Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 460/2025/HS-ST

Ngày: 04-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Quang Chính
  2. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Nam - Kiểm sát viên

Trong ngày 28 tháng 11 và ngày 04 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 410/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 498/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Trần Hoàng T, sinh ngày 03 tháng 9 năm 1999, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 287 Quốc lộ A, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh); Nơi cư trú: 287 Quốc lộ A, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1968 và bà Trần Tuyết T1, sinh năm 1976; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2025 và có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Vũ H, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1994, tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 1, ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai); Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1969 và bà Phạm Thị Bạch T2, sinh năm 1973; Vợ Trương Thị Mộng Q, sinh năm 1994, chưa có con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2025 và có mặt tại phiên tòa.

3. Lê Thanh V, sinh ngày 09 tháng 5 năm 1994, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 5 Đường A, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh); Nơi cư trú: 5 Đường A, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thanh S, sinh năm 1970 và bà Tô Thị L, sinh năm 1969; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2025 và có mặt tại phiên tòa.

4. Phạm Minh T3, sinh ngày 02 tháng 01 năm 1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 299/2/1 Quốc lộ A, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh); Nơi cư trú: 299/2/1 Quốc lộ A, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn S1, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1967; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2025 và có mặt tại phiên tòa.

5. Nguyễn Văn P, sinh ngày 15 tháng 9 năm 1992, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 305/5 Quốc lộ A, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh); Nơi cư trú: 305/5 Quốc lộ A, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L1 (chết) và bà Trần Thị H1, sinh năm 1967; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 21/02/2019, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Quyết định số 45/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 13/5/2020. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2025 và có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 01 giờ 00 phút, ngày 01/03/2025, Công an phường H (nay là Công an phường H), Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra đến trước địa chỉ số E Đường A, Khu phố C, phường H, thành phố T (nay là phường H), Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Trần Hoàng T, Lê Thanh V, Nguyễn Vũ H đang ngồi tại bàn ghế đá trước địa chỉ trên có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, Cơ quan Công an phát hiện trong túi quần trước bên phải của Trần Hoàng T đang mặc có một gói thuốc lá hiệu Jet, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 khẩu trang bên trong có 01 bật lửa gas; 01 ống hút nhựa một đầu cắt nhọn, một đầu hàn kín; 02 nắp chai nhựa; 08 gói nylon rỗng không chứa gì; dưới gầm bàn đá có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý. Cơ quan Công an đã thu giữ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở Công an phường làm việc.

Tại Cơ quan Công an Trần Hoàng T, Lê Thanh V, Nguyễn Vũ H khai nhận: T, V và H là bạn quen biết với nhau từ trước. Vào tối ngày 28/02/2025, H cùng với mấy người bạn nhậu gần nhà T, do không thấy V đâu nên H mới nhắn tin thông qua ứng dụng messenger cho V để rủ V đến nhậu. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, T, V có đến chỗ H nhưng không nhậu. Lúc này, H mới rủ V mua ma tuý về sử dụng thì V đồng ý. Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 01/03/2025, V gọi cho Phạm Minh T3 qua ứng dụng messenger của T3 tên “Nỗi buồn thất vọng” đặt mua 200.000 đồng ma tuý, T3 đồng ý bán cho V và V nói với T3 là chút nữa T đến lấy (T với T3 có quen biết nhau trước đó). Sau khi đặt mua ma tuý xong, V rủ T mua ma tuý về sử dụng, thì T đồng ý, V nói H đưa cho T số tiền 200.000 đồng để T đến nhà T3 lấy ma tuý về cả 03 cùng sử dụng. H đồng ý và H đưa T số tiền 200.000 đồng để đi mua ma tuý, T đi bộ đến nhà T3, lúc này T3 đang đứng ở ban công lầu 1, T3 quăng xuống dưới cho T 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet bên trong có chứa 01 gói ma tuý đá, T3 nói T nhét tiền vào khe cửa cho T3. Sau khi mua được ma tuý, T bỏ vỏ bao thuốc lá Jet bên trong có gói ma tuý vào túi quần bên phải phía trước rồi đi về nhà lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, sau đó nhắn tin cho Vũ qua chở đến địa chỉ số E Đường số A, phường H, thành phố T (nay là phường H), Thành phố Hồ Chí Minh. Khi V và T đến thì H đã chờ sẵn tại khu vực bàn ghế đá trước địa chỉ số E Đường số A, phường H, thành phố T (nay là phường H), Thành phố Hồ Chí Minh, T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý để xuống gầm bàn để chuẩn bị sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì Công an phường H bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.

Qua truy xét, Cơ quan Công an đã đưa Phạm Minh T3 và Nguyễn Văn P là người có liên quan về làm việc. T3 và P khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên T3 đã rủ P mua ma tuý về để sử dụng thì được P đồng ý. T3 và P đã hùn tiền với nhau để mua ma tuý sử dụng 02 lần, cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào ngày 23/02/2025, Nguyễn Văn P chuyển khoản số tiền 1.000.000 đồng vào tài khoản momo của Phạm Minh T3, đến khoảng gần 18 giờ 00 phút cùng ngày, T3 nói P chở đi mua ma tuý, thì P đồng ý. P chở T3 đến bờ kè gần đường Đ, thì T3 đi bộ xuống gầm cầu gặp một người thanh niên tên “Lâm Tú” (không rõ nhân thân, lai lịch) để nhận ma tuý. Sau khi mua được ma tuý, P chở T3 về nhà của T3 tại địa chỉ số B Quốc lộ A, Khu phố C, phường H (nay là phường H), Thành phố Hồ Chí Minh và cả 02 cùng nhau sử dụng chung ma túy. Khi P và T3 đang sử dụng ma tuý thì có Lê Thanh V đến, V đưa cho T3 số tiền 100.000 đồng góp vào để sử dụng ma tuý. Sau đó, cả 03 cùng nhau ngồi sử dụng chung ma tuý. Hút ma túy xong, V ra về. Đến tối, T3 lấy một ít ma tuý bỏ riêng ra 01 gói nylon nhỏ để bán cho Trần Hoàng T với số tiền 100.000 đồng (số ma tuý bán cho T, trước khi bán T3 có nói với P và được P đồng ý). Khi mua ma tuý về, T sử dụng một mình cho đến hết. Số ma tuý còn lại của P và T3 thì cả 02 đã cùng nhau sử dụng cho đến hết.

Lần thứ hai: Vào ngày 28/02/2025, Nguyễn Văn P rủ Phạm Minh T3 mua ma tuý về sử dụng, thì T3 đồng ý. P liên hệ với người thanh niên tên “Bo” (không rõ nhân thân, lai lịch) qua messenger có tên là “C bé hay chuu” để mua ma tuý với giá 800.000 đồng. “Bo” hẹn P đến hẻm S, đường T, phường H, thành phố T (nay là phường H), Thành phố Hồ Chí Minh để giao dịch. P đi một mình đến để gặp “Bo” nhận ma túy, khi nhận ma túy P trả cho “Bo” số tiền 800.000 đồng bằng tiền mặt. P mang gói ma túy về nhà T3 tại địa chỉ số B Quốc lộ A, Khu phố C, phường H (nay là phường H), Thành phố Hồ Chí Minh để cùng nhau sử dụng. P nói cho T3 biết mua gói ma túy hết số tiền 800.000 đồng. Khi P và T3 đang sử dụng ma túy thì V đến và cả 03 cùng nhau sử dụng ma túy. V đưa cho T3 số tiền 150.000 đồng để hùn tiền sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng xong, V đi về thì P và T3 tiếp tục sử dụng chung ma túy. Đến khoảng hơn 00 giờ 15 phút, ngày 01/03/2025, V gọi cho T3 hỏi mua ma túy, thì T3 đồng ý bán. T3 lấy ma túy bỏ vào 01 túi nylon nhỏ, sau đó T3 nói với P biết là V mua ma túy với số tiền 200.000 đồng, thì P đồng ý. Số ma túy còn lại, P đã lấy một ít bỏ vào túi nylon nhỏ và tháo nỏ thủy tinh trong bình sử dụng ma tuý mang về nhà để sử dụng. Gói ma tuý còn lại, P bỏ vào hộp giấy rồi để vào ngăn kéo bàn gỗ trong phòng ngủ của T3. P mang gói ma tuý và ống thuỷ tinh về nhà của P sử dụng một mình. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày Công an phương H (nay là Công an phường H) đến mời P về làm việc thì P tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an 01 ống thuỷ tinh dính tinh thể ma túy.

Quá trình điều tra, Trần Hoàng T, Lê Thanh V, Phạm Minh T3, Nguyễn Vũ H, Nguyễn Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kết quả xét nghiệm: Nguyễn Văn P dương tính với ma tuý loại Methamphetamine, MDMA; Phạm Minh T3, Lê Thanh V dương tính với ma tuý loại Methamphetamine; Trần Hoàng T, Nguyễn Vũ H âm tính với ma tuý.

Kết luận giám định số: 3376/KL-KTHS ngày 05 tháng 03 năm 2025 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu thu giữ của Trần Hoàng T ký hiệu m1 là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,1762gam, loại Methamphetamine; 01 ống thuỷ tinh (nỏ) chứa tinh thể không màu do Nguyễn Văn P tự nguyện giao nộp ký hiệu m2 là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,1187gam, loại Methamphetamine.

Kết luận giám định số: 3377/KL-KTHS ngày 05 tháng 03 năm 2025 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, khi khám xét chỗ ở của Phạm Minh T3 ký hiệu m là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,2500gam, loại Methamphetamine.

Thu giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:

01 điện thoại di động Iphone Xsmax màu vàng đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0909975830 (của Nguyễn Vũ H);

01 điện thoại di động Samsung A30s màu xanh đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0369789835 (của Lê Thanh V);

01 điện thoại di động Samsung A10s màu xanh đã qua sử dụng, bên trong không gắn sim (của Nguyễn Văn P);

01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0946544066, 0936295205 (của Phạm Minh T3);

01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0914219261 (của Trần Hoàng T);

01 khẩu trang bên trong có 01 bật lửa gas; 01 ống hút nhựa một đầu cắt vát, một đầu hàn kín; 02 nắp chai nhựa; 08 gói nylon rỗng không chứa gì, 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa, 01 ống thuỷ tinh (thu giữ của Trần Hoàng T).

01 bộ dụng cụ để sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa có gắn nắp chai, trên nắp chai có gắn 01 đoạn ống hút nhựa (do Phạm Minh T3 giao nộp);

01 hộp giấy, 02 gói nylon rỗng, 01 đoạn ống hút cắt nhọn 01 đầu, 01 nắp chai nhựa có gắn 01 ống thuỷ tinh và 01 ống hút nhựa (khám xét chỗ ở của Phạm Minh T3);

02 gói niêm phong ghi vụ: 1277/25 (gói 1, gói 2) bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định.

01 gói niêm phong ghi vụ: 1228/25 bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi sử dụng phục vụ giám định.

Tất cả tài sản, đồ vật có liên quan đến vụ án đã chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2, Thành phố Hồ Chí Minh bảo quản theo quy định.

Cáo trạng số: 46/CT-VKSKV2 ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Trần Hoàng T và Nguyễn Vũ H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Lê Thanh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Phạm Minh T3 và Nguyễn Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Trần Hoàng T, Nguyễn Vũ H, Lê Thanh V, Phạm Minh T3 và Nguyễn Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên Quyết định truy tố đối với các bị cáo: Trần Hoàng T, Nguyễn Vũ H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Lê Thanh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Phạm Minh T3, Nguyễn Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt các bị cáo Trần Hoàng T, Nguyễn Vũ H từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Lê Thanh V từ 02 năm 06 tù đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là từ 10 năm 06 tháng tù đến 11 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt các bị cáo Phạm Minh T3, Nguyễn Văn P từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của ba tội là từ 19 năm tù đến 20 năm 06 tháng tù.

Phạt bổ sung các bị cáo Phạm Minh T3, Nguyễn Văn P, mỗi bị cáo 20.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

Buộc các bị cáo Phạm Minh T3, Nguyễn Văn P phải nộp số tiền thu lợi bất chính, mỗi bị cáo là 150.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Vật chứng vụ án, đề nghị:

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone Xsmax màu vàng đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0909975830; 01 điện thoại di động Samsung A30s màu xanh đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0369789835; 01 điện thoại di động Samsung A10s màu xanh đã qua sử dụng, bên trong không gắn sim; 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0946544066, 0936295205; 01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0914219261.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 khẩu trang bên trong có 01 bật lửa gas; 01 ống hút nhựa một đầu cắt vát, một đầu hàn kín; 02 nắp chai nhựa; 08 gói nylon rỗng không chứa gì, 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa, 01 ống thuỷ tinh; 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa có gắn nắp chai, trên nắp chai có gắn 01 đoạn ống hút nhựa; 01 hộp giấy, 02 gói nylon rỗng, 01 đoạn ống hút cắt nhọn 01 đầu, 01 nắp chai nhựa có gắn 01 ống thuỷ tinh và 01 ống hút nhựa; 02 gói niêm phong ghi vụ: 1277/25 (gói 1, gói 2) bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định; 01 gói niêm phong ghi vụ: 1228/25 bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi sử dụng phục vụ giám định.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thấy được hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Hoàng T, Nguyễn Vũ H, Lê Thanh V, Phạm Minh T3 và Nguyễn Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo là khách quan, phù hợp với Biên bản ghi lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra; Bản tự khai của các bị cáo; Tang vật thu giữ; Kết luận giám định và các tang vật, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở xác định:

[3] Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 23/02/2025, tại nhà của Phạm Minh T3, địa chỉ số B Quốc lộ A, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh) Phạm Minh T3 cùng với Nguyễn Văn P và Lê Thanh V cùng nhau hùn tiền mua ma túy loại Methamphetamine về cùng nhau sử dụng chung. Sau đó, T3 và P đã bán 01 gói ma túy cho Trần Hoàng T với số tiền 100.000 đồng.

[4] Vào tối ngày 28/02/2025, tại nhà của Phạm Minh T3, địa chỉ số B Quốc lộ A, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh), Phạm Minh T3 cùng Nguyễn Văn P và Lê Thanh V cùng nhau hùn tiền mua ma tuý về sử dụng chung. Đến khoảng 00 giờ 15 phút, ngày 01/03/2025, T3 và P bán 01 gói ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,1762gam cho Lê Thanh V với số tiền 200.000 đồng nhưng Trần Hoàng T là người nhận ma túy cho V.

[5] Sau khi mua gói ma túy có khối lượng 0,1762gam, Trần Hoàng T đem đến khu vực bàn ghế đá trước địa chỉ số E Đường số A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh) để cùng sử dụng chung với Lê Thanh V và Nguyễn Vũ H (T, H và V hùn tiền với nhau). Tuy nhiên, cả 3 chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.

[6] Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Văn P khối lượng 0,1187gam ma túy, loại Methamphetamine và Phạm Minh T3 khối lượng 0,2500gam ma túy, loại Methamphetamine mà cả 2 cất giấu để sử dụng.

[7] Hành vi của Trần Hoàng T và Nguyễn Vũ H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[8] Hành vi của Lê Thanh V đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[9] Hành vi của Phạm Minh T3 và Nguyễn Văn P đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[10] Lời khai của các bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với các bị cáo. Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh đối với các bị cáo Trần Hoàng T, Nguyễn Vũ H, Lê Thanh V, Phạm Minh T3 và Nguyễn Văn P là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[11] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý đối với chất ma túy, để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng cũng như là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái nhưng vẫn cố tình thực hiện. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình gây ra. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xét, trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.

[12] Quá trình mua bán ma túy: Phạm Minh T3 và Nguyễn Văn P, mỗi bị cáo hưởng lợi 150.000 đồng. Đây là tiền thu lợi bất chính nên truy thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[13] Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Phạm Minh T3 và Nguyễn Văn P.

[14] Về xử lý vật chứng:

[14.1] 02 gói niêm phong ghi vụ: 1277/25 (gói 1, gói 2) bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định; 01 gói niêm phong ghi vụ: 1228/25 bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi sử dụng phục vụ giám định; 01 khẩu trang bên trong có 01 bật lửa gas; 01 ống hút nhựa một đầu cắt vát, một đầu hàn kín; 02 nắp chai nhựa; 08 gói nylon rỗng không chứa gì, 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa, 01 ống thuỷ tinh; 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa có gắn nắp chai, trên nắp chai có gắn 01 đoạn ống hút nhựa; 01 hộp giấy, 02 gói nylon rỗng, 01 đoạn ống hút cắt nhọn 01 đầu, 01 nắp chai nhựa có gắn 01 ống thuỷ tinh và 01 ống hút nhựa. Đây là chất ma tuý mà Nhà nước cấm tàng trữ và vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[14.2] 01 điện thoại di động Iphone Xsmax màu vàng đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0909975830 (của Nguyễn Vũ H); 01 điện thoại di động Samsung A30s màu xanh đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0369789835 (của Lê Thanh V); 01 điện thoại di động Samsung A10s màu xanh đã qua sử dụng, bên trong không gắn sim (của Nguyễn Văn P); 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0946544066, 0936295205 (của Phạm Minh T3); 01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0914219261 (của Trần Hoàng T). Đây là các công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[15] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố các bị cáo Trần Hoàng T, Nguyễn Vũ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Trần Hoàng T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2025.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2025.

  2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Lê Thanh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Lê Thanh V 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2025.

  3. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố các bị cáo Phạm Minh T3, Nguyễn Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Phạm Minh T3 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của ba tội là 18 (mười tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2025.

    Phạt bổ sung bị cáo Phạm Minh T3 số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của ba tội là 18 (mười tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2025.

    Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn P số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

  4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone Xsmax màu vàng đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0909975830; 01 điện thoại di động Samsung A30s màu xanh đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0369789835; 01 điện thoại di động cảm ứng màu xanh đã qua sử dụng, bên trong không gắn sim; 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0946544066, 0936295205; 01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0914219261.

    Tịch thu, tiêu hủy: 02 gói niêm phong ghi vụ: 1277/25 (gói 1, gói 2) bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định; 01 gói niêm phong ghi vụ: 1228/25 bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi sử dụng phục vụ giám định; 01 khẩu trang bên trong có 01 bật lửa gas; 01 ống hút nhựa một đầu cắt vát, một đầu hàn kín; 02 nắp chai nhựa; 08 gói nylon rỗng không chứa gì, 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa, 01 ống thuỷ tinh; 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa có gắn nắp chai, trên nắp chai có gắn 01 đoạn ống hút nhựa; 01 hộp giấy, 02 gói nylon rỗng, 01 đoạn ống hút cắt nhọn 01 đầu, 01 nắp chai nhựa có gắn 01 ống thuỷ tinh và 01 ống hút nhựa.

    (theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 020/BB2/26 ngày 13/10/2025, bên giao Công an Thành phố H, bên nhận Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2, Thành phố Hồ Chí Minh).

    Bị cáo Phạm Minh T3 phải nộp số tiền thu lợi bất chính là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

    Bị cáo Nguyễn Văn P phải nộp số tiền thu lợi bất chính là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

  5. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo Trần Hoàng T, Nguyễn Vũ H, Lê Thanh V, Phạm Minh T3 và Nguyễn Văn P, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND khu vực 2-TP. HCM;
  • - Công an TP. HCM;
  • - Phòng THADS khu vực 2, TP. HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 460/2025/HS-ST ngày 04/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ, mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 460/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ, mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRần Hoàng T cùng đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger