 đồng/1 tháng, khui ngày 17/10/2022 DL có 14 hụi viên bà đã đóng hụi sống được 03 lần số tiền là 7.950.000 đồng.
01 chân hụi 10.000.000 đồng/1 tháng, khui ngày 10/12/2022 DL có 14 hụi viên bà đã đóng hụi sống được 03 lần số tiền là 17.000.000 đồng.
01 chân hụi 5.000.000 đồng/1 tuần, khui ngày 28/10/2022 DL có 16 hụi viên bà đã đóng hụi sống được 15 lần số tiền là 43.650.000 đồng.
Hiện tại bà T1 còn nợ của bà T với số tiền 211.900.000 đồng, bà T nhiều lần liên hệ để yêu cầu bà T1 trả nhưng bà T1 hứa hẹn nhưng không thực hiện trả. Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu bà Trần Ngọc T1 trả cho bà T tổng số tiền 211.900.000 đồng
Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn bà Trần Ngọc T1 - ông Huỳnh Minh Đ trình bày: Qua yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Thiên T2 yêu cầu bà Trần Ngọc T1 trả 211.900.000 đồng thì bị đơn không thống nhất.
Tại bản án sơ thẩm số 49/2024/DSST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn đã tuyên như sau:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hà Thụy Thiên T.
-
Buộc bà Trần Ngọc T1 trả cho bà Hà Thụy Thiên T số tiền 211.900.000 đồng (Hai trăm mười một triệu, chín trăm nghìn đồng).
-
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 21/6/2024 bị đơn bà Trần Ngọc T1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét
sửa bản án sơ thẩm vì cho rằng Bản án sơ thẩm đánh giá chứng cứ chưa toàn diện và chính xác từ đó tuyên án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà T1.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Hà Thụy Thiên T – bà Nguyễn Thị Thu T3 trình bày: Nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bà bị đơn bà Trần Ngọc T1 trả lại số tiền 113.130.000 đồng.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn bà Trần Ngọc T1 – ông Huỳnh Minh Đ: Bị đơn thay đối một phần yêu cầu kháng cáo, thống nhất với số tiền nguyên đơn yêu cầu 113.130.000 đồng và đồng ý trả số tiền này cho nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
-
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, đương sự và Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
-
- Về nội dung giải quyết vụ án: Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền là 113.130.000 đồng, bị đơn đồng ý. Xét việc thoả thuận của các bên là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không trái quy định pháp luật, đề nghị áp dụng Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm số 49/2024/DSST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn theo hướng công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
-
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Trần Ngọc T1 thực hiện trong hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
-
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện, bà Hà Thụy Thiên T yêu cầu giải quyết buộc bà Trần Ngọc T1 phải trả cho bà T tổng số tiền hụi còn nợ chưa thanh toán là 211.900.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết theo quan hệ “Tranh chấp hụi” là đúng theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
-
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Trần Ngọc T1, nhận thấy:
Theo tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ và lời khai của bà Trần Ngọc T1 và bà Hà Thụy Thiên T thì giữa nguyên đơn và bị đơn có quan hệ góp hụi, bà
T1 là chủ hụi, bà T là hụi viên tham gia chơi hụi do bà T1 làm chủ. trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến năm 2023, bà Hà Thụy Thiên T có tham gia chơi nhiều dây của bà T1 làm chủ. Tuy nhiên, bà T chỉ yêu cầu giải quyết buộc bà Trần Ngọc T1 phải trả cho bà T tổng số tiền hụi còn nợ chưa thanh toán là 211.900.000 đồng, trong khoảng thời gian từ ngày 09/8/2022 đến ngày 28/10/2022 của 06 dây hụi bà T tham gia. Sau khi, cấp sơ thẩm xét xử phía bà T1 kháng cáo yêu cầu xem xét giải quyết lại nội dung tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn.
- Tại phiên toà, nguyên đơn bà Hà Thụy Thiên T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn bà Trần Ngọc T1 trả lại số tiền hụi chưa thanh toán là 113.130.000 đồng
- Đại diện theo uỷ quyến của bị đơn bà Trần Ngọc T1 – ông Huỳnh Minh Đ thống nhất với số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả là 113.130.000 đồng và đồng ý trả số tiền này cho nguyên đơn.
Xét thấy, việc nguyên đơn và bị đơn thống nhất thoả thuận về số tiền bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, thể hiện ý chí tự định đoạt của các bên, không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật. Do vậy, cần sửa Bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thoả thuận này giữa nguyên đơn và bị đơn.
Nhận thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
-
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
-
- Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
-
- Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm, yêu cầu kháng cáo của bị đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn không phải chịu án phí.
-
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
-
Công nhận nguyên đơn bà Hà Thụy Thiên T và bị đơn bà Trần Ngọc T1 thống nhất bà Trần Ngọc T1 có trách nhiệm trả cho bà Hà Thụy Thiên T số tiền 113.130.000 đồng (Một trăm mười ba triệu một trăm ba mươi nghìn đồng).
-
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Ngọc T1 phải chịu 5.656.500 đồng.
Bà Hà Thụy Thiên T được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp số tiền 5.298.000 đồng (Năm triệu hai trăm chín mươi tám nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004287 ngày 13/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Trần Ngọc T1 không phải chịu nên được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004708 ngày 24/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
-
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bích Hải |
CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Phan Thị Hồng Dung Nguyễn Thị Tuyết Loan |
Võ Bích Hải |
Bản án số 461/2024/DS – PT ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hụi
- Số bản án: 461/2024/DS – PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hụi
