Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 460/2024/HS-PT

Ngày: 29 - 5 -2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Văn
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Thành
Ông Nguyễn Thanh Nhã

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 223/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Văn D về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, do có kháng cáo của bị cáo Bùi Văn D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HS-ST ngày 03/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo: Bùi Văn D, sinh năm 1985 tại Hà Nội; nơi cư trú:

Thôn L, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lái xe ô tô; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn L và bà Nguyễn Thị K; có vợ là Bùi Thị H, có 02 con, con lớn sinh năm 2010 và nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08h30' ngày 23/5/2023 Bùi Văn D (Có Giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ôtô BKS 30F - 213.65, chở anh Nguyễn Minh C (Sinh năm 1997, ngồi phía trước bên phụ) và ông Nguyễn Văn T (Sinh năm 1967, ngồi ghế sau) đều cư trú tại: thôn L, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội, lưu thông trên đường T hướng K đi cầu Đ. Đến khoảng mở đoạn Km6+400 thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện Đ thì xe của Bùi Văn D điều khiển va chạm với xe môtô BKS 29L7 - 3290 do chị Trần Thị H1 (Sinh năm 1984; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội) có Giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển đang chuyển hướng từ phải qua trái theo chiều lưu thông của xe ôtô. Hậu quả: Chị Trần Thị H1 tử vong.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Mặt đường trải nhựa, nhẵn phẳng, gồm 05 làn đường; 04 làn ôtô và 01 làn xe môtô trong cùng bên phải được ngăn cách với làn xe ôtô bằng sơn nét đứt màu vàng rộng 5,5m, làn đường thứ 2 tiếp giáp làn xe môtô rộng 4m; làn thứ 3 và 4 đều rộng 3,8m, làn thứ 5 tiếp giáp khoảng mở bên trái rộng 3,1m, các làn xe ôtô được ngăn cách bằng vạch sơn nét đứt màu trắng, ở giữa có dải phân cách cứng bằng bồn cây chia hai chiều đường.

Lấy cột đèn số T6P/10 chiều Kim C1 hướng đi cầu Đông Trù làm mốc. Lấy mép đường bên phải chiều Kim C1 hướng đi cầu Đông Trù làm chuẩn.

Xe ôtô BKS 30F-213.65 đỗ trên mặt đường, đầu xe hướng cầu Đ; trục bánh trước bên phải xe ôtô cách mép đường làm chuẩn 7,9m; trục bánh sau bên phải xe ôtô cách mép đường làm chuẩn 8,8m và cách trục bánh sau bên phải xe môtô môtô BKS 29L7 - 3290 là 30,8m.

Xe môtô BKS 29L7 - 3290 đổ nghiêng trái trên mặt đường, đầu xe môtô hướng mép đường làm chuẩn; trục bánh trước xe môtô cách mép đường làm chuẩn 5,5m; trục bánh sau xe môtô cách mép đường làm chuẩn 6,7m và cách điểm mốc 20,5m.

Nạn nhân Trần Thị H1 nằm ngửa trên mặt đường, đầu hướng cầu Đ; đỉnh đầu nạn nhân cách mép đường làm chuẩn 11,9m và cách điểm mốc 1,4m; chân phải nạn nhân cách mép đường làm chuẩn 12,4m; chân bên trái bị đứt lìa.

Hiện trường để lại vùng nhựa vỡ KT(3x2,7)m, đầu vết hướng K, cách mép đường làm chuẩn 8,7m; cuối vết hướng cầu Đ, trùng với đỉnh đầu nạn nhân H1.

Vùng chất màu đỏ (dạng máu) bám dính trên mặt đường KT(14,4x1,4)m. Đầu vết hướng Kim C1, cách mép đường làm chuẩn 14,6m và cách điểm mốc 17,3m.

Vết cày trượt đứt quãng KT(50x0,7)m, đầu vết cày hướng Kim C1 trùng với vết cày trượt đứt quãng KT(0,15x0,01)m và cách mép đường làm chuẩn 14,3m; cuối vết cày trùng với tay nắm tay lái bên trái và giá để chân trước bên trái của xe môtô.

Vết cày trượt KT(1,7x0,02)m, đầu vết cách mép đường làm chuẩn 11,4m và cách điểm mốc 28,9m; cuối vết cày hướng mép đường làm chuẩn và cách mép đường làm chuẩn 13,1m.

Vết cày trượt đứt quãng KT(0,15x0,01)m, đầu vết hướng Kim Chung cách mép đường làm chuẩn 10,7m và cách điểm mốc 28,9m; cuối vết hướng cầu Đ cách mép đường làm chuẩn 10,7m.

Vật chứng tạm giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường:

  • Xe ôtô BKS 30F-213.65 nhãn hiệu HUYNHDAI I10, màu bạc, số máy G4LAJM792497, số khung W1DAJN016991 và giấy tờ xe; 01 giấy phép lái xe hạng B1 và 01 thẻ nhớ của Bùi Văn D.
  • Xe môtô Honda Dream KBS 29L7 - 3290, màu nâu; số máy và số khung: 0102109.

Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ, Bộ C2 giám định dấu vết trên xe ôtô BKS 30F-213.65 và xe môtô BKS 29L7 - 3290. Tại Kết luận giám định số 3913/KL-KTHS ngày 16/6/2023 V, Bộ C2, kết luận:

- Dấu vết va chạm giữa xe ôtô BKS 30F-213.65 với xe môtô BKS 29L7 - 3290:

  • + Dấu vết biến dạng, trượt xước, mất sơn màu ghi, dính chất màu đen (dạng nhựa) ở mặt ngoài tai xe phía trước bên phải xe ôtô BKS 30F-213.65 có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết trượt, rách nhựa, dính chất màu ghi (dạng sơn), mất nhựa màu đen ở mặt ngoài bên trái yên xe môtô BKS 29L7 - 3290. Dấu vết va chạm ở xe môtô tại vị trí này có chiều từ bên trái sang bên phải xe, từ sau về trước.
  • + Dấu vết trượt xước, mất sơn màu ghi, dính chất màu tím và màu hồng (dạng sơn) ở mặt ngoài bên phải chắn đà trước xe ôtô BKS 30F-213.65 có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết trượt xước, dính chất màu ghi (dạng sơn), mất sơn màu tím và màu hồng ở mặt ngoài cốp bên trái xe môtô BKS 29L7 - 3290. Dấu vết va chạm ở xe môtô tại vị trí này có chiều từ sau về trước.

- Cơ chế hình thành dấu vết va chạm còn lại ở xe ôtô BKS 30F-213.65 và ở xe môtô BKS 29L7 - 3290:

  • + Dấu vết trượt xước, dính chất màu trắng (dạng bột đá) ở mặt ngoài đầu tay lái bên trái, ở mặt ngoài đầu bàn để chân trước bên trái xe môtô KBS 29L7 - 3290 có chiều từ trước về sau. Các dấu vết này có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với mặt đường khi xe môtô BKS 29L7 - 3290 đổ nằm nghiêng bên trái và trượt trên mặt đường.
  • + Các dấu vết còn lại ở xe ôtô BKS 30F-213.65 và ở xe môtô KBS 29L7 - 3290 được ghi nhận trong “Biên bản khám phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông” của Công an huyện Đ hiện tại không thể hiện rõ đặc điểm nên không đủ yếu tố giám định.

- Không xác định được tốc độ của xe ôtô BKS 30F-213.65 và của xe môtô BKS 29L7 - 3290 ngay trước khi xảy ra tai nạn.

- Dấu vết cày được ký hiệu 1, 2 trong sơ đồ hiện trường do vật cứng có cạnh va chạm với mặt đường nhưng không xác định được vật cụ thể tạo ra dấu vết.

- Không xác định được vị trí va chạm giữa xe ôtô BKS 30F-213.65 với xe môtô BKS 29L7 - 3290 trên mặt đường tại hiện trường.

Kỹ thuật an toàn phương tiện:

Xe ôtô BKS 30F-213.65: Hệ thống tay lái tác dụng, bánh căng hơi, có gương chiếu hậu, hệ thống phanh, còi, đèn, xi nhan trước sau, phải trái và đèn cảnh báo tác dụng.

Xe môtô biển số 29L7 - 3290: Có gương chiếu hậu bên phải, bánh đầy hơi hệ thống phanh, còi, đèn, xi nhan tác dụng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ trưng cầu Trung tâm P giám định pháp y tử thi Trần Thị H1. Kết luận giám định Pháp y tử thi số 693/GĐTT-TTPY ngày 22/6/2023 của Trung tâm P, kết luận:

- Các kết quả chính: Kết quả khám nghiệm:

  • - Các vết: Sây sát, sưng nề da vùng chẩm phải; sây sát da trán trái trên đuôi lông mày trái; sây sát, bầm tím da má phải; sây sát, bầm tím da vùng bụng và cánh chậu hai bên; bầm tím, trợt da mất thượng bì mặt sau cánh tay phải; sây sát da mặt sau cổ tay phải; biến dạng 1/3 dưới cánh tay phải; sây sát, bầm tím da mặt sau khuỷu tay trái; bầm tím da mặt trước gối phải; bầm tím da 1/3 giữa mặt trong cẳng chân phải; sây sát, bầm tím da mặt trước trong cổ chân; sây sát, bầm tím da mặt mu ngón I, II chân phải; bầm tím da mặt sau 1/3 trên đùi trái: Nhiều khả năng do va chạm vào vật tày gây nên.
  • - Các vết: Rách da, lóc da mặt sau cổ chân phải; đứt rời 2/3 dưới cẳng chân trái; rách da, lóc da, dập gân cơ và lộ xương cẳng chân trái: Nhiều khả năng do va chạm, lê quệt với vật tày gây nên.

Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Kết luận giám định độc chất: Mẫu máu của nạn nhân Trần Thị H1 giám định: Không tìm thấy E.

Kết luận nguyên nhân chết: Do không mổ tử thi nên không kết luận được nguyên nhân chết.

Căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Bản ảnh hiện trường, kết quả khám nghiệm các dấu vết phương tiện liên quan, lời khai của bị cáo, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan..., cùng với các tài liệu điều tra thu thập được cho thấy có đủ cơ sở để xác định: Bùi Văn D điều khiển xe ôtô không chú ý quan sát gây tai nạn giao thông, vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ. Nạn nhân Trần Thị H1 điều khiển cho xe môtô chuyển hướng không chú ý quan sát gây trở ngại cho người và phương tiện khác, vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ.

Đối với xe ôtô BKS 30F-213.65 đăng ký mang tên Lưu Văn S, địa chỉ: thôn K, xã V, huyện M, Hà Nội. Năm 2018, anh S mua chiếc xe ôtô trên và ký hợp đồng với Công ty Cổ phần V1 để hành nghề lái xe Taxi 123. Ngày 05/5/2023, anh S bán xe ôtô trên cùng hợp đồng vận tải cho Bùi Văn D với giá 259.000.000 đồng nên ngày 09/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ đã xử lý vật chứng trao trả cho Bùi Văn D.

Đối với xe môtô KBS 29L7 - 3290 mang tên Trần Văn G là bố đẻ của nạn nhân Trần Thị H1. Năm 2022, ông G cho chị H1 chiếc xe môtô KBS 29L7 - 3290. Ngày 09/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ đã xử lý vật chứng trao trả cho anh Nguyễn Thạch H2 (chồng chị H1).

Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C của Bùi Văn D và 01 thẻ nhớ tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

Về dân sự: Công ty Cổ phần V1 và Bùi Văn D hỗ trợ gia đình nhà nạn nhân Trần Thị H1 số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Gia đình chị H1 nhận tiền, xin tự chịu về thiệt hại của xe môtô KBS 29L7 - 3290 và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Bùi Văn D. Bùi Văn D xin tự chịu thiệt hại đối với xe ô tô BKS 30F-213.65.

Về trách nhiệm bảo hiểm xe: Xe ôtô BKS 30F- 213.65 có tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe, phần bảo hiểm Bùi Văn D không đề nghị cơ quan pháp luật giải quyết.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HS-ST ngày 03/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã quyết định:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt: B (Mười lăm) tháng tù về "Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, Bản án còn quyết định về án phí, quyền được kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/01/2024, bị cáo Bùi Văn D kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quy kết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi xem xét kháng cáo của bị cáo, đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn D. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn D 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Văn D trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên có căn cứ xác định: Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 23/5/2023, Bùi Văn D điều khiển xe ôtô BKS 30F-213.65 lưu thông trên đường T hướng K đi cầu Đông Trù đến khoảng mở đoạn Km6+400 thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội do không chú ý quan sát dẫn đến va chạm với xe môtô BKS 29L7 - 3290 do chị Trần Thị H1 điều khiển đang sang đường. Hậu quả, chị Trần Thị H1 đã tử vong. Vì vậy, án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, gây hậu quả chết người, nên án sơ thẩm đã áp dụng áp dụng hình phạt tù là phù hợp. Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tích cực khắc phục hậu quả của vụ án, để đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự, là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo còn xuất trình thêm tài liệu thể hiện gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị cáo đang là người thờ cúng liệt sĩ, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn; ngoài ra bị hại cũng có một phần lỗi, là các tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn D, cho bị cáo được hưởng hưởng án treo để cải tạo ngoài xã hội cũng đủ giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Về án phí: Do được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn D; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HS-ST ngày 03/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội về một phần hình phạt đối với bị cáo. Cụ thể:

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Bùi Văn D: 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Bùi Văn D cho UBND xã M, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án treo.

- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Bùi Văn D không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - TAND, VKSND, Công an, Chi cục THADS huyện Đông Anh;
  • - Người kháng cáo;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 460/2024/HS-PT ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 460/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn D phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger